văn hóa vùng, văn hóa tộc người và sự phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông cửu long - Pdf 24

1
VNH3.TB16.117

VĂN HOÁ VÙNG, VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1, PGS.TS. Võ Văn Sen
2, TS. Phan Văn Dốp
1, Trường ĐHKHXH&NV - TP.HCM
2, Viện Phát triển Bền vững Vùng Nam Bộ

ĐBSCL là nơi cư trú của nhiều dân tộc như Việt, Hoa, Khmer, Chăm,… Sự chung
sống hòa bình, cùng đoàn kết chiến đấu với thiên nhiên, với kẻ thù xâm lược bảo vệ
quê
hương đã hình thành nên đặc thù văn hoá riêng của các cộng đồng dân tộc Việt Nam ở vùng
đất mới này của tổ quốc bên cạnh bản sắc văn hoá chung của dân tộc Việt Nam. Quá trình
giao lưu, tiếp biến văn hoá trên cơ sở kinh tế hàng hoá sớm phát triển, đã tạo nên những biến
đổi, những nhân tố mới bên cạnh văn hoá truyền thống của từng dân tộc. Những biến đổi,
những yếu tố mới đã hình thành trên cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, từ công cụ
sản xuất, ăn, mặc, ở, đi lại, … đến sự ra đời và phát triển đến ngày nay của các tôn giáo địa
phương (Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa), tạo nên bản sắc văn hoá ĐBSCL.
Trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, môi trường và điều kiện tự nhiên của
ĐBSCL đ
ã bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam nói chung nét đặc trưng độc đáo của mình:
đó là yếu tố “sông nước”. Truyền thống văn hóa lúa nước của người Việt vào đến Nam Bộ
được hoàn chỉnh một cách tinh tế bởi yếu tố sông nước. Làng Nam Bộ hầu như phân bố dọc
sông, kênh rạch, tạo thành kiểu cư trú phổ biến - kiểu cư trú hình tuyến, giao thông thủy tạo
điều kiện cho sự
phát triển thương mại sớm, “chợ nổi” hình thành sớm trên các trục giao
thông thủy, đời “thương hồ - gạo chợ nước sông”, giới thương hồ tập trung ở khu vực giáp
nước, “đò dọc” đã nối liền vùng ĐBSCL rộng lớn tạo cho cả vùng một sự đồng nhất cao

- Người dân có đầu óc thự
c tế, năng động, “miệng nói tay làm”, lấy thực tiễn làm thước
đo chân lí, ít giáo điều, nhiều sáng tạo; khai thác tự nhiên trong sự hài hòa với tự nhiên
(chung sống với lũ - là một một biểu hiện tiêu biểu) nên tính tình cởi mở, thông thoáng,
hào hiệp, bao dung, bộc trực, thẳng thắn, coi trọng lẽ công bằng, trọng nghĩa khinh tài,
có tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, kiên quyết trong đấu tranh với kẻ thù ngoại xâm; sống
lâu trong môi trường kinh t
ế hàng hoá, người dân có khả năng cao trong thích ứng, nhạy
bén, có bản lĩnh vượt thoát những thử thách trong đời sống và hoạt động kinh tế;

Lịch sử khai thác, phát triển kinh tế vùng ĐBSCL cho thấy tác động sâu sắc của văn
hoá vùng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. Trước khi người Pháp đến vùng này, trong
vòng hơn hai thế kỷ (thế kỷ XVII - Thế kỷ XIX) cư dân các dân tộc ở ĐBSCL đã tạo nên
một “phức thể văn hoá nông nghiệp” ở đây với sự giao lưu trao đổi hàng hoá khá sớm, có
xuất khẩu lúa gạo sang Philippines, Trung Quốc, Campuchia,…; xuất hiện những thương
3
cảng như Bãi Xàu (Sóc Trăng), Hà Tiên, Sài Gòn,…; chế độ tư hữu về ruộng đất phát triển.
Tuy không xác định rõ được mức độ tác động của sản xuất và kinh tế hàng hoá lúc bấy giờ,
nhưng có thể nói rằng, trước khi người Pháp đến, chính sự phát triển của kinh tế hàng hoá
đã mở rộng tầm mắt của người nông dân ra khỏi xóm làng, kích thích sản xuất, tăng năng
suất,…
Dưới sự thống tr
ị của thực dân Pháp, phức thể văn hoá nông nghiệp của ĐBSCL
có những biến đổi sâu sắc. Thực dân Pháp đã biết lợi dụng những đặc điểm của vùng để
thực hiện công cuộc khai thác, bóc lột của chúng. Vùng ĐBSCL biến thành một vùng nông
nghiệp thương phẩm, chuyên sản xuất hàng hoá lúa gạo xuất khẩu lấy lời với mức độ đứng
hàng thứ ba thế giớ
i (1920: 1,5 triệu tấn; 1930: 2,3 triệu tấn,…). Người Pháp đã triển khai
mô hình khai thác Nam Kỳ nói chung và ĐBSCL nói riêng với những nhân tố cơ bản là:
phát triển chế độ đại sở hữu về ruộng đất của giai cấp đại địa chủ phong kiến (năm 1930:

làm thuê không ruộng, thiếu ruộng. Tiêu biểu cho phức hệ văn hoá nông nghiệp sản xuất
hàng hoá bước đầu phát triển tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ ở ĐBSCL chính là đặc điểm, tâm
lí, ứng xử kinh tế của tầng lớp trung nông mới (chiếm 70-80% số hộ). Trung nông ở đồng
bằng Nam Bộ là người trung nông sản xuấ
t hàng hoá, có kinh nghiệm trong việc đầu tư
thâm canh, tăng năng suất lao động và đồng thời cũng khá nhạy bén với thị trường… Cơ
quan kiểm tra sự kiện Mỹ (C.D.C) khi khảo sát ảnh hưởng của chương trình “Người cày có
ruộng” ở ĐBSCL năm 1972 đã cho biết, so với tá điền thì những “tân điền chủ” hiểu biết về
kỹ thuật nhiều hơn: 83% “tân điền ch
ủ” được phỏng vấn có hiểu biết về sử dụng phân bón
hay thuốc sát trùng hay cả hai, trong khi đó tá điền chỉ có 56%; 72% “tân điền chủ” biết sử
dụng nông cơ (máy cày hoặc máy xới), trong khi đó chỉ có 49% tá điền biết điều này; 35%
“tân điền chủ” hiểu biết về kỹ thuật gia tăng năng suất lúa bằng cách cấy lúa Thần Nông hay
cấy lúa hai mùa, trong khi đó tá điề
n là 17% (2). Nhiều khảo sát khác ở nông thôn Nam Bộ
vào đầu những năm 1970 cũng cho thấy lớp trung nông mới hình thành rất hăng hái trong
đầu tư nông nghiệp, chịu tìm tòi các loại hoa màu thích hợp khác để trồng thêm, chịu xuất
tiền để cải tiến và nâng cao năng suất, tiêu thụ hàng hoá mạnh hơn, sẵn sàng chấp nhận hậu
quả rủi ro nhiều hơn tá điền và những cựu điền chủ (3). Tại nhữ
ng vùng kinh tế hàng hoá
phát triển khá cao, trung nông mới hình thành nhiều, năng suất lao động đã tăng nhanh.
C.D.C cho biết năm 1972 ở xã “sinh động” (có triển khai mạnh chương trình “Người cày có
ruộng”, có nhiều nhập lượng nông nghiệp được đưa vào…), năng suất lúa ruộng một mùa là
117 giạ/ha (một giạ tương 20 kg) và ruộng hai mùa là 302 giạ/ha, còn ở những xã “ứ động”
năng suất chỉ 90 giạ/ha đối với ruộng một mùa và 168 giạ/ha đố
i với ruộng hai mùa, trong
khi đó vào năm 1970 năng suất ở hai nơi này gần giống nhau (4). Nhiều cuộc khảo sát nông
thôn ĐBSCL vào năm 1977 và 1978 cũng đem lại những kết luận tương tự về khả năng đầu
tư thâm canh, tăng năng suất của trung nông, đặc biệt là đối với trung nông khá giả (5).
Trong việc sử dụng tiền mặt, tỉ lệ sử dụng tiền mặt trong ngân q

hoá bắt đầu dừng lại và giảm sút. Mô hình tập thể hoá nông nghiệ
p bị klhủng hoảng trầm
trọng!
Năm 1986 đất nước ta bước vào thời ki đổi mới mạnh mẽ. Trong lĩnh vực nông
nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/1988) và Nghị quyết TW 6 (1989) đã thực sự xác
nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, thay đổi căn bản mô hình hợp tác hoá nông
nghiệp. Điều này là phù hợp với qui luật khách quan của sản xuấ
t nông nghiệp hàng hoá ở
ĐBSCL và thực sự giải phóng lực lượng sản xuất ở vùng này, tiêu biểu là những hộ nông
dân sản xuất hàng hoá, mà thực chất là những hộ trung nông trước điều chỉnh ruộng đất và
cải tạo nông nghiệp. Phức hệ văn hoá nông nghiệp sản xuất hàng hoá ở ĐBSCL đã được
6
khôi phục và phát triển, ứng xử kinh tế của người nông dân sản xuất hàng hoá đã được phát
huy tối đa. Đó chính là nguyên nhân sâu xa làm cho ĐBSCL đóng góp quyết định vào việc
xuất khẩu gạo của nước ta từ 1989 đến nay.
*******

Những cuộc khảo sát về hôn nhân và gia đình giữa người Việt, người Hoa và người
Khmer ở ĐBSCL trong những năm 1990 của Viện Khoa học xã hội tại TP.H
ồ Chí Minh cho
thấy những biến đổi lớn trong phong cách làm ăn, sản xuất, lối sống của những gia đình
người Khmer có những quan hệ hôn nhân với người Việt và người Hoa. Những hộ này
thường có mức sống cao hơn, làm ăn khá giả hơn vì cách tổ chức sản xuất đa dạng, năng
động hơn (9). Cuộc khảo sát ở vùng Nam Mang thít (Trà Vinh và Vĩnh Long) vào năm 1992
cho thấy trong cộng đồng Khmer ở đ
ây nhóm có thu nhập thấp là 44,1%, trong khi đó nhóm
Khmer có quan hệ hôn nhân với người Hoa, thì tỷ lệ này là 35,7%.
Trong khi người Việt đi sâu vào thâm canh, tăng năng suất và bắt đầu những hoạt
động phi nông nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, thì không ít nông dân Khmer vẫn còn dừng lại ở
trình trạng làm lúa một vụ. Những đặc thù văn hoá tộc người trong sản xuất của người

mức lỗ vốn cao nhất (xem bảng). Thật ra, nuôi thuỷ sản chưa phát triển trong cộng đồng
người Khmer và qui mô nuôi c
ũng nhỏ (11% có nuôi) và còn mang tính chất “bán tự nhiên”.
Điều đáng chú ý là các hộ nuôi thuỷ sản (cá và tôm) tập trung tại xã Tham Đôn (26 hộ -
chiếm 78,79% số hộ nuôi), xã Long Sơn có 6 hộ nuôi (chiếm 18,18% số hộ nuôi) trong khi
xã Châu Lăng chỉ có một hộ nuôi thuỷ sản (12). Và, các hộ bị lỗ chủ yếu là nuôi tôm sú và
chủ yếu ở xã Tham Đôn (13/15 trường hợp nuôi thuỷ sản bị lỗ, 2 trường hợp bị lỗ thuộc xã
Long Sơ
n).
Sau các hộ nuôi thuỷ sản thì các hộ nuôi gia cầm cũng bị lỗ vốn với ti lệ tương đối
cao (19/21 trường hợp có chăn nuôi bị lỗ) với tổng số tiền lỗ là 10,55 triệu đồng, hộ lỗ nặng
nhất là 2 triệu đồng. Nạn cúm gia cầm trong những năm qua là nguyên nhân chính. Song,
chăn nuôi gia cầm bị lỗ tập trung tại 2 xã Long Sơn và Tham Đôn, mỗi nơi 9 trường hợp, xã
Châu Lă
ng chỉ có 1 trường hợp. Theo Báo cáo của Phòng Xây dựng và Phát triển nông thôn
huyện Tri Tôn thì nạn cúm gia cầm xảy ra vào đầu tháng 1/2004 tại tất cả các xã/thị trấn
trong huyện (15 xã/thị trấn). Huyện đã tiêu huỷ 382.217 con gà/vịt, 67.223 quả trứng
gà/vịt… Thật ra, người Khmer chăn nuôi gia cầm với qui mô nhỏ, mang tính chất gia đình,
nhưng nạn cúm gia cầm cũng làm mất một khoản thu nhất định và tất nhiên làm ảnh hưởng
đến thu nhập của hộ.
Đối với cây hàng năm (gồm canh tác lúa, trồng cây lương thực), tính chung có 10 hộ
bị lỗ - sau khi tính gộp các khoản thu của các vụ luá và canh tác cây lương thực. Bảng “Hộ
Khmer sản xuất nông nghiệp bị lỗ vốn” cho thấy cụ thể hơn về số hộ lỗ, mức độ hộ trong
từng vụ lúa và canh tác cây lương thực. Trong các vụ lúa, vụ thu đông có mức độ lỗ cao
nhất. Và, hơ
n 50% số hộ bị lỗ trong canh tác lúa vụ Hè Thu và Thu Đông là ở Long Sơn.
Cũng cần lưu ý là Long Sơn (huyện cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh) là xã trực tiếp chịu ảnh
8
hưởng của công trình thuỷ lợi ngọt hoá vùng Nam Mang Thít mà trực tiếp là cống đập Chà
Và.

thay đổi theo chiều hướng xấu đến môi trường tự nhiên. Những năm đầu sau khi đưa hệ
thống cống đập Chà Và vào sử dụng làm “xì phèn” và “thiếu nước sản xuất” khiến cho một
số diện tích canh tác phải bỏ hoang, một số khác năng suất lúa giảm đi một cách nghiêm
trọng như ở ấp Bờ Kinh 2, xã Mỹ Hòa có nơi sản xuất chỉ đạ
t 50-60kg/công (50-60kg/1000
m
2
),… Thêm vào đó là sự thay đổi môi trường sinh thái làm nhiều loài thuỷ sản (tôm, cá,
cua,…) bị chết trên một phạm vi rộng, ảnh hưởng đến 50% diện tích tự nhiên của huyện Cầu
Ngang. Một tác động dây chuyền là tình trạng thất nghiệp tăng nhanh vì một phần diện tích
canh tác cây hàng năm bị bỏ hoang, người có ruộng cũng thành thất nghiệp và không còn ai
thuê mướn trong sản xuất nông nghiệp… Hơn nữa, một nguồn lợi rất quan tr
ọng trong đời
sống cư dân vùng Nam Mang Thít từ việc đánh bắt nguồn thuỷ sản trong tự nhiên cũng
không còn. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản do đó cũng giảm nghiêm trọng. Đó cũng là những
9
nguyên nhân khách quan làm cho ti lệ hộ nghèo trong huyện Cầu Ngang, đặc biệt là trong
người Khmer, cao hơn các huyện thị khác trong tỉnh Trà Vinh.
Để có thể rõ hơn về sản xuất nông nghiệp của người Khmer, chúng ta có thể xem xét
về sản xuất các vụ lúa, là hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu của người Khmer.
- Vụ Hè Thu năm 2004: Trong 300 hộ Khmer được khảo sát có 248 hộ sản xuất nông
nghiệp, trong đó có 158 hộ canh tác vụ Hè Thu với tổ
ng diện tích là 123,5 ha, năng suất
trung bình là 46tạ/ha. Năng suất thấp nhất được ghi nhận là thuộc các hộ người Khmer xã
Long Sơn (30tạ/ha). Năng suất này thấp hơn năng xuất vụ hè thu của huyện Cầu Ngang nói
chung năm 2003 (37,51 tạ/ha) (14). Năng suất vụ hè thu của người Khmer xã Tham Đôn là
49 tạ/ha, chủ yếu canh tác trên vùng nước ngọt. Theo Báo cáo của xã thì năng suất bình
quân vụ hè thu năm 2004 trên diện tích thuộc vùng nước ngọt củ
a xã là 60 tạ/ha; nghĩa là
năng suất vụ hè thu của người Khmer cũng thấp hơn năng suất vụ hè thu của xã. Riêng tại

Vụ Đông Xuân (2003-04)
10
X. Long Sơn - - -
X. Tham Đôn 21 17 49,5
X. Châu Lăng 20 16,8 59, 5
Tổng 41 33,8 54,4 Như vậy, có 53 hộ bị lỗ trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tổng số tiền lỗ
ghi nhận được của 53 hộ này, trong mọi hoạt động nông nghiệp tính ra là 91 triệu đồng. Có
hộ vừa bị lỗ trong canh tác vụ Đông Xuân vừa bị lỗ trong chăn nuôi gia cầm hoặc nuôi thuỷ
sản. Nhưng nếu tính tổng thu trong năm của những hộ b
ị lỗ trong sản xuất nông nghiệp thì
chỉ có 3 hộ (15 nhân khẩu) là bị thâm vốn còn 50 hộ khác được các khoản thu khác bù đắp
vào. Cả 3 hộ này đều ở Tham Đôn, tổng số tiền bị lỗ của họ là 18.500.000 đồng và tất nhiên
họ thuộc nhóm thu nhập thấp nhất bởi vì họ không có thu nhập và bị mất vốn. Tóm lại, hoạt
động nông nghiệp không đạt hiệu quả kinh tế khiến cho 17,67% hộ Khmer gi
ảm thu nhập và
một số trong số họ phải rơi vào cảnh nghèo.
Nguyên nhân của việc sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế không hiệu quả của
người Khmer ĐBSCL đến từ rất nhiều yếu tố khác nhau, nhưng từ góc độ văn hoá tộc người
chúng ta có thể nhận ra được nhiều điều như là những tác động khá trực tiếp. Trình độ dân
trí thấp đã h
ạn chế người Khmer tiếp thu khoa học ki thuật trong sản xuất nông nghiệp và
chăn nuôi, khó tiếp nhận những thông tin mới để tổ chức kinh doanh. Nhiều hộ Khmer
không biết tổ chức hoạt động kinh tế hiệu quả, không biết cách sử dụng nguồn vốn có thể
có; việc vay vốn của họ chủ yếu là để giải quyết khó khăn trong cuộc sống chứ không phải
để đầu t
ư sản xuất. Ông Huỳnh Phước Long, Trưởng ban dân tộc tỉnh Trà Vinh có nhận xét
rất hay: “ Người nghèo Khmer nói chung có trình độ thấp, thiếu hiểu biết trong kinh doanh,

thay đổi trong nhận thức, cách tính toán, đầu tư của người Khmer trong hoạt động kinh tế
trong nền kinh tế thị trường; phát huy những ngành nghề truy
ền thống của người Khmer;
nâng cao chất lượng nông nghiệp sinh thái vùng cho phù hợp.
Từ những ngày đầu khai phá ĐBSCL, người Hoa đã cùng người Việt, người Khmer,
người Chăm sinh sống, lao động sản xuất tạo nên sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng này.
Do những đặc thù của văn hoá tộc người, người Hoa thường có ưu thế trong các ngành
thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, sống ở những thành phố, thị trấn, thị xã. Người
Triều Châu (Tiều) thường làm nông nghiệp hay kinh doanh liên quan đến nông nghiệp như
buôn bán phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc,… Người Quảng Đông thường buôn bán
tạp hoá, kinh doanh tiệm ăn. Người Hẹ thường kinh doanh trong các ngành hàng thực phẩm,
dược phẩm. Người Phúc Kiến thường tập trung vào thương mại,… Những đặc điểm văn hoá
kinh doanh, sản xuất nổi bật của họ là chịu khó, tháo vát, ti
ết kiệm, có quan niệm đúng đắn
về ngành nghề lao động, năng động trong nghề nghiệp, tính thích ứng cao, tinh thần thực tế,
biết tính toán khéo léo, giàu kinh nghiệm, có kiến thức kinh doanh, tổ chức, quản li cơ sở
sản xuất kinh doanh chặt chẽ, khoa học, luôn kiên trì tìm cách chiếm lĩnh thị trường, đoàn
12
kết, tương trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh và trong cuộc sống,… Họ có ưu thế về kinh
doanh và khi miền Nam phát triển tư bản chủ nghĩa, họ đã nhanh chóng đầu tư vào sản xuất
công nghiệp và đến thập niên 70 của thế kỷ trước đã chiếm lĩnh một số ngành sản xuất của
miền Nam như nhựa, thủy tinh, thuộc da, cơ khí khuôn mẫu, dệt, chế biến nông sả
n Kinh
nghiệm và mạng lưới kinh tế của họ trong nước và nước ngoài cũng đang được phát họ huy
mạnh mẽ trong thời gian qua và đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Thành
phố Hồ Chí Minh và cả nước. Tâm li kinh tế truyền thống của họ trong kinh doanh, thương
mại là: giữ chữ tín; tôn trọng khách hàng; tính chất tập trung theo bang hội trong kinh doanh
dẫn đến sự phân công, chuyên biệt hoá trong kinh doanh, sản xuất, sự đoàn kế
t hỗ trợ nhau
cùng phát triển,… Bảng 3 dưới đây đã thể hiện được phần nào thang giá trị trong quan niệm

Sự vận hành của những quan hệ cộng đồng truyền thống cũng đóng một vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở ĐBSCL. Để thực hiện đề tài 60B-05-02
(phần B) thuộc Chương trình 60B, nhóm điều tra nghiên cứu về
đặc điểm ứng xử kinh tế của
nông dân ĐBSCL (đầu năm 1987) thông qua mẫu điều tra ngẫu nhiên tại ba ấp - ấp 6,7 và 8
của xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm, tỉnh Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long). Kết quả
cho thấy, “người chủ hộ nông dân vẫn đang nắm giữ một vai trò khá quyết định trong toàn
bộ việc tổ chức sản xuất và nếp sinh hoạt của mỗi gia đình”;” Cái ý niệ
m về “ruộng tôi,
ruộng anh” vẫn cứ tồn tại”; “70% hộ nông dân nói rằng đã nâng cao kết quả sản xuất, sắp tới
bản thân còn tìm học kinh nghiệm những người làm ăn giỏi”. Nhóm điều tra về “người nông
dân, gia đình nông dân và các cộng đồng thôn ấp với quá trình sản xuất hàng hoá ở
ĐBSCL”(1989) (cũng thuộc chương trình nói trên) đã đi đến những đúc kết quan trọng: “
Hộ nông dân là một
điểm nút vừa bền chặt, vừa linh hoạt của hệ thống tái sản xuất trong
nông thôn ĐBSCL… những toan tính nôn nóng muốn nuốt chửng và làm tan biến các hộ
nông dân vào một thứ “xí nghiệp” công cộng hoá, thống nhất chỉ huy máy móc đến từng chi
tiết, tuy có làm các nông hộ lao đao, co mình lại, nhưng không thể làm cho thiết chế kinh tế-
xã hội này bị tê liệt”; “ Các chủ hộ trung nông đang tỏ ra là những nhà tổ chức sản xuấ
t thạo
việc bậc nhất trong nông thôn, và được chính nhân dân thừa nhận (qua việc họ ồ ạt và hồn
nhiên đi tìm học các tấm gương làm ăn giỏi)” (18). Quan hệ thân tộc, dòng họ không còn tác
động lớn trong kinh tế, nhưng nó vẫn có tác động đến quan hệ cộng đồng, đoàn kết trong
nông thôn. Quan hệ gia đình có khả năng thích ứng và phát triển mạnh; uy lực tinh thần của
cha mẹ còn lớn đối với các quyết
định về về sản xuất và tiêu dùng của con cái, về chọn nghề
của con, về chuyển giao kỹ thuật; tính chất quyết đoán của gia trưởng vẫn còn hòa hợp được
với những quá trình dân chủ hoá trong gia đình. Thể chế cổ truyền đã bị bào mòn đi nhiều,
nhất là qui mô làng xã, thế nhưng phong tục, lễ tiết qui mô gia đình còn khá mạnh. Vai trò
người gìa tuy có giảm sút, nhưng ở mức độ nhấ

nhà nước có chính sách tác động một cách khéo léo, khôn ngoan để phát huy sức mạnh của
các quan hệ cộng đồng truyền thống, văn hoá sản xuất, kinh doanh của từng dân tộc và của
cả cộng đồng các dân tộc ở ĐBSCL, trong đó đặc biệt chú ý đến vấn đề kết hợp truyền
thống và hiện đại đối với văn hoá của cộng đồng các dân tộc ít ngườ
i Khmer, Chăm.
Ở ĐBSCL đang diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá giữa văn hoá vùng, văn
hoá dân tộc và văn hoá nước ngoài; quần chúng đang hàng ngày hàng giờ tiếp nhận các sản
phẩm và nhân tố văn hoá từ nước ngoài. Đảng và Nhà nước ta phải nhanh chóng có chiến
lược để chủ động thực hiện việc tiếp biến văn hoá, “mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có
chọn lọ
c những cái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác”(20), tránh cho nhân dân
và nhất là thế hệ trẻ những hụt hẫng, “cú sóc về văn hoá”.
Ở ĐBSCL, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá
ngày càng phát triển. Vì vậy, bên cạnh cái phức thể văn hoá nông nghiệp-nông thôn của
15
vùng, ta phải hết sức chú ý đến việc xây dựng nếp sống văn minh đô thị, văn hoá đô thị, như
những trung tâm văn hoá văn minh của vùng, không để đô thị bị nông thôn hoá về văn hoá,
lối sống; không đối lập văn hoá đô thị và nông thôn mà phải biết kết hợp, tiếp thu và biến
đổi một cách hợp lí nhất. TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Nguyễn Công Bình, “Phát triể
n xã hội trong công cuộc khai phá đất Nam bộ”. T/C
Xã hội học, 1998.
(2) Bush - Henry C., Odon Messegee & Roger Russell, The Impact of the land-to-the
tiller program in the Mekong Delta, (C.D.C), 2- 1972, tr. 64.
(3) Võ Văn Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam - Việt Nam 1954 -1975,
Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2005. (xem bảng V.6)
(4) Bush - Henry C.Odon Messegee & Roger Russell, The Impact of the Land-to-the


Cục Thống kê Trà Vinh, Niên giám thống kê 1999-2003, tr. 89.
(16) Phan An
, Hiện tượng đói nghèo của người Khmer ở Trà Vinh
, TP.HCM, 10-
2004, tr. 25
.
(17) Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc, Người Hoa ở Kiên Giang và cách làm
kinh tế của họ. Hội thảo khoa học “Vì sự phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long”,
TP. Cần Thơ, 11-2004.
(18) (19) Nguyễn Quang Vinh, Báo cáo tóm tắt đề tài 60B-05-02.
(20) Nghị quyết Hội nghị lần thứ V BCH TW Đảng CSVN, khoá VIII. NXB CTQG,
HN, 1998, tr.56.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status