MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá là sản phẩm của con người, của cộng đồng người, gắn liền với
cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội, được xác định bao gồm tất
cả các giá trị vật chất và tinh thần, tính cách và lối sống, truyền thống của mỗi
dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội. Nó tồn tại qua thời gian và lưu truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác, thấm sâu vào lối sống của cộng đồng dân cư và trở thành
bản sắc riêng của mỗi dân tộc, quốc gia.
Là quốc gia đa dân tộc thống nhất “nền văn hoá Việt Nam là nền văn hóa
thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái riêng.
Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt
Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc…”. Những năm gần đây, vấn đề văn hóa
nói chung và văn hóa các DTTS nói riêng được sự quan tâm nhiều của xã hội.
Nhận thức về vai trò quyết định của văn hóa đối với sự phát triển ở nước ta cũng
được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Ngay từ Nghị quyết Hội nghị
lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: Văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát
triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa
người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Nó vừa là một động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội, vừa là một trong những mục tiêu của chúng ta. Nhằm
bổ sung và hòan thiện tư tưởng được nêu trong Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa
VIII, Đảng ta đã đề ra chính sách văn hóa trong kinh tế “Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội.
Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển trở thành vấn đề được quan tâm,
nhận thức và vận dụng vào thực tiễn đổi mới ở nước ta. Cùng với phát triển kinh
tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, Đảng ta nhấn mạnh phát triển văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Xét về mặt lý luận, kinh tế - xã hội phát
triển, đời sống của người dân được nâng cao đó là tiền đề, điều kiện cho phát
mối quan hệ giữa văn hóa và đổi mới. “Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hóa
Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989) của GS.TS Đỗ Huy, PGS.
Trường Lưu. “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001) của GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn - TS. Phạm
Văn Đức - TS. Hồ Sĩ Quý, Nxb Chính trị quốc gia; Chương trình Khoa học -
Công nghệ cấp nhà nước mã số KX-05 “Phát triển văn hoá, con người và
nguồn nhân lực trong thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá” giai đoạn 2001-
2005, do GS,VS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm gồm 12 đề tài. Các công trình
này đã tập trung làm rõ 3 chủ đề lớn đó là: Văn hoá và văn hoá Việt Nam đầu
TK XXI; con người và con người Việt Nam đầu TK XXI; phát triển nguồn nhân
lực và nguồn nhân lực Việt Nam đầu TK XXI. Trong đó đáng chú ý là những
phương pháp tiếp cận mới và những kết quả mới nhất trong nghiên cứu về con
người, nguồn lực con người, đời sống văn hoá và xu hướng phát triển văn hoá ở
2
các vùng miền khác nhau, về quan hệ nhân quả phức tạp giữa văn hoá - con
người - nguồn nhân lực.
Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình khác như: “Văn hóa các dân tộc
Việt Nam thống nhất mà đa dạng” (2002), (Nông Quốc Chấn - Huỳnh Khái
Vinh, Nxb Chính trị quốc gia; Phạm Minh Hạc với tác phẩm “Phát triển văn
hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hóa nhân loại” (1996),
Nxb Khoa học Xã hội; “Sáng tạo và bảo tồn giá trị văn hóa, văn nghệ các dân
tộc thiểu số Việt Nam” (1998), của Hội Văn học - Nghệ thuật các dân tộc thiểu
số Việt Nam, in tại trường Trung học Kỹ thuận In, Hà Nội.
Nhìn chung, các công trình này nghiên cứu văn hóa dưới góc độ chung và
đã đạt được những thành công to lớn trong việc nghiên cứu khái niệm, cấu trúc,
giá trị, và hình thức biểu hiện của văn hóa.
Các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển, về vai
trò của văn hóa trong nền kinh tế thị trường có: Trần Ngọc Hiên, "Văn hóa và
phát triển - từ góc nhìn Việt Nam", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, (1993);
Phạm Văn Đồng, "Văn hóa và đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
quan trọng của việc bảo tồn những giá trị, những di sản văn hóa nói chung và
văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số nói riêng trong công cuộc đổi mới. Tuy
nhiên cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về phát huy vai trò
văn hóa bản địa các dân tộc thiếu số Lâm Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của văn hóa
và thực trạng phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng, luận văn dự báo xu hướng biến
đổi và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò văn hóa bản địa
các dân tộc thiếu số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong công
cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Lâm Đồng.
- Làm rõ thực trạng phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Lâm Đồng và những vẫn đề đặt ra.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân
tộc thiểu số thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Lâm đồng trong công
cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Vai trò văn hóa bản địa đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay”.
* Phạm vi nghiên cứu:
Văn hóa là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, đa dạng và phong phú, đề tài
nghiên cứu, làm rõ vai trò của văn hóa bản địa Lâm Đồng đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội những không đi vào nghiên cứu toàn bộ các vấn đề thuộc về văn
4
* Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Luận văn góp phần củng cố nhận thức lý luận về văn hóa, vai trò văn hóa
bản địa các dân tộc thiếu số Lâm Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, từ
đó góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh
tế, hình thành nên ở mỗi người thái độ đúng đắn, hợp quy luật trong việc giữ
gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa nói chung và văn hóa bản địa các dân
tộc thiểu số nói riêng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Luận văn còn có thể sử
5
dụng vào việc nghiên cứu những vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở các tỉnh
Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm có 3 chương 8 tiết:
Chương 1: Vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm
Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - cơ sở lý luận.
Chương 2: Vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng
đối với phát triển kinh tế - xã hội - thực trạng và vấn đề đặt ra.
Chương 3: Xu hướng biến đổi và giải pháp phát huy vai trò văn hóa bản
địa các dân tộc thiểu số đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng
trong giai đoạn hiện nay.
6
Chương 1
VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ BẢN ĐỊA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1. Quan niệm về văn hóa
Văn hóa, là thuật ngữ đa nghĩa, thường được xem xét từ nhiều khía cạnh
khác nhau. Cho đế nay người ta đã thống kê có hơn 400 định nghĩa về văn hóa.
Điều đó có nghĩa là sự xác định khái niệm văn hóa không đơn giản bởi mỗi học
các truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân
tộc, với các biểu hiện chính là: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Văn hóa là sự
phát triển năng lực của con người trong quá trình không ngừng nâng cao trình
độ làm chủ của mình đối với tự nhiên, xã hội và bản thân, nhằm thỏa mãn nhu
cầu về tinh thần và vật chất trong hoạt động thực tiễn hướng tới các giá trị nhân
văn. Chính lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó. Trên
hành tinh này không có gì quý hơn con người. Con người vừa là chủ thể, vừa là
sản phẩm của văn hóa. Điều đó được phản ánh rõ nét qua những đặc trưng và
chức năng của văn hóa, gồm:
- Một là, văn hóa có tính hệ thống. Nhờ có tính hệ thống chúng ta hiểu được
văn hóa không phải là tập hợp, là phép cộng đơn thuần những hiện tượng văn
hóa mà văn hóa tồn tại với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của
xã hội, thực hiện được ch?c năng tổ ch?c xA hội. Chính văn hóa làm tăng độ ổn
định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để đối phó với
môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
- Hai là, văn hóa có tính giá trị, nhưng là những giá trị kết tinh lao động sáng
tạo của con người trên các bình diện hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã
hội và cải tạo chính bản thân mình, hướng tới chân, thiện, mỹ. Nghĩa là hướng tới
sự tốt đẹp, nhân văn và không ngừng hoàn thiện của nhân loại. Nói đến văn hóa
không chỉ là nói đến những giá trị tĩnh, kết tinh ngưng đọng, mà còn là sự vận
động, phát triển và hoàn thiện những giá trị ấy trong thời gian và không gian. Tính
giá trị của văn hóa là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Tính giá
trị là đặc trưng quan trọng và cần để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nhờ vào đặc
trưng giá trị, theo mục đích chúng ta có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho
nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần).
- Ba là, hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ,
nên văn hóa có tính lịch sử. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều
sâu và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại
và phân bố lại các giá trị.
Như vậy, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi
quyết định tính dân tộc cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội, thì văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm Đồng là một bộ phận
và là nét đặc trưng trong văn hóa Việt, nó không chỉ góp phần tạo nên tính
đa dạng phong phú cho bản sắc văn hóa Việt mà còn có vai trò hết sức quan
trọng. Vì trình độ nhận thức, thưởng thức văn hóa, giữ gìn, phát huy vai trò văn
hóa của các tộc người bản địa không chỉ ảnh hưởng đến địa phương nơi họ cư
trú mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ công cuộc xây dựng đất nước trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở đây đề tài dùng từ “bản địa” là để chỉ bộ phận
cư dân gốc, những cư dân đã cư trú lâu đời trên xứ sở này, và hệ thống giá trị
văn hóa của các cư dân đó, bao gồm cư dân của các tộc người: K’Ho, Churu,
Mạ, Mnông.
9
1.2.1. Văn hóa vật chất và vai trò của nó
Để thích nghi với điều kiện môi trường sống, đặc biệt là núi rừng trùng
điệp, sự chia cắt khắc nghiệt và với một số dân ít ỏi, thưa thớt, văn hoá vật chất
của đồng bào các DTTS bản địa Lâm Đồng có những nét độc đáo riêng biệt.
1.2.2. Văn hóa tinh thần và vai trò của nó
Đơn vị tổ chức xã hội cao nhất mà người các tộc người bản địa Lâm Đồng
đã đạt đến là Buôn (Bon). Đó vừa là một đơn vị tổ chức xã hội duy nhất, cao
nhất mang tính chất xã hội tương đối hoàn chỉnh, tương đối độc lập và tách biệt
khép kín về khu vực canh tác, vừa là một đơn vị kinh tế tự cấp, tự túc của. Buôn
của đồng bào bản địa là làng truyền thống theo kiểu một công xã nông thôn, vận
hành độc lập với những tập tục bình đẳng, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, giữ
lại cho họ những phẩm chất tốt đẹp luôn có nguy cơ bị "hoang dã hóa".
1.3. Những yếu tố tác động đến vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc
thiểu số Lâm Đồng
Công cuộc đổi mới đất nước được Đảng ta đề ra và lãnh xướng từ Đại hội
VI (1986) đến nay một mặt đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, đời sống của người dân ngày càng được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh
thần, nhưng mặt khác đổi mới, mở cửa, hội nhập cũng ảnh hưởng đến mọi mặt
xúc, giao lưu kinh tế - xã hội tộc người và cho sự phát triển kinh tế- xã hội
của chính các tộc người bản địa đó đặc biệt là liên quan đến sự hình thành
và phát triển nền văn hóa của họ.
- Vị trí địa lý, địa giới hành chính
- Đặc điểm địa lý - tự nhiên
2.1.2. Dân cư và phân bố dân cư
Nhìn chung các dân tộc bản địa Lâm Đồng có những đặc điểm sau:
Về dân số: Cũng như dân số toàn tỉnh, dân số của mỗi tộc người cũng như
t• lệ tăng dân số rất thấp, mặc dù t• suất sinh cao, nhưng t• suất chết thô cũng
rất cao, trong khi tuổi thọ trung bình lại thấp do nhiều nguyên nhân.
Về trình độ sản xuất: Các dân tộc thiểu số bản địa ở Lâm Đồng tuy thuộc
hai ngữ hệ khác nhau, nhưng là những tộc người đã sớm lựa chọn mảnh đất
Nam Tây Nguyên làm nơi cư trú nên trong quá trình sinh tồn giữa họ không chỉ
có sự cận cư mà còn thường xuyên có sự giao lưu, trao đổi văn hóa với nhau, do
vậy có nhiều nét tương đồng, nhất là trình độ kỹ thuật và trình độ sản xuất thì
đều ở mức khá thấp. Đặc biệt là về kinh tế, ngoài một bộ phận nhỏ đồng bào các
dân tộc thiểu số bản địa sinh tồn ở những vùng đất trũng hoặc tương đối bàng
phẳng và thuận lợi có làm ruộng nước thì phần lớn còn lại sống chủ yếu nhờ vào
việc đốt nương làm rẫy và hái các sản phẩm từ rừng. Nhu cầu dinh dưỡng hàng
ngày của họ được đáp ứng từ cây lương thực và thực phẩm do họ trồng trong
rẫy của mình, còn thức ăn động vật chủ yếu là săn bắt. Đó là những động vật săn
được theo mùa và những động vật được đánh bắt từ sông suối tự nhiên và có
những động vật do họ thuần dưỡng và nuôi song không nhiều.
Về cơ cấu xã hội: tồn tại, vận động trong mối quan hệ hài hoà với tự nhiên
và còn lệ thuộc vào tự nhiên, nên cơ cấu xã hội đồng bào các dân tộc thiểu số
11
bản địa Lâm Đồng cũng phản ánh khá rõ quan hệ nói trên. Tổ chức xã hội cao
nhất của các tộc người bản địa ở Lâm Đồng là buôn (làng), nhưng làng ở đây
cũng mang nặng tính tự quản và tương trợ, bởi thực chất làng là sự mở rộng của
một số gia đình, dòng họ nhằm nâng cao sức mạnh của con người để tồn tại hơn
văn hóa bản địa mang đặc trưng riêng đang vươn mình lan tỏa trong một môi
trường mới. Ngay cả những khu vực vùng sâu, vùng xa làm du lịch sinh thái và
du lịch văn hóa cũng không còn xa lạ với đồng bào các DTTS bản địa Lâm
Đồng.
12
Vai trò của văn hóa bản địa trong việc xây dựng những chuẩn mực ứng xử,
những giá trị thinh thần tốt đẹp trong đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính
trị - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Văn hóa bản địa với sự ổn định và phát triển xã hội ở Lâm Đồng.
Vai trò của lễ hội trong xây dựng lối sống mới hiện nay.
Vai trò ý thức cộng đồng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
+ Nguyên nhân đạt được những kết quả trên.
Sở dĩ, văn hóa bản địa Lâm Đồng đã góp phần quan trọng không nhỏ đến
sự ổn định, phát triển kinh tế - xã hội ở Lâm Đồng là bởi các nguyên nhân cơ
bản sau:
Thứ nhất: Văn hóa bản địa Lâm Đồng là nền văn hóa có nhiều giá trị văn
hóa tích cực được kết tinh từ đời này qua đời khác và được khai thác, phát huy
vai trò tích cực trong suốt quá trình sinh tồn của các tộc người bản địa qua bao
đời nay.
Thứ hai: Sự nỗ lực của người dân các tộc người bản địa Lâm Đồng trong
việc chinh phục, khai thác thiên nhiên hùng vỹ và nỗ lực vươn lên khẳng định
mình trước tự nhiên cũng như trong đời sống xã hội.
Thứ ba: Nhờ sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, sự quan tâm của cả cộng
đồng, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh đã từng ngày khởi sắc.
Các dự án, chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đã phát huy hiệu quả
mang lại những thay đổi lớn ở vùng sâu, vùng xa của Lâm Đồng.
2.2.2. Tác động tiêu cực của “văn hoá bản địa” các dân tộc thiểu số tỉnh
Lâm Đồng và nguyên nhân
Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển không thuần tuý một chiều là thúc
đẩy, tạo động lực, mà còn là nhân tố cản trở, níu kéo, kìm hãm sự phát triển. Cùng
miền núi. Sự áp đặt của văn hóa người kinh ở miên xuôi lên miền núi đã phá vỡ
các cơ cấu truyền thống, tạo nên sự bất bình đẳng trong văn hóa, tác động đến
sự ổn định và phát triển của xã hội.
+ Sống trong môi trường cộng đồng, được giáo dục theo khuôn phép cộng
đồng, được trang bị những kiến thức và chuẩn mực cộng đồng, vì thế phần lớn
đồng bào các DTTS bản địa Lâm Đồng am hiểu luật tục nhiều hơn pháp luật
Nhà nước. Nhất là với một hệ thống pháp luật được mang đến từ bên ngoài,
được truyền đạt bằng ngôn ngữ xa lạ, nên họ thường có sự hiểu biết không đầy
đủ.
+ Phong tục, tập quán, lối sống của đồng bào đã tồn tại qua bao đời nay, đã
ăn sâu vào tiềm thức của họ sẽ không dễ dàng thay đổi một sớm một chiều.
2.3. Một số vấn đề đặt ra đối với việc phát huy vai trò văn hóa bản địa
các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng trong thời kỳ đổi mới, hội nhập
Văn hóa dân tộc là sức sống bên trong, là động lực, là mục tiêu cho sự
trường tồn, phát triển của dân tộc. Do vậy, để thúc đẩy sự phát triển, đáp ứng
nhu cầu phát triển của xã hội, việc bảo tồn các giá trị văn hóa, đấu tranh chống
sự lợi dụng văn hóa vì mục đích chính trị là những vấn đề đặt ra trong thời kỳ
đổi mới hội nhập hiện nay.
14
2.3.1. Bảo tồn những giá trị văn hoá bản địa với việc tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại nhưng vẫn giữ vững được bản sắc
2.3.2. Bảo tồn những giá trị văn hóa bản địa trước yêu cầu của đổi mới vì
sự phát triển
2.3.3. Đấu tranh chống lợi dụng văn hóa chia rẽ khối đại
đoàn kết dân tộc
15
Chương 3
XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ VĂN HOÁ
BẢN ĐỊA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI CỦA TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
quyết Trung ương 5, khóa VIII về "xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc" và sau đó là hàng loạt các cuộc vận động, các dự án
16
nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống. Đây là một chính sách
văn hóa vừa phù hợp với xu thế thời đại, vừa hợp với nguyện vọng của nhân dân
nước ta nói chung và đồng bào các tộc người bản địa Lâm Đồng nói riêng.
3.1.4 . Xu hướng tồn tại đan xen giữa văn hóa truyền thống và hiện đại
Tồn tại đan xen giữa xu hướng truyền thống và điện đại là xu hướng chung,
tuy nhiên với đồng bào bản địa ở Lâm Đông thi đây là vấn để cần đặc biệt quan
tâm. Xu hướng này vừa mang tính đan xen có khi gò ép, vừa mang tính xâm
thực có khi thống nhất với nhau. Đồng bào bản địa Lâm Đồng vốn khép mình
trong nền sản xuất tự cung tự cấp, phụ thuộc vào tự nhiên là chính nên khi tiếp
cận với nền kinh tế thị trường phát triển họ chưa kịp tự bảo vệ mình thì đã bị tổn
thương và ngộ nhận. Hơn nữa, những năm qua tình trạng di dân ồ ạt diễn ra đã
phá vỡ không gian tương đối thuần nhất của các dân tộc bản địa Lâm Đồng đã
thúc đẩy nhanh quá trình giao lưu, đồng hóa văn hóa giữa các tộc người, nhất là
giữa người Kinh với các dân tộc thiểu số, dẫn tới tình trạng “nhiễu loạn”, trong
biến đổi văn hóa.
3.1.5. Xu hướng đồng hóa tự nhiên về văn hóa
Đồng hóa tự nhiên là một quá trình tiếp xúc, giao lưu ảnh hưởng văn hóa tự
nhiên giữa các tộc người, thường là giữa các tộc người có dân số lớn, trình độ
phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa cao hơn các tộc người hay nhóm nhỏ tộc
người láng giềng, dẫn đến tình trạng các tộc người hay các nhóm nhỏ tộc người
đó tiếp thu văn hóa của tộc người có trình độ phát triển cao hơn, thậm chí các
tộc người nhỏ ấy có thể bị đồng hóa một phần hay hoàn toàn vào các tộc người
lớn hơn và tự coi mình là thành viên của tộc người ấy. Ở Lâm Đồng hiện nay đã
và đang diễn ra hai quá trình đồng hóa tự nhiên là:
Th? nhất: Đồng hóa về văn hóa giữa các tộc người thiểu số bạn địa mà chủ
yếu là giữa các nhóm địa phương của các tộc người đã có quá trình sinh tồn giáp
ranh lẫn nhau. Tuy nhiên quá trình này chỉ diễn ra giữa các nhóm bản địa vốn
3.2.1. Nâng cao nhận thức của cư dân bản địa về văn hóa và vai trò của
văn hóa
Thực tiễn đã chứng minh con người khác con vật là ở chỗ con người có
nhận thức. Nhận thức là cơ sở để con người nhận biết thế giới và hiểu biết thế
giới đó, từ đó con người có thể tác động vào thế giới đó một cách phù hợp nhất,
để đem lại hiệu quả cao nhất cho con người, là thành phần không thể thiếu trong
sự phát triển. Là chủ nhân của nền nông nghiệp nương rẫy, nhận thức của đồng
bào các DTTS bản địa Lâm Đồng đến nay tuy đã được nâng lên nhưng phổ biến
vẫn là nhận thức kinh nghiệm. Do vậy, nâng cao trình độ nhận thức của cư dân
bản địa về vai trò của văn hóa đang trở nên cấp thiết trước sự tác động của các
nền văn hóa ngoại lai, của kinh tế thị trường đang làm thay đổi không chỉ ở nếp
nghĩ của người dân mà cả trong cách làm của họ.
Để nâng cao trình độ nhận thức của đồng bào các tộc người bản địa, cần
thực hiện tốt các giải pháp sau:
Một là: Mở rộng, củng cố, phát triển giáo dục về mọi mặt, thu hút con em
các DTTS bản địa đến trường nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí, văn hóa,
khoa học, kích thích nhu cầu hiểu biết, khám phá ở người học.
18
Hai là: Đẩy mạnh và phổ biến công tác khuyến nông ở địa phương, chú
trọng hướng dẫn, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất nhằm
thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và chuyển đổi phương thức tập quán
canh tác cũ của đồng bào dân tộc thiểu số.
Ba là: Thực hiện, tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú,
đa dạng, phù hợp với trình độ dân trí của từng vùng nhằm nâng cao trình độ
hiểu biết và làm chuyển biến nhận thức của đồng bào về vai trò và chức năng
của văn hoá trước những nhu cầu và sự phát triển của đời sống xã hội.
Bốn là: Lồng ghép truyên truyền, giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa thông qua các phong trào hoạt động của các đoàn thể, các trường
học ở cơ sở, nâng cao lòng tự hào và ý thức cộng đồng cho chính người đồng
bào DTTS bản địa; định hướng và giáo dục thế hệ trẻ các dân tộc biết yêu, quý
cơ sở vật chất ấy.
Ba là: Kế thừa những kết quả, thành tựu đạt được trong công tác xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn theo hướng xây dựng nông thôn văn minh,
hiện đại, bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với từng vùng, từng
dân tộc.
Bốn là: Chủ động phối hợp, quản lý các lễ hội tôn giáo để nắm và hướng
dẫn phần hội theo các định hướng văn hoá mới, góp phần hạn chế những biểu
hiện mê tín, lợi dụng lễ của những người xấu; nghiên cứu hình thành một số lễ
hội mới để thu hút nhân dân tham gia, góp phần hình thành truyền thống riêng
cho thế hệ mai sau.
Năm là: kinh nghiệm cho biết, công tác tuyên truyền, nhất là đối với những
vùng trình độ dân trí thấp, không thể thiếu đội ngũ tuyên truyền miệng cơ sở.
Thông qua việc tuyên truyền lồng ghép với các chương trình khác như “Dân số
và phát triển”… đội ngũ báo cáo viên (tất nhiên đội ngũ này phải thông thạo
tiếng dân tộc) sẽ “mưa dầm thấm lâu” đưa đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và Chính phủ đến với dân.
Sáu là: Chú trọng đầu tư tôn tạo và khai thác các thiết chế văn hoá truyền
thống. Trong số các thiết chế xã hội, với tính cách là môi trường văn hoá, thì gia
đình, dòng họ, làng buôn là những thiết chế gần gũi và có ảnh hưởng lớn đến
văn hoá cá nhân.
Bảy là: Kiện toàn tổ chức các cơ quan Tuyên giáo, dân vận và đội ngũ làm
công tác tuyên giáo, dân vận. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động đến
từng thôn buôn chúng ta có thể nắm bắt tâm tư, trình cảm của người dân, để
hoàn thiện chủ trương chính sách, và chủ động ngăn chặn những hoạt động phản
tuyên truyền của kẻ địch. Nhận thức đúng mở đường cho hành động đúng. Gần
dân, sát dân không chỉ giúp nhận thức đúng và hành động đúng mà quần chúng
và cán bộ đảng viên sẽ tin tưởng và quyết tâm hành động hơn.
3.2.4. Tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên trách về văn hóa, đặc biệt là
đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
Cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở - một nguồn lực quan trọng trong việc xây
đẹp của văn hóa vật chất và tinh thần được đồng bào sáng tạo ra trong quá trình
sinh tồn, bao gồm từ không gian sống, hoạt động, lao động, sinh hoạt tín
ngưỡng…
Nói tóm lại, nhận thức mọt cách đúng đắn những xu hướng biến đổi của văn
hóa bản địa Lâm Đồng trước sự tác động của quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế
có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn
chế trong phương thức sản xuất, trình độ hiểu biết về khoa học, công nghệ, của
đồng bào bản địa; tiến tới xóa bỏ dần những phong tục, tập quán lạc hậu đang là
lực cản của quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Lâm Đồng; Khôi phục và phát
huy những yếu tố văn hóa truyền thống có giá trị một cách có hiệu quả.
21
KẾT LUẬN
Thăng hoa từ hơi thở cuộc sống, từ những năng lực, trình độ và phương
thức sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, văn hóa là tinh hoa được chưng cất,
kết tụ nên cái bản chất, bản sắc, tính cách của dân tộc, của thời đại. Tuy nhiên,
văn hóa cũng có sự tác động trở lại bằng sự hiện diện trong mọi hoạt động từ
suy tư đến hành động thực tế, từ hoạt động cá nhân đến những vận động xã hội,
từ hoạt động vật chất đến những sáng tạo tinh thần, những phát minh, những
sáng chế, tạo ra những giá trị mới của sản xuất vật chất, khoa học - kỹ thuật -
công nghệ, văn học- nghệ thuật. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế hiện nay, vai trò của văn hóa càng được gia tăng. Ở nước ta, nhận
thức về vai trò của văn hóa được làm rõ ở Nghị quyết Trung ương V khóa VIII
(1998) và các Nghị quyết Trung ương từ Đại hội VIII đến nay. Đặc biệt nhiều
chương trình dự án cụ thể được triển khai một cách đồng bộ nên nhận thức về
văn hóa và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển được nâng lên.Văn hóa
không chỉ là một thành tố của sự phát triển mà nó còn đóng vai trò là mục tiêu,
động lực và định hướng kinh tế- xã hội phát triển bền vững. Sự tiến bộ hay lạc
hậu của một cá nhân, phát triển hay trì trệ của một dân tộc, thành công hay thất
bại của một chiến lược phụ thuộc rất nhiều vào chỗ văn hóa đã được nhận thức
và sử dụng như thế nào trong phát triển kinh tế - xã hội.
và bền vững ở Lâm Đồng, mà còn tạo điều kiện thực hiện sự tiến bộ, công bằng
xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân. Các thiết chế văn hóa truyền thống tuy không còn vai trò
như trước, song vẫn có ảnh hưởng đến xây dựng, củng cố cộng đồng, đoàn kết
dân tộc. Tuy nhiên, văn hóa bản địa cũng có những tác động, dẫn đến tình trạng
đói nghèo ở Lâm Đồng không được giải quyết triệt để, một lối sống mới hình
thành theo hướng tiêu cực, coi nhẹ văn hóa dân tộc, dễ bị lôi kéo gây ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình củng cố khối đoàn kết dân tộc.
Trong quá trình phát triển chung của nhân loại ngày nay, trước xu thế toàn
cầu, hội nhập, văn hóa bản địa Lâm Đồng cũng chịu những tác động nhất định,
và việc giao lưu văn hóa là điều không tránh khỏi. Quá trình ấy đã, đang làm
cho nhiều nét văn hóa truyền thống bị mai một, thậm chí bị biến mất, thay vào
đó là sự hiện diện của những nét văn hóa mới. Tuy nhiên những nét văn hóa mới
hoặc là tồn tại dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống bản địa hoặc là có sự kết
hợp giữa văn hóa truyền thống với văn hóa mới, thậm chí là cả với văn hóa của
các dân tộc khác. Điều đó đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong
thời gian tới.Vai trò của văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở
lâm Đồng được phát huy là do nhiều nguyên nhân, mà cơ bản là do sự chuyển
biến đột ngột của cơ cấu kinh tế và phương thức canh tác, của cơ chế quản lý và
các chính sách mở cựa, hội nhập, của lối sống văn hóa, phong tục tập quán… Sự
chuyển biến đó làm cho cái bản địa đang bị cái ngoại sinh lấn át, cái mới đang
dần hình thành và đẩy lùi cái truyền thống song cái mới cũng chưa phải là cái
vững chắc,… đang là một trong những căn nguyên sâu xa của sự phát triển
không bền vững, và sự bất ổn về chính trị - xã hội ở Lâm Đồng. Trong thời gian
tới, văn hóa bản địa Lâm Đồng đang có những xu hướng biến đổi mang tính đa
chiều đòi hỏi phải được nhận thức thấu đáo và hướng giải quyết phù hợp. Các
giải pháp để giải quyết vấn đề và phát huy vai trò tích cực của văn hóa bản địa
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội phải được xác định một cách tổng hợp trên
23
nhiều mặt cả nhận thức đến hoạt động thực tiễn. Về nhận thức, yêu cầu bức xúc