BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÁO CHÍ KIÊN GIANG VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN ĐẢO HIỆN NAY
Ngành
: Báo chí học
Mã số
: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.
CẦN THƠ - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi; các số liệu nêu trong luận văn là trung thực;
những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO
43
2.1. Thực trạng tình hình chính trị- xã hội - kinh tế và kinh tế biển
đảo của tỉnh Kiên Giang
2.2. Giới thiệu các tờ báo khảo sát
2.3. Khái quát việc phát triển kinh tế biển đảo của Báo chí Kiên
43
45
Giang
2.4. Những thành công và hạn chế
2.5. Nguyên nhân thành công và hạn chế
50
64
69
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CỦA BÁO CHÍ KIÊN GIANG
3.1. Những vấn đề đặt ra
3.2. Một số giải pháp chủ yếu
3.3. Một số kiến nghị
74
74
75
PTV
:
Phát thanh viên
UBND
:
HĐND
:
TTĐT
:
CNH-HĐH :
TTCN
:
Ủy ban Nhân dân
Hội đồng Nhân dân
Thông tin điện tử
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Tiểu thủ công nghiệp
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang
44
Hình 2.1:
57
58
59
59
60
61
Biểu đồ 2.1:
Biểu đồ 2.2:
Biểu đồ 2.3:
Biểu đồ 2.4:
Thể hiện thông tin được phản ánh kịp thời, nhanh chóng
Chất lượng nội dung và hình thức của các tin bài
Báo chí Kiên Giang đáp ứng nhu cầu công chúng
Tồn đọng một số chuyên mục chưa phong phú, hấp dẫn
64
65
66
67
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, Đảng ta đã quan tâm nhiều vào sự phát triển
vùng biển, hải đảo và đã xác định tầm quan trọng có tính chiến lược của việc
phát triển kinh tế biển, nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hấp dẫn công chúng, dung lượng, thời lượng chưa phù hợp…
Với tính cấp thiết đó, tác giả chọn đề tài: “Báo chí Kiên Giang với việc
phát triển kinh tế biển đảo hiện nay” làm đề tài nghiên cứu và mong muốn
thông qua luận văn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc thông tin
về phát triển kinh tế biển đảo của báo chí Kiên Giang.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả và
đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, với những hình thức thể hiện khác nhau
được đăng tải trên sách, báo, tạp chí từ trung ương đến địa phương có nội
dung liên quan đến đề tài. Đó là nguồn tư liệu quý báu giúp tác giả tham
khảo, kế thừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận
văn của mình như: “Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh ven
biển Việt Nam” của Đỗ Hoài Nam (năm 2003); ); tác phẩm “Biển và hải
đảo Việt Nam” của Trung tâm công tác tư tưởng phối hợp với Cục Chính trị
Quân chủng Hải quân (xuất bản năm 2007); Những điều cần biết về Luật
biển của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao) Nghị quyết số 09/2007 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 và Chương trình Định hướng chiến lược phát triển kinh tế biển Kiên
Giang đến năm 2020.
- Luận văn về đề tài “Tuyên truyền phát triển kinh tế biển của các kênh
truyền hình khu vực Bắc Trung Bộ” của Bùi Ngọc Toàn, bảo vệ năm 2013 tại
Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đây là công trình nghiên cứu có những
vấn đề liên quan đến đề tài của tác giả. Đó là vấn đề kinh tế biển và vai trò
3
của báo chí trong việc tuyên truyền phát triển kinh tế biển. Tác giả luận văn
đã tham khảo được nhiều kiến thức bổ ích trong quá trình triển khai thực hiện
đề tài. Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả Bùi Ngọc Toàn chỉ khảo sát một
số kênh truyền hình của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh chứ không
thông tin chuyên đề trên báo Lao Động” (luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị
Thu Huyền, bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2015). Những
công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của tác giả,
có một số nội dung tác giả có thể tham khảo.
Ngoài những công trình nghiên cứu có tính học thuật trên, trên các trang
báo cũng xuất hiện một số bài viết có liên quan đến đề tài và có giá trị tham khảo
tốt như chuyên luận “Báo chí với công tác thông tin, tuyên truyền về biển đảo Việt
Nam” của PGS, TS Dương Xuân Sơn; Báo Quân đội nhân dân điện tử với công
tác tuyên truyền biển, đảo Việt Nam (Báo Quân đội nhân dân); Tuyên truyền biển,
đảo Việt Nam - Một số vấn đề cần quan tâm của TS Trần Công Trực).
- Thực tế trong thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học đã
nghiên cứu, đặt ra những vấn đề rất cơ bản cả về biển đảo, đề ra những
phương hướng và giải pháp để phát triển kinh tế biển đảo. Tuy nhiên, do
giới hạn về mục tiêu, nhiêm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nên cho tới
nay chưa có công trình báo chí nào nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ, có
hệ thống và chuyên sâu về thực trạng cũng như nêu ra những giải pháp để
phát triển kinh tế biển đảo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay. Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài này góp phần vào việc phát triển kinh tế biển đảo trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Kiên Giang, từng bước nêu
cao tinh thần tự nguyện, tự giác tham gia bảo vệ biển đảo đất nước, góp
phần đưa vùng biển đảo của Tổ quốc phát triển vững mạnh, ổn định về chính
trị - kinh tế - văn hóa - xã hội.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Thông qua việc khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng của báo chí
Kiên Giang thông tin phát triển kinh tế biển đảo ; đánh giá thành công, hạn
chế ; phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài phối hợp sử dụng các nhóm phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nhằm mục đích tìm cơ sở cho việc
xây dựng hệ thống lý thuyêt về báo chí với vấn đề phát triển kinh tế biển đảo,
đồng thời kế thừa những kết quả nghiên cứu sẵn có làm cơ sở cho việc khảo
sát, đánh giá kết quả khảo sát, tìm ra các giải pháp khoa học cho vấn đề
nghiên cứu.
- Phương pháp khảo sát, thống kê: thống kê các chuyên trang, chuyên
mục, chương trình, số lượng tác phẩm, thể loại thể hiện...để làm cơ sở phân
tích, đánh giá.
- Phương pháp phân tích tác phẩm: Phân tích các tác phẩm dựa trên
tiêu chí của loại hình và thể loại để đưa ra những kết luận, đánh giá thành
công, hạn chế; phân tích nguyên nhân thành công, hạn chế...
- Phương pháp phỏng vấn sâu: sử dụng với mục tiêu nghiên cứu những
đánh giá của các chuyên gia, những người có trách nhiệm, am hiểu về vấn đề
nghiên cứu để bổ sung cho những nhận xét, đánh giá của bản thân tác giả. Đối
tượng được phỏng vấn chia làm 3 nhóm:
+ Nhóm 1: Nhà quản lý các cơ quan báo chí, những biên tập viên,
phóng viên chuyên trách mảng đề tài về kinh tế, kinh tế biển đảo.
+ Nhóm 2: Nhà lãnh đạo, quản lý của các cơ quan chức năng có liên
quan như Tỉnh ủy, UBND, lãnh đạo một số sở, ban, ngành.
7
+ Nhóm 3: Một số lãnh đạo doanh nghiệp, một số người tham gia hoạt
động kinh tế biển đảo.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: nhằm thu thập những đánh giá
về chất lượng, hiệu quả, những đề xuất, kiến nghị để tham khảo trong quá
trình triển khai đề tài. Đối tượng khảo sát ngẫu nhiên, không phân biệt giới
tính, trình độ, nghề nghiệp... Số phiếu phát ra 500 . Địa bàn phát phiếu là
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về báo chí và vấn đề phát triển
kinh tế biển đảo.
Chương 2: Thực trạng Báo chí Kiên Giang với việc phát triển kinh tế
biển đảo.
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu
quả của Báo chí Kiên Giang góp phần phát triển kinh tế biển đảo hiện nay
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Báo chí
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, “Báo chí ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu
đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ
quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân” [24].
Trong quyển sách “Báo chí và dư luận xã hội” (2011) của tác giả Nguyễn
Văn Dững có đề cập đến khái niệm báo chí: “Là hoạt động thông tin - giao tiếp
xã hội trên quy mô rộng lớn, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu
quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và
các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế” [11, tr.234].
Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/192521/6/2015), Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết “Phát huy
hơn nữa vai trò của báo chí trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất
nước” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ông đã đề cập đến khái niệm về
Báo chí:
Là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai
cấp. Báo chí cách mạng không chỉ là phương tiện thông tin thuần
túy, càng không phải là công cụ giải trí đơn thuần, mà nó có chức
là: “nghiên cứu về sự giàu có”
Tuy nhiên, như trong bài viết về “Kinh tế tri thức ở Việt Nam”, của GS
Hồ Tú Bảo, tạp chí Tia sáng đăng ngày 20-07-2010 có đưa ra quan điểm:
“Theo một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi, kinh tế là toàn bộ các hoạt
động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng
đồng hay một quốc gia” [6].
11
Trong xã hội hiện nay, khái niệm kinh tế vẫn chưa có một cách nhìn
thống nhất, hay là một chuẩn mực nhất định. Có thể hiểu một cách cơ bản
rằng, kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và
xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các
loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của
con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn.
Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan
đến sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Nói cách
khác, kinh tế có nghĩa là: “Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp,con
người và xã hội loài người tìm cách trả lời 3 câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản
xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?”
1.1.3. Phát triển
Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng thì “Phát triển là một
phạm trù triết học chỉ khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao,
từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật”. Nguồn gốc của sự phát
triển nằm ngay trong bản thân sự vật [28] Và đặc trưng của sự phát triển được
thể hiện như sau
- Thứ nhất, cái mới đó phải có cấu trúc đa dạng, phức tạp hơn.
- Thứ hai, cái mới đó phải có chức năng chuyên biệt hơn.
- Thứ ba, cái mới đó phải tăng cường được khả năng tự điều chỉnh để
tồn tại trong trạng thái cân bằng hệ thống.
các ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn
tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Nội dung này phản ánh chất
lượng tăng trưởng, trình độ kỹ thuật của nền sản xuất để có thể bảo đảm cho
sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự
tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế... mà mỗi người dân
được hưởng. Nội dung này phản ánh mặt công bằng xã hội của sự tăng
trưởng kinh tế.
13
Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể là:
+ Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số.
+ Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để
bảo đảm tăng trưởng bền vững.
+ Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, tạo điều kiện
cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hưởng thụ kết quả
của tăng trưởng kinh tế.
+ Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu
của con người và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái.
Như vậy, phát triển kinh tế có nội dung và ý nghĩa khá toàn diện, là
mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong mọi thời đại. Phát triển kinh tế
bao hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết và cơ
bản để giải quyết công bằng xã hội. Công bằng xã hội vừa là mục tiêu phấn
đấu của nhân loại, vừa là động lực quan trọng của sự phát triển. Mức độ công
bằng xã hội càng cao thì trình độ phát triển, trình độ văn minh của xã hội càng
có cơ sở bền vững.
Phát triển kinh tế biển, đảo gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt
Nam có ý nghĩa rất to lớn, nhất là trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới
ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xác định: “Thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá kinh tế biển hướng mạnh vào xuất khẩu, dựa trên những
tiến bộ khoa học, công nghệ làm động lực; vừa thúc đẩy nghiên cứu, quản
lý, khai thác tiềm năng biển có hiệu quả, vừa tái tạo tài nguyên biển, bảo vệ
môi trường, đào tạo nhân lực”; “… tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa
học biển, tìm kiếm thăm dò dầu khí, khoáng sản biển, nguồn lợi hải sản và
năng lượng biển, nghiên cứu và bảo vệ môi trường biển, tiếp tục hiện đại
hoá khí tượng - thuỷ văn”. Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, một loạt kế
hoạch về phát triển kinh tế biển đã được thông qua như: Chiến lược phát triển
15
thuỷ sản 2010; Chiến lược phát triển du lịch 2010; Chiến lược phát triển giao
thông vận tải 2010…
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) khẳng định mục tiêu:
Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế
mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa. Tăng cường điều
tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
biển. Đẩy mạnh công tác nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản;
thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; phát triển đóng tàu thuyền
và vận tải biển; mở mang du lịch; bảo vệ môi trường; tiến mạnh ra
biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven
biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo
thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ
hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát
triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển [13].
Những nội dung nêu trên tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng lần
thứ X (năm 2006).
Những quan điểm, biện pháp nêu trên tiếp tục nhấn mạnh chủ trương
tiềm năng và lợi thế của từng đảo [15].
Những chủ trương, biện pháp nêu trên từng bước được cụ thể hóa trong
các lĩnh vực kinh tế biển. Nhờ đó, các lĩnh vực kinh tế biển nước ta đã có
bước chuyển biến đáng kể và đạt được những kết quả quan trọng.
1.2.2. Quan điểm, định hướng các chương trình phát triển kinh tế biển
đảo của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Kiên Giang
1.2.2.1. Bối cảnh và dự báo
Những năm tới đây tình hình thế giới và khu vực có thể diễn biến
phức tạp, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá ta trên các mặt kinh tế-xã hội
cũng như an ninh - quốc phòng. Nước ta là thành viên của Tổ chức Thương
mại thế giới, của các nước APEC và Hiệp hội các nước Đông Nam Á, là thời
cơ lẫn khó khăn, thách thức cho đất nước ta trong giai đoạn mới. Đặc biệt,
tỉnh ta thuộc khu vực biển Tây là khu vực năng động có tiềm năng phát triển
kinh tế rất lớn.
17
Tỉnh Kiên Giang có tiềm năng kinh tế biển, hải đảo và ven biển rất
phong phú, bao gồm 9 huyện, thị, thành phố là Phú Quốc, Kiên Hải và phần ven
biển của các huyện An Minh, An Biên, Châu Thành, Rạch Giá, Hòn Đất, Kiên
Lương và Hà Tiên; có khả năng phát triển mạnh các ngành thủy sản, khai thác
khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, đóng tàu; là cửa ngõ giao thương kinh tế
trong và ngoài nước, với hai khu kinh tế cửa khẩu Dương Đông-Hà Tiên và
nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng là lợi thế lớn về thương mại - dịch vụ - du
lịch. Chính phủ đã xác định Kiên Giang là địa bàn trọng điểm về bảo vệ an ninh
biên giới vùng biển, là một trong năm vùng trọng điểm du lịch. Đặc biệt đảo Phú
Quốc được định hướng phát triển thành trung tâm du lịch sinh thái và trung tâm
giao thương quốc tế. Kiên Giang thực sự đang thu hút nhiều sự quan tâm của các
nhà đầu tư trong và ngoài nước. Dự báo từ nay đến năm 2020, sẽ có nhiều nhà
đầu tư tham gia đầu tư vào địa bàn tỉnh, nhất là đối với đảo Phú Quốc, Kiên
hợp tác ngoài tỉnh, quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài tập trung
vào đầu tư phát triển kinh tế biển.
1.2.3. Mục tiêu phát triển
- Mục tiêu tổng quát: Phấn đấu đến năm 2020 đưa tỉnh ta trở thành tỉnh
mạnh về biển so với các tỉnh trong khu vực, hoàn chỉnh cơ bản hạ tầng kinh tế
biển, phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế-xã hội, tăng cường quốc phòng
an ninh đảm bảo vững chắc chủ quyền quốc gia vùng biển, đảo.
- Mục tiêu cụ thể: Phấn đấu đến năm 2010, năm 2015 và năm 2020, GDP
kinh tế biển, ven biển, hải đảo chiếm 75%, 78% và 80% tổng GDP của cả tỉnh.
Thu nhập bình quân đầu người trong vùng cao gấp 2 lần so với mức thu nhập
bình quân chung của tỉnh. Xây dựng Phú Quốc thành trung tâm kinh tế lớn của
vùng hướng mạnh ra biển. Đến năm 2020, cơ bản xây dựng Phú Quốc thành
trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao và trung tâm giao thương quốc tế.
1.2.4. Định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Tranh thủ Trung ương và hợp tác quốc tế đẩy mạnh công tác điều tra
cơ bản, nghiên cứu về tài nguyên biển, kể cả dưới lòng biển để bổ sung, hoàn
19
chỉnh quy hoạch, có kế hoạch tổ chức khai thác hợp lý, có cơ cấu ngành nghề
phù hợp nhằm khai thác tài nguyên biển có hiệu quả và lâu dài gắn với bảo vệ
môi trường biển. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ven biển, hải đảo gắn với
phát triển mạnh các ngành có lợi thế như thương mại, dịch vụ, du lịch; công
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp đóng tàu, khai thác nuôi trồng
chế biến thủy sản, gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế, hệ thống đô thị ven
biển, hải đảo. Tăng cường khả năng quốc phòng an ninh; nâng cao đời sống
nhân dân ven biển, hải đảo; đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước và quan hệ
quốc tế về biển, đảo.
Đến năm 2010 cơ cấu kinh tế biển, ven biển là công nghiệp, xây dựngdịch vụ-nông, lâm, thủy sản.
Năm 2015, tập trung đầu tư, tạo sự phát triển có bước đột phá về kinh
hàng hóa, hành khách. Đẩy mạnh phát triển vận tải biển tuyến Rạch Giá-Phú
Quốc, Hà tiên-Phú Quốc, Rạch Giá-thành phố Hồ Chí Minh và Rạch GiáCampuchia, Thái Lan bằng phương tiện cao tốc hiện đại-an toàn. Khuyến
khích phát triển dịch vụ hàng hải từ Kiên Giang đến các nước trong khu vực.
Phát triển nhanh vận tải hàng không, mở mới các tuyến bay từ Rạch Giá đi
các tỉnh, thành phố trong nước, mở các tuyến bay từ Phú Quốc đi quốc tế.
Phát triển các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính
viễn thông, khoa học kỹ thuật... hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế - xã hội,
nâng cao dân trí và mức sống dân cư, đảm bảo đủ điều kiện thực hiện các mục
tiêu phát triển, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế của tỉnh.
- Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu tương xứng tiềm năng và lợi thế của
tỉnh, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Tích cực tìm kiếm, mở
rộng thị trường xuất khẩu, đi đôi với coi trọng thị trường nội địa. Có kế hoạch
liên doanh, liên kết trong nước và với nước ngoài để mở rộng thị trường, xây
dựng thương hiệu sản phẩm. Khai thác, phát huy lợi thế thương mại, dịch vụ
các khu kinh tế cửa khẩu. Quy hoạch xây dựng hoàn chỉnh hệ thống chợ,
trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh. Phát triển thương mại-dịch vụ nông