ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
HÀ THỊ BÍCH THỦY
BÁO IN MẶT TRẬN VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG
TRÍ THỨC THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
(GIAI ĐOẠN 2010-2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
HÀ THỊ BÍCH THỦY
BÁO IN MẶT TRẬN VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG
TRÍ THỨC THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
(GIAI ĐOẠN 2010-2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
MỤC LỤC ...................................................................................................................1
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................................7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................9
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu .........................................................11
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ..............................................................13
7. Kết cấu luận văn ................................................................................................14
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI ..................................................15
1.1 Trí thức với phát triển kinh tế - xã hội ..........................................................15
1.1.1 Trí thức là gì ............................................................................................15
1.1.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước về đội ngũ trí thức ..........................22
1.2. Báo chí với đội ngũ trí thức ............................................................................28
1.2.1 Tuyên truyền về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với trí thức..........28
1.2.2 Tun truyền về vai trị của trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội .....30
Chƣơng 2: TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO IN MẶT TRẬN VỀ VẬN ĐỘNG
TRÍ THỨC THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN
2010-2014..................................................................................................................33
2.1 Khảo sát báo Đại đoàn kết ...............................................................................33
2.1.1 Lịch sử phát triển của Báo Đại đoàn kết.................................................33
2.1.2 Khảo sát trên báo Đại đồn kết...............................................................39
2.2 Khảo sát trên Tạp chí Mặt trận ........................................................................44
2.2.1 Lịch sử phát triển Tạp chí Mặt trận ........................................................44
2.2.3 Đánh giá nhận xét ...................................................................................53
2.3 Một số nhận xét chất lượng của Báo in Mặt trận .............................................57
2.3.1 Ưu điểm: ..................................................................................................57
1
Đại đoàn kết:
ĐĐK
3.
Mặt trận:
MT
4.
Nhà nước:
NN
5.
Kinh tế - xã hội:
KTXH
6.
Tạp chí:
TC
7.
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 2.1: Thống kê số lượng tin bài tuyên truyền (từ năm 2010 đến năm 2014) ....39
Bảng 2.2: Thống kê số lượng tin bài tuyên truyền (từ năm 2010 đến năm 2014) ....48
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện tỷ trọng nội dung tác phẩm của Báo Đại đoàn kết ........54
(từ năm 2010 đến năm 2014) ....................................................................................54
Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện tỷ trọng nội dung tác phẩm của Tạp chí Mặt trận..........56
(từ năm 2010 đến năm 2014) ....................................................................................56
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi thời đại và ở bất kỳ quốc gia nào, đội ngũ trí thức ln là nguồn
lực quan trọng đối sự phát triển của xã hội. Tấm bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám:
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, ngun khí vững thì thế nước mạnh vvvaầ thịnh;
ngun khí kém thì thế nước yếu và suy” là minh chứng rõ nét cho tư tưởng trọng
dụng và đánh giá cao trí thức của bậc tiền nhân. Tư tưởng đó đến nay và mn đời
sau sẽ vẫn cịn ngun giá trị. Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ, trước xu
thế hội nhập kinh tế quốc tế, trí thức Việt Nam càng có vai trị quan trọng đặc biệt.
Họ không chỉ là một lực lượng tiêu biểu cho nguồn trí tuệ của dân tộc, mà cịn là
một động lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, phát triển văn hoá, phát
triển con người và tạo nguồn nhân lực có kiến thức. Mặt khác, trí thức cịn là nhân
tố quyết định đến sự phát triển nhanh chóng và bền vững của nước ta trong q
trình thực hiện cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp
hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh cơng
nghiệp hố, hiện đại hố đất nước đã khẳng định: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn
quan trọng trong việc tun truyền đường lối, chủ trương của Đảng, vận động nhân
dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội. Có thể khẳng định, đây là hệ thống báo có
tính lý luận và thực tiễn cao.
Trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là đội ngũ trí thức trên hệ thống báo Mặt trận đã đạt được những kết
quả đáng kể nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ vai trò trên của báo chí,
cùng những nhiệm vụ đặt ra cho báo chí trong thời kỳ mới, tác giả chọn đề tài: “Báo
in Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã
hội (giai đoạn 2010-2013) làm Luận văn Thạc sỹ tốt nghiệp chun ngành báo chí.
(Tuy nhiên, do q trình thực hiện Luận văn kéo dài hơn so với dự kiến nên tác giả
đã thực hiện đề tài: “Báo in Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức tham
gia phát triển kinh tế - xã hội (giai đoạn 2010-2014).
6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thực tế cho thấy, báo chí Mặt trận với việc tuyên truyền, vận động trí thức
tham gia phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề còn mới trong hoạt động nghiên cứu
hiện nay. Do đó, đây là mảng nghiên cứu cịn mới mẻ, còn là vấn đề mở cho những
ai quan tâm, có thể liệt kê dưới đây các cơng trình nghiên cứu của nhiều tác giả.
Một số khoá luận, luận văn đề cập đến vấn đề báo chí tuyên truyền về chủ
trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh vực chính trị - xã hội khác
nhau ví dụ như: “Báo chí với vấn đề tun truyền về cơng tác phát triển Đảng trong
thanh niên” (Khoá luận cử nhân báo chí - Đỗ Thị Thái Hồ, 2009, Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội); “Báo chí tuyên truyền chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước về kinh tế- xã hội miền núi” (Khoá luận cử nhân báo chí - Chu
Thuý Ngà, 2010, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội); “Tạp chí Xây dựng
Đảng với việc tuyên truyền hướng dẫn thực hiện NQ TW 3 (Khóa VIII) về chiến
lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước” (Khoá luận cử nhân báo chí Trịnh Quỳnh Hoa, 2012, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia
Hà Nội).
Tun truyền), nghiên cứu Tạp chí Mặt trận dưới góc độ hình thức và cách thức tổ
chức nội dung thơng tin nói chung trên Tạp chí Mặt trận.
Đề tài “Báo chí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với hoạt động kinh tế báo
chí” (Luận văn thạc sỹ - Phạm Khánh Giang, 2013, Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội) nghiên cứu hệ thống báo chí Mặt trận
ở phương diện kinh tế báo chí.
Nghiên cứu dưới dạng đề tài cấp Bộ có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của
Luận văn cịn phải kể tới đề tài của Tiến sĩ Hồng Hải, 2013, “Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam với công tác tun truyền về giới trí thức tham gia cơng tác Mặt trận
trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Mặt trận, Hà Nội.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, đề tài Luận văn của tác giả thực sự là một
cơng trình mới mẻ, đầu tiên trong việc nghiên cứu về hệ thống báo chí Mặt trận với
việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện
Luận văn này sẽ đồng thời có những thuận lợi (khuyến khích, động viên nghiên cứu
và đóng góp lý luận vào cơng việc nghiên cứu báo chí) nhưng cũng sẽ có những khó
khăn (ít tài liệu, khó tiếp cận),v.v…
8
Những cơng trình nghiên cứu trên đây là những nỗ lực của các nhà khoa học,
các nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu cơng tác vận động, tuyền truyền, của báo
chí, đối với đội ngũ trí thức. Đó là những kết quả có ý nghĩa và là thành quả của q
trình làm việc nghiêm túc cơng phu của các nhà báo, các học viên, các nhà nghiên
cứu. Tác giả luận văn xem đây là những chỉ dẫn và các tài liệu có giá trị tham khảo
rất cao, góp phần phục vụ đắc lực trong việc triển khai đề tài Luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng công tác tuyên truyền, vận động trí thức
tham gia phát triển kinh tế - xã hội trên hệ thống báo chí Mặt trận (cụ thể là báo in).
nhân dân, qua đó hồn thành nhiệm vụ tạo ra một diễn đàn sáng kiến nhân dân bảo
vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước.
4.1.2 Tạp chí Mặt trận
Tạp chí Mặt trận xuất bản số đầu tiền vào tháng 8/2001. Tạp chí Mặt trận là
cơ quan tuyên truyền và phát triển lý luận của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Từ năm 2010, thử nghiệm Tạp chí điện tử, từ tháng 8 năm 2011 đã ra
chuyên đề: Mặt trận và cuộc sống... Bên cạnh xuất bản báo chí, Tạp chí cịn hợp tác
xuất bản sách, tổ chức sự kiện, dịch vụ khoa học, tư vấn phát triển; đồng thời phối
hợp quảng bá sản phẩm và thương hiệu cho các doanh nghiệp... So với nhiều tạp chí
khác, Tạp chí Mặt trận ra đời muộn. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù là cơ quan
lý luận của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tạp chí Mặt trận tương
đương với các tạp chí lí luận của bộ, ngành nước ta (cấp vụ). Tạp chí có nhiệm vụ
thông tin, tạo diễn đàn để nghiên cứu trao đổi về mọi mặt hoạt động của tổ chức
Mặt trận ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, là diễn đàn để tập hợp sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát và nghiên cứu các tác phẩm báo in trên Tạp chí
Mặt trận, báo Đại đồn kết cùng những sản phẩm báo chí của những cơ quan này về
vấn đề tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội trong 5
10
năm (Từ 2010 đến năm 2014). Tác giả chọn thời gian này vì đây là thời điểm diễn
ra rất nhiều hoạt tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện Hội nghị
lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong
thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước; Nghị quyết Đại hội đại
biểu tồn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam về Chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020, hướng tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp thống kê, so sánh, phương pháo phỏng vấn
sâu… Các phương pháp này được sử dụng phù hợp theo từng chương và có sự kết
hợp trong q trình phân tích nhằm làm nổi bật các nội dung nghiên cứu.
-
Phương pháp nghiên cứu thống kê xã hội học: Thống kê, tổng hợp,
lập bảng biểu theo các số liệu thu từ hoạt động khảo sát các dạng tin bài, phóng sự
trên Tạp chí Mặt trận và Báo Đại đồn kết có liên quan đến vấn đề tuyên truyền về
trí thức gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội. Phương pháp này nhằm nghiên cứu
tần xuất xuất hiện, nội dung tuyên truyền, phương thức, hình thức thể hiện của các
tác phẩm báo chí về chủ đề tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh
tế - xã hội ở các đối tượng được khảo sát.
-
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp và đưa ra so sánh
tương quan.
-
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phân tích thơng tin từ
nguồn tài liệu sẵn có, vận dụng để khái quát hóa và lý thuyết hóa các vấn đề đơn lẻ
khảo sát được. Phương pháp này được sử dụng để hệ thống hóa các vấn đề lý luận
và vai trị của báo chí nói chung, báo in nói riêng trong cơng tác tun truyền, vận
động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội. Thơng qua phân tích nội dung văn
bản bao gồm phân tích về mặt định tính nội dung các báo cáo, tài liệu, giáo trình,
các cơng trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề truyền, vận động trí thức
tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
-
được khảo sát mà còn đề ra những biện pháp nâng cao chất lượng trí thức tham gia
phát triển kinh tế - xã hội.
Luận văn cung cấp cái nhìn khái qt về cơng tác tun truyền, vận động trí
thức trên Tạp chí Mặt trận và Báo Đại đồn kết, từ đó những người thực hiện có khả
năng nhìn nhận trực tiếp cơng tác tun truyền của mình, để có hướng điều chỉnh tốt
hơn. Những người làm mảng kinh tế trên cơ sở nghiên cứu về đề tài của luận văn
này cũng sẽ có những bài học cụ thể cho mình trong cơng tác tun truyền về phát
triển kinh tế - xã hội.
13
Luận văn có tính thời sự cấp bách, được ra đời trong hoàn cảnh cả nước đang
gấp rút thi đua hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5 năm đầu
(2011-2015) trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã đề ra trong
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và
hướng đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ
diễn ra vào tháng 1/2015. Báo in với tư cách là một trong những phương tiện truyền
thông phổ biến ở Việt Nam được nghiên cứu cụ thể, nhằm nâng cao hơn nữa chất
lượng tuyên truyền các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã
hội, góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động trí thức trên các ấn phẩm
của Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và giới truyền thơng nói chung cũng
tham khảo ít nhiều. Trong đó, có Tạp chí Mơi trường và Cuộc sống - nơi tác giả
đang cộng tác.
Riêng với bản thân tác giả, quá trình nghiên cứu đề tài: “Báo in Mặt trận với
việc tuyên truyền, vận động trí thức tham gia phát triển kinh tế - xã hội” sẽ là một
cơ hội tích lũy kiến thức, nâng cao tầm hiểu biết cũng như năng lực chuyên môn, để
thực hiện một cách tốt nhất nhiệm vụ của mình với tư cách là một phóng viên, biên
tập viên.
7. Kết cấu luận văn
làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã
hội. [47].
- Trí thức: Người sử dụng trí óc một cách sáng tạo.
- Trí thức: Người thơng minh, có khả năng phát triển cao độ để hiểu biết là lý
giải, đặc biệt được giáo dục tốt và quan tâm đến khoa học hay nghệ thuật, hoặc yêu
thích các hoạt động liên quan đến nỗ lực tinh thần một cách nghiêm túc.
- Trí thức: là người hoặc do thích thú hoặc do nghề nghiệp mà quan tâm đến
những công việc tinh thần.
- Trí thức: Người chuyên làm việc, lao động trí óc [4, tr.32].
Trí thức theo định nghĩa cá nhân:
- Người trí thức: Là người đem lại giá trị cho những gì mà tự chúng khơng
có (Paul Valéry - nhà thơ, triết gia Pháp).
15
- Người trí thức: Nói đến những người suy tư, mà khơng sính chữ nghĩa,
khơng lợi dụng, bịp bợm và ăn bám… (Henri Barbusse - nhà văn Pháp).
- Người trí thức: Là người phát hiện những điều thuộc bản chất sự vật mà
người khác khơng nhìn ra được (Jean Paul Sartre - nhà triết học hiện sinh, nhà soạn
kịch, nhà biên kịch, tiểu thuyết gia và là nhà hoạt động chính trị người Pháp).
Tuy nhiên, vẫn có thể phân chia các định nghĩa hiện hành thành 2 nhóm:
nhóm chặt chẽ (rất hữu dụng khi bàn vấn đề ở bình diện triết lý, gồm cả thiên chức,
nhiệm vụ trí thức đối với nhân dân, xã hội) và nhóm thơng dụng (để dùng rộng rãi
trong đời sống, dễ hiểu với trình độ chung).
Một cách chặt chẽ, trí thức phải là người:
1) Sáng tạo những giá trị tinh thần. Mức độ sáng tạo cho phép tách ra những
trí thức lớn, tầm cỡ nhân loại.
2) Chỉ tôn thờ những giá trị tinh thần vĩnh hằng: Chân (chân lý, sự thật);
Thiện (cái tốt); Mỹ (cái đẹp).
cực tới sự phát triển kinh tế, xã hội. Trí thức khơng nhất thiết phải là những người
có bằng cấp, học vị.
Nói tóm lại, trí thức là những người lao động trí óc, có hiểu biết sâu rộng về
một hoặc một số lĩnh vực khoa học - cơng nghệ, văn hóa - nghệ thuật, quản lý kinh
tế - xã hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết
những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động của mình vì lợi
ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của bản thân.
Theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là một tập hợp mở và đa dạng, không
giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, công nhân, thợ thủ
công, quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ. Trí thức có thể là bất kỳ ai,
miễn là có hiểu biết sâu rộng và tham gia lao động trí óc. Tuy nhiên, bộ phận hạt
nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học; các bác sĩ,
dược sĩ cao cấp; các nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo; các nhà
quản lý và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho nhà quản lý.
Đặc điểm của trí thức
Trí thức là một tập hợp mở và đa dạng nên đặc điểm của tầng lớp này cũng
rất phong phú. Tuy nhiên, giữa các nhà trí thức, nhất là bộ phận hạt nhân của tầng
17
lớp này, cũng có những đặc điểm phẩm chất chung; phẩm chất nào cũng có mặt
mạnh và mặt yếu của nó. Có thể nói đến những đặc điểm phẩm chất sau:
- Trí thức nói chung rất ham học, ham đọc. Nhờ ham học, ham đọc mà người
trí thức ln ln tiếp cận được cái mới, do đó trình độ lý luận không ngừng được
nâng cao. Tuy nhiên, sự ham học, ham đọc, ham lý luận quá mức có thể dẫn đến
tình trạng sách vở, kinh viện, xa rời thực tiễn. Đó là nhược điểm mà người trí thức
cần đề phịng.
- Trí thức là người ln sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm; ít khi chịu rập
khn theo cơng thức sẵn có. Chính nhờ đặc điểm này mà trí thức đóng vai trò nhân
này thành nguyên tắc sống: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất
năng khuất” (nghĩa là: giàu sang khơng làm hư hỏng, nghèo khó khơng khiến đổi
lịng, quyền uy khơng khuất phục nổi). Trong lịch sử đã có biết bao tấm gương liêm
khiết, chính trực, khảng khái của người trí thức. Xã hội trọng vọng trí thức khơng
chỉ vì trí tuệ của họ mà cịn vì phẩm chất cao quý này
- Trí thức thường cư xử lịch thiệp. Bộc trực khi tỏ bày chính kiến về những
vấn đề lớn, nhưng trong đời sống hằng ngày, người trí thức thường khiêm tốn, nhún
nhường, tránh những va chạm nhỏ, tránh làm mếch lịng người khác.
1.1.2 Vị trí, vai trị của đội ngũ trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội
Quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam gắn liền với sự phát triển của
đội ngũ trí thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1930 đến
nay, trí thức Việt Nam ln là một lực lượng của cách mạng, ln xung kích đi đầu
trên mặt trận khoa học cơng nghệ và văn hố. Trí thức Việt Nam khơng chỉ là lực
lượng sản xuất trực tiếp mà còn làm nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu, tổng kết,
khám phá, truyền bá, trao truyền kinh nghiệm cho các thế hệ nối tiếp.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trí thức Việt Nam,
bằng cơng sức và trí tuệ của mình, cùng với khối liên minh cơng nơng đã góp phần
thúc đẩy cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi, thu non sông về một mối, thống nhất
đất nước.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là cơng cuộc đổi mới,
trí thức Việt Nam góp phần quan trọng trong tiến trình xây dựng đất nước theo
hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố, góp phần thay đổi bộ mặt xã hội, nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
19
Bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ, trước xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế, trí thức Việt Nam càng có vai trị quan trọng đặc biệt. Họ không chỉ
là một lực lượng tiêu biểu cho nguồn trí tuệ của dân tộc, mà cịn là một động lực
sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và
cơng nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới.
Bộ phận trí thức tham gia cơng tác lãnh đạo, quản lý đã phát huy tốt vai trò và
khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị,
nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng, trình độ quản lý của Nhà nước. Ðội ngũ trí thức
trong lĩnh vực quốc phịng, an ninh là lực lượng nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Những đóng góp của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới được
Đảng, Nhà nước ta đánh giá và ghi nhận. Tuy nhiên, đội ngũ trí thức cịn bộc lộ một
số ưu, khuyết điểm sau:
- Ưu điểm: Trí thức Việt Nam hầu hết xuất thân từ nhân dân lao động, có
tinh thần u nước, có phẩm chất chính trị vững vàng, nhiệt tình, trách nhiệm với
đất nước, có năng lực chuyên môn, tiếp cận nhanh với khoa học cơng nghệ. Nhiều
trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và
hội nhập kinh tế quốc tế. Ða số trí thức Việt Nam ở nước ngồi ln hướng về Tổ
quốc; nhiều người đã về nước làm việc, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, có
những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước. [47].
- Nhược điểm: Số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự
phát triển đất nước. Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề,
độ tuổi, giới tính... Trí thức tinh hoa và hiền tài cịn ít, chun gia đầu ngành cịn
thiếu nghiêm trọng, đội ngũ kế cận hẫng hụt; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh,
có uy tín ở khu vực và quốc tế. Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu khoa học chưa
xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Trình độ của trí thức ở nhiều cơ quan nghiên cứu, trường đại học tụt hậu so
với yêu cầu phát triển đất nước và so với một số nước tiên tiến trong khu vực, nhất
là về năng lực sáng tạo, khả năng thực hành và ứng dụng, khả năng giao tiếp bằng
ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin.
21