luận văn thạc sĩ Khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Hải Dương - Pdf 13

khu công nghiệp với sự phát triển
kinh tế - xã hội ở tỉnh hải dơng
Hà Nội - 2009
Mục lục
Trang
Mở đầu
1
Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của các
khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội
6
1.1. Khu công nghiệp và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội 6
1.2. Những nhân tố chủ yếu chi phối tác động của khu công nghiệp tới
sự phát triển kinh tế - xã hội 30
1.3. Kinh nghiệm của một số tỉnh về xử lý tác động tiêu cực trong phát
triển khu công nghiệp 34
Chơng 2: Thực trạng tác động của các khu công nghiệp
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Hải Dơng
44
2.1. Sự ra đời và phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dơng 44
2.2. Đánh giá những tác động của các khu công nghiệp đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hải Dơng 60
Chơng 3: Phơng hớng và giải pháp đảm bảo cho hoạt
động của các khu công nghiệp ở tỉnh Hải D-
ơng gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội trên
địa bàn
76
3.1. Phơng hớng phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dơng gắn
với sự phát triển kinh tế - xã hội 76

doanh nghiệp trong KCN 59
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp kế hoạch doanh thu năm 2008 60
Bảng 2.6: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của KCN 68
Bảng 3.1: Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP và cơ cấu các khu vực kinh tế 80
Bảng 3.2: Dự báo giá trị GDP của các khu vực kinh tế (giá so sánh 1994) 80
Bảng 3.3: Dự báo giá trị sản xuất công nghiệp 81
M U
1. Tớnh cp thit ca ti
Phỏt trin khu cụng nghip l mt gii phỏp quan trng nhm thu hỳt
vn u t thỳc y cụng nghip phc v nhu cu trong nc v xut khu,
ng thi to iu kin bo v mụi trng sinh thỏi bo m phỏt trin bn
vng. nc ta, nm 1991, ng v Nh nc cú ch trng trin khai thớ
im vic thc hin gii phỏp quan trng ny. T ú n nay, c nc ó cú
gn 200 trăm khu công nghiệp với các quy mô, loại hình c phõn b hu
khp cỏc tnh, thnh ph. S phỏt trin cỏc khu cụng nghip ó gúp phần to
lớn vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội ca t nc. Cỏc khu
cụng nghip tr thnh im thu hỳt cỏc ngun u t nc ngoi, ún nhn
cỏc tin b khoa hc k thut v to ra nhng nhõn t quan trng thỳc y
cụng nghip húa, hin i húa v hi nhp kinh t quc t.
Hi Dng l tnh mi c tỏi lp t 1/1/1997, thuc mt trong tỏm
tnh ca vựng kinh t trng im ng bng Bc b vi h thng giao thụng
thy, b, ng st thun li. Hi Dng tr thnh a bn cung cp hng húa
quan trng ng thi tham gia trung chuyn hng húa gia h thng cng bin
vi cỏc tnh v thnh ph ln phớa Bc. Trong tng lai, Hi Dng là trọng
điểm thu hỳt, phỏt trin cụng nghip, du lch thng mi v tr thnh mt
trong cỏc ụ th ln trong vựng. Trong xu th phỏt trin chung ca c nc,
tnh Hi Dng ó cú 10 khu cụng nghip vi din tớch 2.087 ha. S phỏt
trin khu cụng nghip Hi Dng trong thi gian qua ó gúp phn quan
trng vo vic chuyn dch c cu kinh t theo hng tin b, gii quyt vic
lm, tng thu nhp cho ngi lao ng, thu hỳt vn v cụng ngh hin i,

số khu công nghiệp phía Bắc tới sức khỏe cộng đồng”, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
2
- Nguyễn Chơn Trung, Trương Quang Long (2004) “Phát triển các
khu công nghiệp, khu chế xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Một số đề tài dưới dạng luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu
vấn đề này như:
- Lê Hồng Yến (1996), “Hoàn thiện chính sách cơ chế quản lý nhà
nước đối cới các khu công nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (qua
thực tiễn khu công nghiệp các tỉnh phía Bắc)”, Luận án tiến sĩ tại trường Đại
học Thương mại;
- Nguyễn Xuân Hinh (2003), “Quy hoạch xây dựng và phát triển khu
công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, Luận án tiến sĩ kinh tế tại
trường Đại học Kinh tế quốc dân;
- Trần Văn Phùng (2007), “Nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội các
khu công nghiệp Miền Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế tại Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh;
- Nguyễn Duy Cường (2006), “Hiệu quả kinh tế - xã hội của các khu
công nghiệp ở Thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ kinh tế tại Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
- Lê Công Đồng (2005), “Thu nhập của người lao động ở khu công
nghiệp Tân Bình – Quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ kinh tế
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Phạm Xuân Đức (2006) “Cung cầu nhà ở cho công nhân các khu
công nghiệp ở Hà Nội hiện nay”, Luận văn thạc sĩ kinh tế tại Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh;
- Bùi Vĩnh Kiên (2002), “Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển các
khu công nghiệp ở Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ kinh tế tại trường Đại học
kinh tế quốc dân.

công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp) đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội, trong đó chủ yếu nghiên cứu và phân tích tác động tiêu cực trong quá
trình phát triển các khu công nghiệp này.
4
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: địa bàn tỉnh Hải Dương.
+ Về thời gian: từ khi triển khai xây dựng và phát triển các khu công
nghiệp ở nước ta đến nay (1991 – 2008).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp luận
- Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đổi mới của Đảng
Cộng sản Việt Nam và những lý thuyết về công nghiệp hóa và đầu tư trong
nền kinh tế thị trường.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên
cứu của kinh tế chính trị học, trong đó coi trọng phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê từ tư liệu thực tiễn.
6. Những đóng góp khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác động của các khu công nghiệp đối
với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích đánh giá thực trạng tác động của các khu công nghiệp đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 1991 đến nay.
Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục ngăn
ngừa những tiêu cực trong quá trình phát triển hình thức tổ chức kinh tế này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.

5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA

cũng bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng, trường học, bệnh viện, các
khu vui chơi giải trí, khu nhà ở cho công nhân… Các KCN ở Thái Lan và
Inđônêxia thường có 3 bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu
sản xuất hàng xuất khẩu và khu thương mại dịch vụ.
Có quan niệm lại cho rằng, KCN là một khu vực phụ, không nhất thiết
phải có sự ngăn cách, biệt lập bởi trên thực tế có nhiều tập đoàn và tổ hợp
công nghiệp với một chuỗi đồ sộ các xí nghiệp, nhà máy liên kết với nhau
trên một khu vực rộng lớn. Việc bố trí mặt bằng các khu sản xuất trên quy mô
lớn như vậy hình thành một loại hình tổ chức mới của KCN mà không nhất
thiết phải có quy mô đặc thù [27, tr.30-31, 33].
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
(UNIDO) trong tài liệu KCX ở các nước đang phát triển công bố năm 1990,
thì KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc
gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất
khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về
đầu tư mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ
nhà. Trong đó đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản
xuất để xuất khẩu miễn thuế [44, tr.18].
Theo quan điểm của Hiệp hội thế giới về KCX (World Expot
Processing Zone Association – WEPZA) thì KCX là tất cả các khu vực được
chính phủ các nước cho phép thành lập và hoạt động như Cảng tự do, Khu
mậu dịch tự do, KCN tự do hay bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vục
khác được tổ chức này công nhận. Thực tế cho thấy, do nhu cầu phát triển của
thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng xuất phát từ yêu cầu
bức thiết của quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của các nước
7
đang phát triển nên khái niệm trên đã được bổ sung thành những quan niệm mới
như Khu kinh tế mở, Đặc khu kinh tế, Thành phố mở…[44, tr.8].
Quan niệm của Hiệp hội thế giới về KCX rất rộng đòi hỏi chính sách
quản lý có độ linh hoạt cao và mức độ tự do hoá khá lớn.

KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu. Những doanh nghiệp này được
hưởng những ưu đãi đặc biệt về thuế quan, miễn thuế đối với tất cả các hàng
hoá xuất nhập khẩu. Sản phẩm của các doanh nghiệp này chỉ được phép xuất
khẩu chứ không được tiêu thụ trên thị trường nội địa. Trong trường hợp bán
trên thị trường nội địa thì sẽ phải chịu thuế nhập khẩu như đối với những hàng
hoá nhập khẩu thông thường.
KCNC là KCN tập trung những doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao
và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, bao gồm
nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên
quan, có ranh giới xác định, do chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập. Trong KCN cao có thể có doanh nghiệp chế xuất.
Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp chuyên sản xuất và chế biến
hàng xuất khẩu, được thành lập và hoạt động theo quy chế này.
Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong
KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công
nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN.
Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động trong KCN, thực hiện dịch vụ và các công trình kết cấu hạ tầng KCN,
dịch vụ sản xuất công nghiệp.
Có thể thấy rằng KCN là những địa bàn sản xuất công nghiệp gồm
nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có dân cư sinh sống, có ranh giới pháp
lý riêng, có ban quản lý riêng do Chính phủ thành lập. Về kết cấu hạ tầng,
9
KCN được cung cấp đầy đủ các yếu tố hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đạt các tiêu
chuẩn quy định phục vụ trực tiếp cho hoạt động các doanh nghiệp công
nghiệp. Về cơ cấu ngành, trong KCN có cả các ngành truyền thống mà trong
nước có lợi thế so sánh và cả các ngành công nghiệp mới như điện tử, công
nghệ thông tin, công nghệ lắp ráp v.v

nguồn ngoại tệ của xã hội lại được tăng lên nhanh chóng nhờ hoạt động của KCX.
- Thúc đẩy việc mở cửa thị trường nội địa nhanh hơn, phù hợp với chủ
trương xây dựng nền kinh tế mở hướng mạnh về xuất khẩu.
Tuy nhiên, những gì được coi là có lợi cho nước sở tại thì ngược lại là
bất lợi đối với nhà đầu tư. Để có thể xuất khẩu được 100% sản phẩm, việc tổ
chức sản xuất phải đạt chất lượng cao, đồng đều, giá hợp lý, phù hợp với điều
kiện cạnh tranh của thị trường quốc tế. Do các bất lợi trên mà các nhà đầu tư
nước ngoài thường quan tâm đến hình thức KCN, nhằm tận dụng lợi thế về thị
trường nội địa. Điều này nghĩa là việc xây dựng thành công các KCX thường
gặp khó khăn hơn là KCN. Việc các nhà đầu tư nước ngoài coi trọng mô hình
KCN là có căn nguyên riêng của nó, nhưng cần phải thấy được một vấn đề là
nếu một quốc gia có quá nhiều KCN hoạt động sẽ có hàng nghìn doanh
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng chủ yếu do nước ngoài đầu tư. Điều này sẽ tạo
ra hiện tượng cạnh tranh gay gắt không cần thiết trên thị trường nội địa.
Để khuyến khích đầu tư vào KCX, cần rà soát lại toàn bộ hệ thống
chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước theo tinh thần khuyến khích mạnh hơn,
ưu đãi nhiều hơn cho KCX, làm cho nó có sức hấp dẫn cao hơn đối với các
nhà đầu tư so với KCN. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng của các KCN và KCX
là không ít khó khăn, nhưng việc kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn
này là khó khăn hơn nhiều. Chất lượng của một KCX hay KCN phụ thuộc
nhiều vào chất lượng của các dự án đã thu hút được.
Như vậy KCN và KCX có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự
khác nhau về mục đích, đối tượng tham gia hay mối liên kết của chúng đối
11
với nền kinh tế. KCN thường được nhận một sự ưu tiên nhất định từ phía
chính quyền địa phương và Chính phủ với vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế
vùng (địa phương), KCN bao gồm những doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp nước ngoài. KCX cũng được xác định là KCN nhưng tập trung những
doanh nghiệp chuyên sản xuất chế biến các hàng xuất khẩu, được sự ưu tiên
đặc biệt của Chính phủ, có vai trò then chốt trong việc chuyển từ nền kinh tế

Nói tóm lại, sự ra đời của các KCN nhằm mục đích cung cấp các điều
kiện về kết cấu hạ tầng tốt nhất cho việc xây dựng và vận hành của các cơ sở
sản xuất công nghiệp đặc biệt là hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư
vào nước sở tại sẽ có được đầy đủ điều kiện mặt bằng, đường sá, hệ thống
cung cấp điện, nước, hệ thống xử lý nước thải… để sản xuất kinh doanh mang
lại lợi ích cho cả hai phía.
1.1.2. Tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội
KCN ở Việt Nam ra đời cùng với chính sách đổi mới mở cửa do Đại
hội Đảng lần thứ VI khởi xướng. Hoạt động của các KCN trong thời gian qua
đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của
đất nước. Đối với những nước thuần nông như Việt Nam thì việc phát triển
KCN trước hết tạo tiền đề cho đô thị hoá nông thôn, tạo bước chuyển dịch cơ
cấu kinh tế mới theo hướng phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm cho
lao động khu vực nông thôn. KCN cũng chính là cầu nối giữa nước ta với thế
giới bên ngoài, đóng vai trò tiên phong trong việc chuyển từ nền kinh tế khép
kín sang nền kinh tế mở cửa.
Tuy nhiên, sự phát triển của KCN trong thời gian qua cũng đang phá vỡ
kết cấu xã hội nông thôn truyền thống, bộc lộ những bất cập trong giải quyết
vấn đề môi trường sinh thái, việc làm và thu nhập của người dân mất đất, sự
quá tải của hệ thống kết cấu hạ tầng…
13
1.1.2.1. Những tác động tích cực của các khu công nghiệp đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay
Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh việc thực hiện công cuộc
CNH, HĐH nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho
CNXH. CNH, HĐH được xác định là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ lên CNXH. Quá trình CNH, HĐH được thực hiện trên cơ sở giải
phóng sức sản xuất trong nước phát huy cao độ các nguồn lực trong nước
đồng thời tìm cách thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Nguồn lực trong nước và

khai dự án, tránh bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Hơn nữa, trong nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp tìm mọi cách tối thiểu hoá chi phí để đạt được giá
thành rẻ nhất. KCN là địa bàn mà doanh nghiệp có thể thực hiện được điều
đó. KCN được xây dựng tập trung theo chiều dọc, là nơi có nhiều đất trống,
gần cảng, giao thông thuận lợi cho xe trọng tải lớn ra vào, có mạng lưới điện
để cho nhà đầu tư có thể xây dựng và vận hành các nhà máy. KCN còn được
trang bị kết cấu hạ tầng đầy đủ nên khi đầu tư vào thì các nhà đầu tư sản xuất
sẽ giảm được rất nhiều chi phí như chi phí mua đất xây dựng nhà máy với giá
cao, chi phí xây dựng hệ thống đường dây tải điện, đường giao thông vận tải
vào nhà máy, thiết lập hệ thống thông tin liên lạc Việc bố trí các nhà máy
theo chiều dọc (sản phẩm của nhà máy này là nguyên liệu của nhà máy khác)
và tập trung vào một khu vực nên các doanh nghiệp dễ dàng giải quyết đầu
vào và đầu ra với chi phí thấp nhất. Do đó, các doanh nghiệp KCN có điều
kiện thuận lợi hơn để đạt mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp bên ngoài
KCN nên KCN thường hấp dẫn nhà đầu tư.
Thực tế ở nước ta cho thấy, KCN có vai trò tích cực vào việc thu hút
vốn đầu tư đặc biệt là vốn FDI. Số dự án đầu tư cả trong và ngoài nước vào
các KCN chiếm một tỷ trọng khá lớn. Sự gia tăng vốn đầu tư vào các KCN
góp phần quan trọng vào việc tăng tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, đóng góp
15
trực tiếp vào việc tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Mặt
khác còn tác động, kích thích tăng đầu tư mới ở các doanh nghiệp ngoài
KCN. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, riêng năm 2008, các KCN trên cả nước
đã thu hút được gần 9,4 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 271 dự án
mới với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt gần 7,5 tỷ USD và 236 lượt dự án
tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt trên 1,6 tỷ USD
Tính đến nay, các KCN cả nước đã thu hút được 3325 dự án có vốn đầu
tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư gần 39.3 tỷ USD.
Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của các KCN trên
cả nước đạt gần 50%, riêng các KCN đã vận hành đạt tỷ lệ lấp đầy gần 74% [49].

hiện đại và các phương pháp quản lý tiên tiến của các nhà đầu tư được thực
hiện tốt thông qua các KCN. Mặc dù trong những giai đoạn đầu hoạt động của
các KCN, đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào các ngành như dệt may,
giày da, lắp ráp điện tử, nhưng càng về sau thì việc đầu tư vào các lĩnh vực
công nghệ hiện đại như đúc chính xác, sản xuất cơ khí, sản xuất cáp điện, linh
kiện điện tử ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn cả về sản phẩm và kim
ngạch xuất khẩu. Quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra dưới nhiều hình
thức: đào tạo công nhân nước chủ nhà để sử dụng máy móc, thiết bị, công
nghệ sản xuất, đưa máy móc hiện đại sang để tiến hành sản xuất nhằm mục
đích tạo năng sất lao động cao Các công ty ở các KCN có thể chuyển giao
một số công nghệ mới vào giúp đỡ kỹ thuật cho các nhà cung cấp địa phương
hoặc các công ty sản xuất chi tiết sản phẩm của KCN. Bên cạnh đó, các doanh
nghiệp KCN còn thu hút một lượng lớn người lao động Việt Nam vào các vị
trí quản lý doanh nghiệp quan trọng, đội ngũ lao động này được tiếp xúc với
phương thức quản lý tiên tiến, kỹ năng maketting, quản lý tài chính, tổ chức
nhân sự Đội ngũ này khi chuyển đi làm việc tại các doanh nghiệp Việt Nam
hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp sẽ vừa áp dụng được phương pháp quản
lý tiên tiến đã tiếp thu được vào hoạt động của doanh nghiệp mình, vừa nâng
17
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và truyền đạt những kiến thức quản
lý cho người lao động Việt Nam khác.
Bốn là, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp
lý và hiệu quả.
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là một nội dung cơ bản trong quá trình
CNH, HĐH ở nước ta bởi nó tạo điều kiện cho nền kinh tế vận động phù hợp với
các quy luật khách quan, thúc đẩy phân công lao động xã hội, gắn sản xuất với
nhu cầu thị trường trong nước và xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, mở cửa
và hội nhập kinh tế, giúp khai thác tối đa mọi nguồn lực, tiềm năng của đất nước,
của ngành, của doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đảng ta xác định
xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ, trong

các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vào một địa điểm xác định, Ban quản
lý các KCN có thể kiểm soát tốt hơn mức độ ô nhiễm của các doanh nghiệp.
Đồng thời, về phía mình các doanh nghiệp công nghiệp cũng có điều kiện
phòng chống ô nhiễm môi trường với chi phí ít nhất do sử dụng lại phế thải
của nhau, do có sự liên kết xử lý ô nhiễm và sự hỗ trợ tập trung của nhà nước.
Hơn nữa, KCN được sử dụng các biện pháp triệt để trong việc xử lý
môi trường ngay từ khâu quy hoạch. Trong KCN, các doanh nghiệp buộc phải
có hệ thống xử lý chất thải cục bộ đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra hệ thống
chung. Từng KCN phải có nhà máy xử lý nước thải tập trung và được đầu tư
xây dựng song song với việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN. Như vậy,
việc bảo vệ môi trường trong toàn khu vực KCN được thực hiện tốt hơn so
với tại các cơ sở công nghiệp nằm rải rác ở nhiều khu vực khác nhau. Đồng
thời, KCN là địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi
trường từ nội thành, từ các vùng dân cư, phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển
bền vững. Với tác động này, việc xây dựng các KCN tập trung được coi là
một giải pháp quan trọng của sự phát triển KT- XH.
19
Trong vài năm tới ở nước ta sẽ có khoảng 65% KCN đang hoạt động có
hệ thống nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường. Tuy nhiên, nó đòi hỏi các cơ
quan quản lý Nhà nước phải có quyết tâm cao kết hợp với các biện pháp cụ
thể. Thời gian qua đã có nhiều dự án xử lý nước thải tập trung trong KCN đi
vào vận hành, tổng số cơ sở xử lý nước thải tập trung lên 60 nhà máy, đạt gần
1/2 mục tiêu kế hoạch đến năm 2010. Ngoài ra, tại KCN đang xây dựng, có
20 nhà máy xử lý nước thải tập trung được xây dựng và dự kiến hoàn thành
trong năm nay. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Kế
hoạch và Đầu tư đã dự thảo Quy chế Bảo vệ môi trường KCN. Hy vọng sau
khi ban hành Quy chế này, chúng ta sẽ có cơ sở pháp lý trong triển khai công
tác bảo vệ môi trường KCN.
Sáu là, góp phần tăng cung ứng hàng hoá dịch vụ đáp ứng nhu cầu
trong nước và xuất khẩu.

hướng hiện đại, văn minh và bảo vệ môi trường nên phải thực hiện di dời
nhà máy xí nghiệp sản xuất trong các đô thị ra các vùng ngoại thành.
KCN là nơi tiếp nhận các nhà máy xí nghiệp đó tạo nên một địa bàn sản
xuất đồng bộ tập trung. Chính vì vậy, vấn đề quy hoạch phát triển KCN
không thể tách rời quy hoạch phát triển đô thị, phát triển kinh tế. Kinh
nghiệm phát triển KCN trong thời gian qua cho thấy, việc hình thành các
khu đô thị mới chỉ trở thành hiện thực khi có sự phát triển đồng bộ giữa
công nghiệp, khu dân cư, các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong
và ngoài hàng rào.
1.1.2.2. Những tác động tiêu cực khi thành lập và hoạt động của các
khu công nghiệp
Việc xây dựng và phát triển các KCN, KCX của nước ta trong thời gian
qua bên cạnh những thành tựu đạt được cũng đã bộc lộ những hạn chế, đặt ra
những vấn đề bức xúc cần phải nghiên cứu giải quyết.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status