một số giải pháp tài chính nhằm huy động vốn đầu tư trong nước cho phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh ninh bình - Pdf 14

1
Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tăng trởng và phát triển kinh tế.
Bất cứ một quốc gia nào, muốn phát triển kinh tế - xã hội đều cần phải có vốn.
Trong xu thế chung của công cuộc đổi mới (chuyển sang nền kinh tế nhiều thành
phần để từng bớc hội nhập với khu vực và quốc tế), chúng ta rất cần vốn đầu t để
thực hiện các mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Nằm ở cửa ngõ phía Nam của Đồng bằng Bắc Bộ, từ một Tỉnh có xuất phát
điểm thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém và lạc hậu; Nhng bằng những nỗ lực không
ngừng, Ninh Bình đã bớc đầu hoà nhập với công cuộc đổi mới chung của cả nuớc.
Là một Tỉnh giàu tiềm năng và có nhiều lợi thế. Song, Ninh Bình còn gặp không ít
khó khăn - Nhất là về vốn đầu t. Trong khi nhu cầu về vốn ngày càng tăng thì cơ
chế - chính sách huy động vốn vẫn còn nhiều bất cập, cha theo kịp với đòi hỏi của
thực tế. Để góp phần tháo gỡ vớng mắc này, Tác giả đã chọn đề tài Một số
giải pháp tài chính nhằm huy động vốn đầu t trong n-
ớc cho phát triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh Ninh Bình.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng huy động vốn để tìm
các giải pháp hữu hiệu, phù hợp với tình hình thực tế của Ninh Bình; Từng bớc
hoàn thiện việc sử dụng các công cụ tài chính nhằm huy động vốn đầu t trong nớc
cho phát triển kinh tế - xã hội.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc định ra
các giải pháp tài chính nhằm huy động các nguồn vốn trong nớc cho đầu t phát
triển kinh tế - xã hội, phù hợp với điều kiện thực tế của Ninh Bình. Tuy nhiên, đây
là lĩnh vực rộng, phức tạp nên luận văn chỉ đề cập tới việc sử dụng các công cụ:
2
Thu - Chi Ngân sách Nhà nớc; Huy động vốn trong các doanh nghiệp và dân c vào
thời kỳ 2000-2004.
4. Phơng pháp nghiên cứu.

tiêu dùng hiện tại để tăng tiêu dùng trong tơng lai (do thu nhập sẽ đợc tăng thêm).
- Trên góc độ rủi ro của đầu t: Đầu t đợc hiểu là sự đánh bạc về tơng lai, với
hy vọng rằng thu nhập hiện tại và tơng lai sẽ lớn hơn chi phí hiện nay và mai sau.
Từ các khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc trng cơ bản của đầu t
nh sau:
+ Đầu t luôn đòi hỏi một lợng vốn lớn. Do vậy, các nhà đầu t thờng phải
tiến hành vay vốn (vì vốn tự có không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu t). Khi tiến
hành vay vốn, bên cạnh việc phải trả lãi suất tiền vay, họ còn phải tìm đợc ngời cho
vay. Đặc trng này cho thấy: Các nhà đầu t phải tiến hành huy động vốn theo hình
thức và phơng thức phù hợp; Nếu không sẽ kìm hãm đầu t.
+ Đầu t là quá trình luôn gắn với thời gian. Thời gian càng dài thì việc bỏ
vốn đầu t càng gặp nhiều khó khăn khi dự tính những biến động của thị trờng (thị
trờng vốn và giá vốn, thị trờng lao động, thị trờng hàng hoá). Mỗi đồng vốn đều có
giá trị về mặt thời gian. Vì vậy, trong quá trình xem xét hiệu quả vốn đầu t, nhà
4
đầu t phải tính đến giá trị đồng vốn theo thời gian; Phải phân tích và xem xét kỹ l-
ỡng khi quyết định huy động vốn trung hạn hay dài hạn. Bên cạnh đó, Nhà nớc cần
có những chính sách định hớng, hỗ trợ, khuyến khích những dự án lớn có thời gian
thu hồi vốn chậm.
+ Đầu t luôn gắn liền với rủi ro và mạo hiểm. Bởi vậy, Kinh tế học đã quan
niệm Đầu t là đánh bạc với tơng lai. Nhà đầu t, luôn phải gánh chịu những rủi ro
do sự biến động của thị trờng; Hay những thay đổi về chính sách, chế độ của Nhà
nớc.
+ Đầu t luôn gắn liền với hiệu quả đầu t. Tuỳ theo mục đích đầu t, Nhà nớc
sẽ áp dụng các biện pháp khác nhau để khuyến khích tự đầu t; Xã hội hoá đầu t;
Hoặc trực tiếp đầu t bằng vốn Ngân sách.
+ Đầu t phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế. Khi GDP tăng thì đầu t
cũng tăng và ngợc lại. Việc huy động vốn cần phải chú ý đến sự tăng giảm của cầu
đầu t để đảm bảo cung phù hợp với nó.
1.1.2. Phân loại đầu t

chọn của nhiều nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Văn kiện đại hội Đảng
lần thứ 7 đã khẳng định: Tăng trởng kinh tế phải đi liền với tiến bộ và công bằng
xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trờng.[22]
1.2. Vốn đầu t - Nguồn vốn đầu t.
1.2.1. Vốn đầu t:
Vốn đầu t là số vốn đợc sử dụng để thực hiện mục đích đầu t đã dự định; Là
yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu t.
ở nớc ta, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, việc nhận thức về bản chất
và vai trò của vốn cũng khác nhau.
Trong thời kỳ bao cấp, phần lớn vốn đầu t thuộc sở hữu Nhà nớc. Các doanh
nghiệp Nhà nớc (DNNN) đợc cấp phát vốn (hoặc cho vay vốn) với lãi suất rất
thấp, nên ngời ta ít quan tâm đến tính hàng hoá, cùng những đặc trng của vốn.
Trong nền kinh tế thị trờng, vốn đợc nhận thức đúng với bản chất và vai trò
của nó. Mác đã khái quát khái niệm vốn qua phạm trù t bản. Theo Mác: T bản là
giá trị mang lại giá trị thặng d[22]
Vốn có những đặc trng cơ bản sau:
6
Một là: Vốn đợc biểu hiện bằng giá trị của những tài sản. Có nghĩa là vốn
phải đại diện cho một lợng giá trị thực của tài sản hữu hình và tài sản vô hình (máy
móc thiết bị, nhà xởng, đất đai, nguyên vật liệu, thơng hiệu, phát minh sáng
chế ). Một l ợng tiền đợc phát hành khống vào lu thông không có giá trị đảm bảo
(hay các khoản nợ không có khả năng thanh toán), không thể gọi là vốn.
Hai là: Vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Do vậy, nếu ở đâu
không xác định đợc đúng chủ sở hữu vốn, thì ở đó việc sử dụng vốn sẽ lãng phí,
kém hiệu quả.
Ba là: Trong nền kinh tế thị trờng, vốn đợc coi là hàng hoá đặc biệt. Vốn là
hàng hoá, vì: Cũng giống nh các hàng hoá khác, nó có giá trị và giá trị sử dụng; Có
chủ sở hữu và là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Nó là hàng hoá đặc
biệt, vì: Thứ nhất, có thể tách rời quyền sở hữu vốn với quyền sử dụng vốn. Hàng
hoá vốn khi bán đi sẽ không mất quyền sở hữu, mà chỉ bán quyền sử dụng. Lãi

Vốn đầu t phát triển kinh tế đợc hình thành từ hai nguồn: Nguồn vốn trong
nớc và nguồn vốn nớc ngoài. Ngày nay, trong điều kiện quốc tế hoá đời sống Kinh
tế - Xã hội, mở cửa và hội nhập; hầu hết các quốc gia đều kết hợp huy động cả 2
nguồn vốn trên. Đối với nớc ta và các nớc đang phát triển khác có tốc độ tăng tr-
ởng chậm, thu nhập bình quân đầu ngời thấp, nguồn vốn tiết kiệm so với GDP hạn
hẹp; Thì việc kết hợp huy động vốn nớc ngoài với vốn trong nớc (trong đó, vốn
trong nớc giữ vai trò quyết định) là cần thiết. Điều đó không những khắc phục đợc
tình trạng thiếu vốn, mà còn có điều kiện tiếp thu công nghệ hiện đại của nớc
ngoài; Nâng cao trình độ quản lý và tăng thêm việc làm.
Nguồn vốn nớc ngoài đựơc các quốc gia huy động cho đầu t phát triển,
thông qua: Vay nợ, nhận viện trợ, hoặc thu hút vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài
(FDI)
Nguồn vốn trong nớc là toàn bộ nguồn lực của một quốc gia có thể huy
động vào đầu t thực hiện các mục tiêu Kinh tế Xã hội của đất nớc. Nguồn vốn
trong nớc bao gồm: Nguồn tiết kiệm, nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên
nhiên và nguồn vốn vô hình.
1.2.2.1. Nguồn tiết kiệm.
* Tiết kiệm của Chính phủ
8
Tiết kiệm của Chính phủ là phần chênh lệch giữa tổng các khoản thu
(không bao gồm các khoản vay nợ trong nớc và nớc ngoài) và tổng các khoản chi
thờng xuyên của Ngân sách Nhà nớc (NSNN). Tiết kiệm Chính phủ bao gồm tiết
kiệm của NSNN và tiết kiệm của các DNNN.
Thu NSNN bao gồm: Các khoản thu từ thuế và các khoản thu ngoài thuế,
(phí, lệ phí, thu về cho thuê hay nhợng bán tài sản quốc gia, thu về lợi tức cổ phần,
thu về hợp tác lao động, những khoản thu khác). ở hầu hết các quốc gia, thuế là
khoản thu chủ yếu của NSNN. Vì vậy, các nhà kinh tế thờng sử dụng chỉ tiêu tỷ
suất thuế (số thuế huy động so với tổng sản phẩm quốc nội) để đánh giá khả năng
thu Ngân sách của mỗi nớc.
Chi NSNN bao gồm: Các khoản chi tiêu dùng thờng xuyên, chi đầu t phát

- Một bộ phận đợc gửi vào Ngân hàng, các quỹ tiết kiệm, mua trái phiếu
Chính phủ, mua trái phiếu doanh nghiệp; Hoặc trực tiếp cho vay lấy lãi
- Ngoài ra, còn một phận đợc đa vào cất trữ dới dạng: Vàng; Ngoại tệ; Hoặc
một số tài sản có giá trị cao.
Tiết kiệm trong dân c là một bộ phận của tổng tiết kiệm trong nớc. Đây là
một nguồn vốn tiềm năng rất lớn. Khai thác và huy động nguồn vốn này có vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc hình thành vốn đầu t để phát triển Kinh tế - Xã hội
của các quốc gia.
* Tiết kiệm của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng, Doanh nghiệp là những tổ chức kinh doanh
nhằm mục tiêu lợi nhuận; Có từ một chủ sở hữu trở lên; Đợc pháp luật thừa nhận,
về: Lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, mức vốn pháp định (tuỳ thuộc từng loại), Có
tên gọi riêng; Bảo đảm trách nhiệm của mình trớc pháp luật bằng tài sản (với trách
nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn).
Tuỳ thuộc vào mức độ mở cửa của nền kinh tế và sự hình thành, cũng nh
mức độ hoạt động của các loại thị trờng dẫn tới việc hình thành nhiều loại doanh
nghiệp khác nhau (nh: Doanh nghiệp Nhà nớc; Doanh nghiệp t nhân; Doanh
nghiệp cổ phần; Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc
ngoài). Các doanh nghiệp này có thể kinh doanh các hàng hoá - dịch vụ tài chính
(đối với các doanh nghiệp tài chính); Hoặc kinh doanh các hàng hoá - dịch vụ phi
tài chính (đối với các doanh nghiệp phi tài chính). Sự tồn tại của các doanh nghiệp
10
bất kể nó thuộc hình thức sở hữu nào, lĩnh vực kinh doanh nào cũng đều đợc coi là
huyết mạch của một nền kinh tế; Quyết định mức độ tăng trởng kinh tế của mỗi
quốc gia.
Tiết kiệm của doanh nghiệp hình thành từ phần lợi nhuận đợc để lại và quỹ
khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp.
Muốn tăng tiết kiệm (hay tích luỹ) của doanh nghiệp, thì trớc hết doanh
nghiệp phải nâng cao hiệu quả sản suât kinh doanh trên cơ sở: Tăng năng suất
động; Khai thác triệt để công suất của máy móc thiết bị; Tiết kiệm tối đa chi phí

các nguồn lực khác cho đầu t phát triển còn hạn chế. Bên cạnh đó, con ngời cũng
là đối tợng hởng lợi ích của kết quả đầu t. Vì vậy, để khai thác có hiệu quả nguồn
nhân lực, phải kết hợp tăng cờng đầu t cho y tế, giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao
chất lợng nguồn nhân lực và thực hiện kế hoạch hoá dân số. Phấn đấu tỷ lệ lao
động qua đào tạo tăng lên 35-40%; Tỷ lệ thất nghiệp thành thị chỉ còn 4-5%; Sử
dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn đạt tới 80%. Đó là nguồn nhân lực
rất lớn cho phát triển.
Nguồn nhân lực còn góp phần làm tăng nguồn vốn đầu t cho phát triển thông qua
xuất khẩu lao động. Hàng năm, lực lợng lao động xuất khẩu đã gửi về cho đất nớc
hàng tỷ Đô la Mỹ. Theo các nguồn tin, trong dịp tết Nguyên đán (ất Dậu) vừa qua
lợng kiều hối mà lực lợng ngời lao động Việt Nam ở nớc ngoài gửi về nớc là 3,8 tỷ
Đô la. Đây là một nguồn vốn đáng kể góp phần không nhỏ cho mục tiêu phát triển
Kinh tế - Xã hội của đất nớc.
1.2.2.3. Nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố tự nhiên mà con ngời có thể sử dụng
- khai thác và chế biến, tạo ra sản phẩm vật chất phục vụ lại con ngời. Tài nguyên
thiên nhiên của một quốc gia bao gồm rất nhiều loại nh: Đất đai, khoáng sản, tài
nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên trong lòng đất, vùng trời, mặt nớc và các
tài nguyên khác. Tài nguyên thiên nhiên ở mỗi quốc gia là yếu tố quan trọng, góp
phần tạo tích luỹ ban đầu cho nền kinh tế. Nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm:
Tài nguyên có khả năng tái sinh và tài nguyên không có khả năng tái sinh. Nếu
khai thác tốt, hợp lý, có tác dụng tăng nguồn vốn đầu t trong nớc cho phát tiển kinh
tế.
1.2.2.4. Nguồn vốn vô hình.
12
Nguồn vốn vô hình tồn tại dới dạng tri thức khoa học công nghệ, những
bằng phát minh sáng chế, giá trị thông tin, giá trị văn hoá, tinh thần, truyền thống
dân tộc, vị trí địa lý Nguồn vốn vô hình không tồn tại d ới dạng vật chất cụ thể,
nhng lại là nguồn vốn rất quan trọng - Nhất là trong thời đại hàm lợng của tri thức
khoa học công nghệ đợc cấu thành trong giá trị của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ

kinh tế, cần phải có chính sách và kế hoạch dân số hợp lý. Thu nhập bình quân đầu
ngời là nhân tố đóng vai trò then chốt, quyết định đến tiết kiệm. Một nền kinh tế
thấp kém, với tốc độ tăng trởng chậm, thiếu ổn định và thu nhập bình quân đầu ng-
ời thấp sẽ không có (hoặc rất ít) khả năng tiết kiệm.
1.3.2. Mức độ tiêu dùng.
Khi phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và tiết kiệm, không thể bỏ qua yếu
tố tiêu dùng . Hoạt động tiêu dùng của Chính phủ, của dân c và của các doanh
nghiệp có những tính chất và sự tác động theo mức độ khác nhau đối với mối quan
hệ giữa thu nhập và tiết kiệm. Do đó, khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập và
tiết kiệm, phải đồng thời xem xét tác động qua lại giữa thu nhập và tiêu dùng đối
với việc hình thành tiết kiệm của các tác nhân nói trên.
Tiêu dùng là nhân tố quan trọng, quyết định trực tiếp đến tiết kiệm. Toàn bộ
thu nhập đợc chia thành hai phần: Một phần dành cho tiêu dùng hiện tại và phần
còn lại dành cho tiêu dùng tơng lai (hay còn gọi là tiết kiệm). Vì vậy, nếu mức tiêu
dùng của nền kinh tế bằng (hoặc vợt quá) khả năng thu nhập thì sẽ không có tiết
kiệm từ nội bộ nền kinh tế.
Tập quán tiêu dùng bị chi phối bởi điều kiện sống, cũng nh đặc tính dân tộc
của từng quốc gia và từng vùng; Từ đó ảnh hởng đến phần thu nhập dành cho tiết
kiệm. Việt nam là một nớc nghèo. Vì vậy, để tăng tiết kiệm trong nớc, dành vốn
cho đầu t phát triển thì cần phải có chính sách tiêu dùng hợp lý. Trớc hết, phải tiết
kiệm các khoản chi tiêu dùng từ NSNN; Khống chế các khoản chi thờng xuyên
trong phạm vị các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và dành tỷ lệ ngày càng cao trong
tổng số thu cho đầu t phát triển. Hạn chế tối đa các khoản chi không cần thiết, nh:
Chi cho hội nghị, khánh tiết Bên cạnh đó, cần khuyến khích các doanh nghiệp;
Các tổ chức Kinh tế - Xã hội; Các tầng lớp dân c tiết kiệm trong tiêu dùng để tích
14
luỹ vốn cho đầu t phát triển. Ngoài ra, Nhà nớc cũng cần có những chính sách định
hớng tiêu dùng, khuyến khích đầu t một cách hợp lý.
1.3.3. Môi trờng đầu t.
Môi trờng đầu t đóng vai trò nh một chất xúc tác ban đầu cho việc lựa chọn

- Các thủ tục hành chính cũng là yếu tố không kém phần quan trọng tác
động đến môi trờng đầu t. Các thủ tục hành chính đơn giản; Thái độ làm việc
nghiêm túc, tận tình sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t và ngợc lại. Vì
vậy, để thu hút nhiều vốn đầu t, cần phải cải tiến các thủ tục hành chính; Tạo hành
lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho các nhà kinh doanh.
1.3.4. Sự phát triển của thị truờng tài chính.
Trong nền kinh tế luôn xuất hiện tình trạng chủ thể này tạm thời thừa vốn,
trong khi chủ thể khác lại thiếu vốn. Quá trình tìm các biện pháp rút ngắn khoảng
cách để ngời thừa vốn và ngời thiếu vốn trực tiếp (hoặc gián tiếp) gặp nhau tiến
hành mua bán quyền sử dụng vốn, đã dẫn tới sự hình thành và phát triển của thị tr-
ờng tài chính. Thị trờng tài chính là nơi điều hoà các khoản vốn nhàn rỗi trong xã
hội từ nơi thừa đến nơi thiếu, nhằm đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn và dẫn vốn
đến với các hoạt động đầu t sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng
và phát triển. Vì vậy, sự phát triển của thị trờng tài chính là nhân tố quan trọng tác
động đến việc huy động các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội và tích luỹ vốn vào
đầu t
- Căn cứ vào thời hạn luân chuyển các khoản vốn: Thị trờng tài chính đợc
chia thành thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn. Thị trờng tiền tệ là thị trờng vốn ngắn
hạn; Còn thị trờng vốn là nơi diễn ra hoạt động mua bán các khoản vốn trung và
dài hạn. Thị trờng vốn bao gồm: Thị trờng vay nợ trung, dài hạn và thị trờng chứng
khoán.
Hoạt động giao lu vốn trên thị trờng tài chính đợc tóm tắt qua sơ đồ sau:

Các chủ
thể thừa
vốn
(Cho vay)
Các trung gian tài
chính
Các chủ

lớn trong việc huy động các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội và tích luỹ vốn vào
đầu t phát triển kinh tế.
Điều kiện cần và đủ để có một thị trờng tài chính, đó là: Phải tồn tại các
công ty cổ phần phát hành cổ phiếu; Các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn, điều kiện để
phát hành trái phiếu huy động vốn. Đồng thời, phải có một hệ thống Ngân hàng
17
lớn mạnh , đa dạng để làm môi giới phát hành; Một hành lang pháp lý thông
thoáng; Một hệ thống pháp luật đồng bộ, chặt chẽ.
1.3.5. Các nhân tố khác ảnh hởng đến huy động vốn.
Ngoài những nhân tố đã phân tích ở trên, việc huy động vốn tiết kiệm cho
đầu t phát triển còn bị chi phối bởi các nhân tố nh: Truyền thống dân tộc của mỗi
quốc gia; Tâm lý; Tập quán của các nhóm dân c theo tuổi tác và theo từng vùng
lãnh thổ
Truyền thống dân tộc khác nhau có tác động đến việc mở rộng tiết kiệm của
từng nớc. Một tấm gơng tiêu biểu cho đức tính tiết kiệm của một dân tộc, đó là nớc
Nhật. Thu nhập bình quân đầu ngời của ngời Nhật và ngời Mỹ là tơng đơng nhau.
Trong khi ngời Mỹ chỉ tiết kiệm đợc 5%-7% thu nhập của họ, thì ngời Nhật lại tiết
kiệm đợc 20% thu nhập. Điều đó đã giải thích đợc tại sao trớc chiến tranh thế giới
thứ 2 Nhật là một nớc nghèo, lạc hậu; (Thế giới chỉ biết đến họ là một nớc phát xít
đi gây chiến); Nhng cha đầy một nửa thế kỷ sau, bằng ý chí - nghị lực và truyền
thống của cả môt dân tộc, đã đa họ trở thành một cờng quốc về kinh tế.
Việt Nam là một nớc nghèo; Thu nhập bình quân đầu ngời quá thấp đã ảnh
hởng đến tập quán tiêu dùng của nhân dân. Ngời Việt Nam nói chung có ý thức tiết
kiệm rất cao. Tuy nhiên, tâm lý của dân c (nhất là ở vùng nông thôn) vẫn muốn cất
trữ tiền tiết kiệm dới dạng các tài sản có giá - Cha có thói quen đầu t trực tiếp, hay
gửi vào các tổ chức tín dụng.
Một hiện tợng khá phổ biến là: Với cùng mức thu nhập nhng ngời dân ở
nông thôn để dành một tỷ lệ trong thu nhập cao hơn ngời dân thành phố; Nhóm
dân c trẻ tuổi có tỷ lệ tiết kiệm trong thu nhập thấp hơn nhóm dân c cao tuổi; Ngời
dân ở những vùng hay bị thiên tai khắc nghiệt thờng để dành một tỷ lệ rất cao

Thứ nhất: Thuế là nguồn thu chủ yếu, phát sinh thờng xuyên và tơng đối ổn
định của NSNN. Thông qua thuế, Nhà nớc tập trung đợc nguồn lực tài chính của xã
hội vào Ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu dùng thờng xuyên và chi đầu t phát
triển. Một chính sách thuế giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà n-
ớc và các thể nhân, pháp nhân kinh doanh sẽ có tác dụng nuôi dỡng và phát triển
nguồn thu; Hạn chế trốn thuế và lậu thuế; Tăng thu và góp phần tăng tích luỹ của
19
NSNN cho đầu t phát triển. Ngợc lại, một hệ thống thuế không bao quát đợc các
nguồn thu; Có mức thuế suất quá cao (không phù hợp với thực trạng Kinh tế - Xã
hội) sẽ làm thui chột nguồn thu; ảnh hởng đến việc tập trung nguồn lực tài chính
vào Ngân sách và hạn chế tiết kiệm của doanh nghiệp - dân c.
Thứ hai: Thông qua thuế, Nhà nớc thực hiện định hớng cho tiêu dùng, tiết
kiệm và tích luỹ vốn cho đầu t phát triển.
Đối với thuế gián thu đánh vào ngời tiêu dùng (nh: Thuế giá trị gia tăng;
Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế nhập khẩu hàng tiêu dùng), việc áp dụng thuế suất cao
đối với hàng hoá xa xỉ - không thiết yếu có tác dụng hạn chế tiêu dùng, tiết
kiệm thu nhập; Dành vốn cho đầu t phát triển.
Đối với thuế trực thu (nh: Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá
nhân), việc áp dụng mức thuế suất hợp lý đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của Nhà n-
ớc và của ngời kinh doanh; Sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tích tụ vốn mở rộng
sản xuất và huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội vào đầu t kinh doanh, thúc đẩy nền
kinh tế tăng trởng. Miễm giảm thuế đối với phần lợi nhuận dùng để tái đầu t sẽ
khuyến khích các doanh nghiệp tăng tích luỹ vốn cho đầu t. Ưu đãi về thuế đối với
các doanh nghiệp mới thành lập trong thời gian đầu (hoặc các doanh nghiệp gặp
khó khăn), có tác dụng khuyến khích sự ra đời và mở rộng các doanh nghiệp. Từ
đó, có thể huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu t phát triển.
Miễn thuế thu nhập đối với các khoản thu từ lãi tiền gửi tiết kiệm, mua trái phiếu,
cổ phiếu của các tầng lớp dân c có tác dụng khuyến khích tiết kiệm và dẫn các
khoản tiết kiệm vào đầu t kinh doanh.
Thuế xuất nhập khẩu có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nớc, khuyến khích

Nh vậy, chi NSNN có tác dụng kích thích đầu t; Từ đó tạo tiền đề mở rộng
tiết kiệm, khuyến khích huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội vào đầu t.
1.4.3. Chính sách lãi suất
Lãi suất là giá cả của vốn mà ngời đi vay phải trả cho ngời cho vay để đợc
sử dụng một số tiền trong một thời gian nhất định. Lãi suất là một công cụ quan
trọng, giữ vị trí trung tâm của chính sách tiền tệ. Nó có độ nhạy cảm cao đối với
hoạt động tiết kiệm và đầu t.
21
Lãi suất đợc sử dụng nh là một công cụ điều hoà hệ thống tiền tệ; Phục vụ
đờng lối phát triển kinh tế của đất nớc và ảnh hởng tới việc phân bổ, cũng nh sự
vận động của các nguồn lực.
Để xem xét vai trò của lãi suất trong huy động vốn, cần phải phân biệt lãi
suất thực tế và lãi suất danh nghĩa. Lãi suất thực là lãi suất đã loại trừ sự biến động
của lạm phát dự tính. Lãi suất danh nghĩa là mức lãi suất trên thị trờng cha loại trừ
sự biến động của lạm phát dự tính. Theo phơng trình Fisher, thì lãi suất thực tế đợc
tính bằng:
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa Tỷ lệ lạm phát (dự tính).
Nh vậy, lãi suất thực tế có mối quan hệ với các quyết định tiêu dùng và tiết
kiệm của những ngời tiết kiệm. Quan hệ với các quyết định sử dụng tiết kiệm của
những ngời đầu t và liên quan đến tình hình khống chế lạm phát trong nền kinh tế.
Việc ổn định tiền tệ và khống chế lạm phát ở mức độ vừa phải sẽ tạo môi trờng
thuận lợi khuyến khích đầu t.
Tăng lãi suất huy động vốn là biện pháp hữu hiệu để kích thích tiết kiệm và
huy động các khoản tiết kiệm nhàn rỗi. Bởi vì, khi lãi suất huy động tăng lên sẽ
đảm bảo lợi ích kinh tế cho ngời gửi tiền. Từ đó, khuyến khích các tầng lớp dân c
hạn chế (hoặc cắt giảm) những khoản tiêu dùng không cần thiết để tăng khoản tiết
kiệm gửi vào Ngân hàng - Các tổ chức tín dụng; Hoặc đầu t vào thị trờng chứng
khoán. Bên cạnh đó, việc quy định mức lãi suất tiền gửi trung hạn và dài hạn cao
hơn lãi suất tiền gửi ngắn hạn và không kỳ hạn một cách hợp lý, có tác dụng kích
thích tăng các khoản tiền gửi kỳ hạn dài; Đáp ứng nhu cầu vốn đầu t trung và dài

điểm hơn cho phát triển và tăng trởng kinh tế.
Khi cổ phần hoá và t nhân hoá để thành lập các công ty cổ phần và công ty
t nhân, thì trách nhiệm của ngời quản lý đợc gắn liền với lợi ích kinh tế. Họ sẽ phải
có trách nhiệm với đồng vốn đã bỏ ra; Phải quản lý tốt hơn các yếu tố đầu vào, kết
quả đầu ra và kiểm soát chặt chẽ việc phân phối lợi nhuận. Từ đó, tạo điều kiện
tăng tích luỹ và mở rộng khả năng tự đầu t của các doanh nghiệp; Góp phần mở
rộng tiết kiệm và đầu t của nền kinh tế. Bằng cách bán cổ phần cho các cổ đông
các DNNN đã tự khắc phục đợc tình trạng thiếu vốn của mình. Ngoài ra, trong quá
trình sản xuất kinh doanh, các Công ty cổ phần còn có thể phát hành trái phiếu để
huy động thêm vốn. Cổ phần hoá và t nhân hoá còn là điều kiện cần thiết để thúc
23
đẩy sự hình thành và phát triển của thị trờng tài chính; Góp phần thúc đẩy giao lu
vốn trên thị trờng này.
1.4.5. Trái phiếu Chính phủ.
Trái phiếu Chính phủ là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ do Bộ tài Chính
phát hành có thời hạn, có mệnh giá và có lãi.
Trái phiếu Chính phủ là công cụ để huy động vốn qua kênh tín dụng Nhà n-
ớc, bao gồm các loại ký danh và vô danh đợc phát hành dới các hình thức:
- Tín phiếu kho bạc: Là trái phiếu ngắn hạn dới 1 năm; Huy động vốn để bù
đắp thiếu hụt Ngân sách tạm thời trong năm tài chính.
- Trái phiếu kho bạc: Là loại trái phiếu có thời hạn từ 1 năm trở lên. Là công
cụ huy động vốn để bù đắp thiếu hụt NSNN, đáp ứng nhu cầu chi đầu t phát triển
trong kế hoạch NSNN đợc duyệt.
- Trái phiếu công trình: Là loại trái phiếu có thời hạn vay từ 1 năm trở lên
để huy động vốn cho từng công trình cụ thể theo kế hoạch đầu t của Nhà nớc hàng
năm. Nếu Trái phiếu công trình huy động vốn cho các công trình thuộc Bộ, Ngành
Trung ơng quản lý thì do Bộ tài chính (Ngân sách Trung ơng) bảo lãnh và thanh
toán. Nếu để huy động cho các công trình cụ thể do địa phơng quản lý thì UBND
Tỉnh, Thành phố (Ngân sách địa phơng) bảo lãnh và thanh toán.
Trái phiếu Chính phủ chủ yếu huy động vốn đầu t để xây dựng cơ sở hạ

huớng tây bắc - đông nam, tạo thành một vùng đất hiểm yếu. Xen kẽ đồi núi là
những thung lũng đất đỏ ba zan rộng lớn rất thuận lợi cho việc trồng các loại cây
công nghiệp, cây lấy gỗ, cây ăn quả và phát triển kinh tế trang trại. Men theo các
triền đồi núi là vùng đồng đất bán sơn địa. Đặc biệt, nơi đây có rừng nguyên sinh
Cúc Phơng rộng khoảng 2.500ha, có nhiều loại cây và động vật quý hiếm. Đây là
vùng đất cổ có nhiều tài nguyên, khoáng sản, đá vôi, đất sét đã và đang đợc khai
thác thành vùng kinh tế đồi rừng đa dạng và xây dựng khu công nghiệp tập trung.
Phía đông nam là vùng ven biển gồm một số xã của huỵên Kim Sơn. Đây là
vùng do phù sa do hệ thống sông ở Bắc bộ bồi đắp. Hàng năm lấn ra biển khoảng
80-100m, (tăng thêm khoảng 140-170 ha đất), tạo nên vùng đất mới phì nhiêu,
mầu mỡ, rất thuận lợi cho việc trồng lúa, trồng cói, nuôi trồng thuỷ - hải sản. Tỉnh
25
uỷ đang tập trung chỉ đạo xây dựng khu kinh tế ven biển thành nơi trù phú, giầu
đẹp.
Vùng đông bằng gồm huyện Yên Khánh, Gia Viễn, Hoa L, Yên Mô, một số
xã thuộc huyện Kim Sơn, Nho Quan. Trong đó, nhiều xã của huyện Gia Viễn, Hoa
L và một phần của huyện Nho Quan, Yên Mô là đồng chiêm trũng. Đây là khu vực
có nhiều dẫy núi đã vôi mọc xen kẽ, có nhiều hang động đẹp (động Thổ Tích, động
Địch Lộng, động Thiên Tôn, Tam cốc Bích Động, Xuyên Thuỷ Động .). X a kia,
về mùa thu, núi và sông nớc ở đây tạo nên một cảnh quan kỳ thú. Ngày nay, nơi
đây đang đựơc xây dựng thành các điểm du lịch sinh thái, thu hút nhiều khách du
lịch gần xa đến tham quan.
Với địa hình đa dạng, là nơi tiếp giáp giữa rừng và biển, giữa miền bắc và
miền trung nên khí hậu ở Ninh Bình vừa có đặc điểm chung nhiệt đới gió mùa, vừa
có đặc điểm riêng tạo ra những vùng tiểu khí hậu có ảnh hởng tới việc phát triển
kinh tế. Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng. Ngoài ảnh
hởng của gió mùa đông bắc và đông nam, còn mang khí hậu của vùng ven biển và
vùng núi. Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,7
o
C. Độ ẩm trung bình là 83%-84%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status