Một số giải pháp quản lý nhằm huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn nam Hà Nội - Pdf 92

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết, với bất kỳ doanh nghiệp nào vốn luôn là một trong
các yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối
với ngân hàng thương mại (NHTM)- tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách
hàng và cho vay từ số tiền huy động được đồng thời làm các dịch vụ ngân
hàng thì vai trò của nguồn vốn ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng. Quy
mô, cơ cấu, thời hạn tài sản và khả năng cung ứng dịch vụ từ đó quyết định
khả năng sinh lời và sự an toàn của mỗi ngân hàng.
Là một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất, có hệ
thống mạng lưới chi nhánh và điểm rộng khắp cả nước. Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội có ưu thế rất lớn trong hoạt động
huy động vốn. Tuy nhiên, hiện tại và tương lai, ưu thế đó dần bị thay thế bởi
sự phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại cổ phần và khả năng
mở rộng các chức năng của các ngân hàng thương mại nước ngoài. Trên thực
tế tốc độ tăng trưởng huy động vốn của NHNN&PTNT Nam Hà Nội mặc dù
khá ổn định nhưng đang có xu hướng giảm dần. Mức độ tăng trưởng bất ổn
định, vốn huy động mang tính ngắn hạn, không đạp ứng được nhu cầu vốn
trung và dài hạn. Thực tế này đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng đồng thời đặt ra bài toán cho các nhà hoạch định chính
sách Ngân hàng tìm ra lời giải cho bài toán đó: làm sao giữ vững, duy trì,
nâng cao nguồn vốn và tốc độ tăng trưỏng nguôn vốn.
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tại NHNN&PTNT Nam Hà Nội,
nhận thức được yêu cầu cấp thiết của vấn đề trên, tôi đã lựa chọn “Một số
giải pháp quản lý nhằm huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn nam Hà Nội” làm đè tài cho chuyên đề báo cáo thưc tập của
mình. Nghiên cứu đề tài này giúp tôi tìm hiểu sâu hơn về một nghiệp vụ căn
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bản và quan trọng của ngân hàng, nâng cao ký năng, tổng hợp, phân tích và

coi NHTM là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và cung ứng những
dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong số những tổ chức tài chính
trung gian, các tổ chức tài chính trung gian này được gọi là các định chế tài
chính có chức năng giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn.
Để đưa ra được một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM, người
ta thường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường
tài chính.
Luật ngân hàng của Pháp năm 1941 định nghĩa: “ngân hàng là những xí
nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuên nhận của công chúng dưới hình thức
ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các
nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Luật ngân hàng của Ấn Độ, năm 1959 bổ sung “ngân hàng là cơ sở nhận
các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.
Luật ngân hàng của Đan Mạch, năm 1930 “ Những nhà băng thiết yếu
gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương
mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các
nghiệp vụ chuyển ngân...”.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa
NHTM, nó tuỳ thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng
lãnh thổ nhưng khi đi sâu phân tích, người ta dễ dàng nhận thấy rằng: Tất cả
các NHTM đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền ký thác - tiền gửi
không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu
và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng.
Đối với bản thân Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế
nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhất là trong giai đoạn
hiện nay, khi Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu thì hệ
thống ngân hàng và các tổ chức tài chính ngày càng đóng vị trí quan trọng đối

 NHTM cổ phần: là loại hình ngân hàng phải được thành lập theo
luật công ty cổ phần, thuộc sở hữu của các cổ đông, người góp vốn, trên cơ sở
tự nguyện của các cổ đông trong việc góp vốn và hoạt động theo luật pháp
quy định. Đây là loại hình Ngân hàng phổ biến nhất và đang có xu hướng phát
triển mạnh ở nước ta.
 Ngân hàng liên doanh: là loại hình ngân hàng được thành lập trên
cơ sở hợp đồng liên doanh, vốn điều lệ là vốn góp của ngân hàng Việt Nam
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và ngân hàng nước ngoài có trụ sở chính tại Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của
pháp luật Việt Nam.
 Chi nhánh ngân hàng liên doanh: là một bộ phận của ngân hàng
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam chịu sự điều tiết của luật pháp Việt Nam.
 Ngân hàng đầu tư: là những ngân hàng tập trung huy động vốn
trung, dài hạn và đầu tư trung dài hạn vì sự phát triển, hoạt động đầu tư chủ
yếu thông qua các dự án.
 Ngân hàng chính sách: thông thường là những NHTM 100% vốn
Nhà nước hoặc NHTM cổ phần (sở hữu Nhà nước và các tổ chức kinh tế quốc
doanh) được thành lập để phục vụ một hoặc một số chính sách của Nhà nước,
nó hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, chênh lệch giữa chi phí huy động
vốn và sử dụng vốn sẽ được Nhà nước bù đắp.
 Ngân hàng hợp tác: là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể,
được các thành viên tự nguyện thành lập lên không phải vì mục tiêu lợi nhuận
mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau về vốn và các dịch vụ ngân hàng. Nguyên
tắc thành lập và hoạt động của loại hình này là tự nguyện, dân chủ, bình đẳng,
tự trang trải mọi chi phí và tự chịu trách nhiệm.
1.2.Đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM.
Ngân hàng thương mại ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển
của hoạt động kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ chỉ đơn thuần làm dịch vụ nhận
tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ bảo quản tiền gửi cho chủ sở hữu và sau

nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay) và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ Ngân
hàng như: dịch vụ tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ... Ba nghiệp vụ này có quan
hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và
thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xem lẫn nhau
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất
trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.3.1. Nghiệp vụ huy động vốn.
Đây là nghiệp vụ cơ bản, đầu tiên quan trọng nhất của một ngân hàng.
Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng
(sau khi đảm bảo một tỷ lệ dự trữ bắt buộc) với trách nhiệm hoàn trả gốc và
lãi. Nguồn vốn của NHTM gồm vốn tự có (vốn chủ sở hữu), vốn vay, vốn
khác. Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh
doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ huy động vốn sau:
 Vốn tự có của ngân hàng: là nguồn vốn thuộc sở hữu của riêng các
NHTM. Thực tế nguồn vốn này không ngừng tăng lên từ kết quả động kinh
doanh của bản thân NHTM, nó đóng góp một phần đáng kể vào hoạt động
kinh doanh cuả các NHTM. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi ngân
hàng bắt đầu được thành lập. Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn chủ
sở hữu mà ngân hàng thường sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như:
xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm máy móc trang, thiết bị … phục vụ cho bản
thân ngân hàng, cho vay và tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác
với chức năng bảo vệ, vốn chủ sở hữu được coi là tài sản đảm bảo, gây lòng
tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng
gặp
thua lỗ. Vốn chủ sở hữu bao gồm :
Vốn hình thành ban đầu: gồm có vốn pháp định và vốn điều lệ. Theo
quyết định số 327/QĐ- NH5 ban hành ngay 04/10/1997 của thống đốc Ngân

giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt
động kinh doanh của mình. Đây là một trong những giải pháp hữu hiệu giúp
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngân hàng huy động được khối lượng vốn lớn một cách nhanh chóng và chi
phí thấp.
Nghiệp vụ vay tiền: Đây là vốn được hình thành trên quan hệ vay mượn
giữa Ngân hàng thương mại với ngân hàng trung ương hoặc các tổ chức tín
dụng khác dưới các hình thức tái chiết khấu, vay có bảo đảm... Nguốn vốn
này thường được sử dụng khi ngân hàng đã sử dụng hết lượng vốn khả dụng
mà vẫn không đủ hoạt động kinh doanh. Thông thường NHTM sẽ ưu tiên việc
vay từ các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế trước, sau đó mới đến vay ngân
hàng trung ương.
Nghiệp vụ huy động vốn khác: ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ
bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc
nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, huy động
theo phương thức này đòi hỏi cần phải có thời gian và các phương phù hợp
với từng đối tượng và các khoản vay.
1.3.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn.
Ngân hàng là một trung gian tài chính, là cầu nối thực hiện việc luân
chuyển vốn từ nơi thừa đền nơi thiếu vốn. Đây là nghiệp vụ phản ánh quá
trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an
toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận của ngân hàng. Bao gồm các
nghiệp vụ sau:
Một là,Nghiệp vụ cho vay: Đây có thể nói là nghiệp vụ quan trọng bậc
nhất trong hoạt động quản lý tài sản có của NHTM. Cho vay là hoạt động chủ
yếu của NHTM nhằm tài trợ về vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức
trong nền kinh tế. ĐốI với hầu hết các ngân hàng, nghiệp vụ này đóng góp
phần lớn lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng

11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp. việc tham gia dự vốn vào doanh nghiệp sẽ giúp cho các ngân hàng
nắm bắt được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và qua đó
thực hiện các nghiệp vụ tín dụng an toàn.
Hiện nay, các công cụ đầu tư trên thị trường tài chính ngày càng đa
dạng, cùng vớ sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế, trong điều kiện
thị trường tài chính phát triển như vậy, hoạt động đầu tư của các NHTM cũng
trở nên ngày càng đa dạng hơn.
Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ: Lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu của
các chủ thể kinh tế khi tham gia hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế quốc
dân .Tuy nhiên,Hoạt động kinh doanh phát triển lợI nhuận cao phải đi đôi vớI
sự bền vững . Một trong những nhân tố đó là tính an toàn. Nghề ngân hàng là
một nghề kinh doanh mạo hiểm và luôn chứa đựng rất nhiều yếu tố rủi ro. Vì
vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải
sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng
thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Trung ương đề ra.
1.3.3. Nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản được nêu trên, trong hoạt động kinh doanh,
các NHTM còn tiến hành các hoạt động kinh doanh khác trên thị trường. Là
trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều các lợi thế. Một trong những lợi
thế đó là hình thức ngân hàng đóng vai trò trung gian tiến hành các hoạt động
thanh toán cho khách hàng thông qua các hình thức như:
Hoạt động mua bán ngoại tệ: Đây là hoạt động mua hoặc bán ngoại tệ
này để lấy một loại ngoại tệ khác và hưởng phí dịch vụ. Ngày nay, cùng với
sự phát triển các công cụ tài chính, hoạt động mua bán ngoại tệ ngày càng sôi
động hơn bằng các công cụ như quyền chọn, swap…
12

hàng quốc doanh và các ngân hàng liên doanh. Dưới bất kỳ hình thức nào, các
NHTM vẫn luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lên hàng đầu và để làm
được điều đó, công cụ duy nhất mà các Ngân hàng phải có đó là vốn.
Các nhà kinh tế đưa ra định nghĩa về vốn của NHTM như sau:
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân
Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu
tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Về thực chất, thì nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc
dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng, mà
người chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng.
Như vậy ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới
hình thức tiền tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ kích thích
mọi hoạt động kinh tế phát triển.
2.1.2. Sự cần thiết của nguồn đốI vớI hoạt động kinh doanh của NHTM.
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động kinh doanh cũng phải
có vốn, vì vốn là năng lực chủ yếu quyết định đến khả năng, quy mô hoạt
động. Ngân hàng là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tài
chính, đòi hỏi một lượng lớn vốn mới có thể thực hiện kinh doanh. Nguồn
vốn này cho phép ngân hàng mở rộng, đa dạng hoá các hình thức kinh doanh,
giảm thiểu rủi ro trong khi thực hiện “đi vay và cho vay”. Sau đây là những
lợi ích mà nguồn vốn đem lại cho ngân hàng:
Vốn là cơ sở nền tảng để NHTM hoạt động kinh doanh
Như đã biết, vốn là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp duy trì và
phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời là cơ sở để phân phối và đánh giá
hiệu quả các hoạt động kinh tế. Đối với Ngân hàng, vốn còn là cơ sở nền tảng
để tiến hành tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Thật vậy, với đặc trưng của
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và thị trường vốn thì vốn không còn đơn thuần là phương tiện kinh doanh mà

tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả, góp phần vừa giữ được chữ
tín, vừa nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thương trường.
Quyết định khả năng cạnh tranh của NHTM.
Khả năng cạnh tranh là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành
công hay thất bại của bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trên thị trường.
Những NHTM có quy mô lớn, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân
viên cao cũng như trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại là tiền đề quan trọng
cho việc thu hút vốn. Đồng thời khả năng vốn lớn lại là điều kiện thuận lợi
đối với Ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các tổ chức kinh
tế xã hội trong nền kinh tế. Khi đó, Ngân hàng sẽ thu hút được ngày càng
nhiều khách hàng đến với ngân hàng, kết quả là doanh số hoạt động của Ngân
hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và Ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong
kinh doanh. Mặt khác, vốn lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả năng tài
chính để kinh doanh đa dạng trên thị trường, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh
như: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh dịch vụ thuê mua...
2.2. Hoạt động huy động vốn và sự cần thiết phải tăng cường công
tác huy động vốn tại NHTM.
Hoạt động huy động vốn là hoạt động tạo vốn từ việc nhận tiền gửi của
các tổ chức, cá nhân, từ các hoạt động thanh toán, uỷ thác hoặc từ việc phát
hành chứng từ có giá để phục vụ cho các hoạt động cho vay, đầu tư của ngân
hàng.
Trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào nguồn vốn cũng luôn
đóng vai trò quan trọng, quyết định đến quy mô và kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Như đã trình bày ở trên đối với ngân hàng là một trung gian tài
chính, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ thì nguồn vốn lại càng đóng một vị trí
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vô cùng quan trọng, vì vốn là năng lực chủ yếu quyết định đến khả năng, quy
mô hoạt động của ngân hàng. Có vốn lớn mới cho phép ngân hàng mở rộng
các hình thức kinh doanh hay đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, nâng

ngân hàng sử dụng nhiều hình thức “biến tướng”của tài khoản thanh toán để
nâng lãi suất của loại tiền gửi này lên nhằm cạnh tranh với các tài chính tín
dụng khác.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quá thấp ,
để khuyến khích việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng, các NHTM thực
hiện trả lãi cho loại tiết kiệm này (hiện nay khoản 0.2% 1tháng ). Ở các nứớc
phát triển loại tiền gửi này chiếm khoảng 30% tiền gửi của các ngân hàng . Vì
lẽ đó ,tạo ngồn tiền gửi trên khoản tiền thanh toán này được ngân hàng đặc
biệt coi trọng.
Bên cạnh đó các ngân hàng có thể huy động vốn thông qua tài khoản tiền
gửi thanh toán của các ngân hàng khác,nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và
một số mục đích khác, NHTM có thể gửi tiền tại ngân hàng khác .Tuy nhiên,
quy mô của ngồn này thường lớn .
2.3.2 Tạo vốn thông qua tiền gửi có kỳ hạn .
Nhiều khoản thu của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ chi trả sau
một khoảng thời gian nhất định .Tiền gửi thanh toán rất thuận tiện trong hoạt
động thanh toán song lãi suất lại thấp, để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người
gửi tiền ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn .Tiền gửi có kỳ hạn
là loại tiền gửi được uỷ thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thời
gian rút tiền gữa khách hàng và ngân hàng .Như vậy, ký theo nguyên tắc
khách hàng ký thác chỉ được rút tiền ra khi dến hạn thoả thuận .Tuy nhiên trên
thực tế do phải cạnh tranh để thu hút tiền gửi, các ngân hàng thường cho phép
khách hàng được rút tiền trước thời hạn. Trong trường hợp này có thể có hai
cách giải quyết : hoặc khách hàng vay tiền của ngân hàng, sau đó khi đến hạn
rút tiền và số tiền lãi thu được trả nợ (cả gốc và lãi vay của ngân hàng ); hoặc
là thoả thuận với khách hàng rút tiền ra trước hạn và nhận lãi thấp hơn.
Tiền gửi có kỳ hạn là một nguồn vốn tín dụng mang tính chất ổn định, vì
mục đích của người gửi là kiếm lời chứ không phải là để thanh toán . Do đó,

chưa đầu tư, cho vay không hiệu quả bằng gửi tiền ở ngân hàng khác .
2.3.5 Tạo vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá.
Giống như các doanh nghiệp khác ngân hàng cũng huy động vốn bằng
cách phát hành các giấy tờ có giá trị (hay còn gọi lad các công cụ nợ) như kì
phiếu, trái phiếu, tín phiếu ngân hàng…để huy động vốn trên thị trường vốn.
Các công cụ nợ của ngân hàng là các giấy nhận nợ mà ngân hàng bán
cho công chúng . Đây là cách thức vay vốn của NHTM, bởi vì những người
sở hữu các công cụ này được hoàn trả vốn vào thời gian đáo hạn công thêm
khoản tiền lãi nhất định . Những công cụ nợ của ngân hàng là :
- Tín phiếu ngân hàng : Đây là công cụ nợ ngân hàng dùng để huy động
những khoản vốn ngắn hạn.
- Kì phiếu, trái phiếu ngân hàng: Là những công cụ nợ để ngân hàng huy
động những khoản vốn ngắn hạn.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nếu đối với các tài khoản tiền gửi phụ thuộc nhiều vào sở thích của
khách hàng thì việc sử dụng các công cụ nợ là một hình thức huy động vốn
mang tính chủ động của ngân hàng. Tuy nhiên việc khách hàng có chấp nhận
mua các công cụ nợ đó hay không mới là điều quan trọng. Nguồn vốn huy
động có được bằng việc phát hành các công cụ nợ sử dụng cho những khoản
tín dụng trong kế hoạch của ngân hàng. Với lãi suất tín dụng trong kỳ kế
hoạch, ngân hàng xác định mức lãi suất nhất định cho các công cụ nợ, hay
đưa vào thời hạn các khoản tín dụng trong kế hoạch mà ngân hàng xác định
sử dụng loại công cụ ngắn hạn hay trung – dài hạn. Thi trường chứng khoán
ra đời phần nào đã thúc đẩy được việc mở rộng hình thức huy động vốn của
các NHTM qua việc phát hành các công cụ nợ.
2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của NHTM
Các NHTM làm nhiệm vụ chính là chu chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến
nơi thiếu vốn dưới hình thức huy động vốn (đi vay) và cho vay hoặc đầu tư
với mục đích hưởng lợi qua lãi suất. Đây là công việc của một trung gian tài

huy động vốn.
2) môi trường chính trị, pháp lý .
Mỗi quốc gia đều tồn tại một thể chế chính trị nhất định, sự ổn định về
chính trị hay chính sách ngoại giao sẽ tác động tích cực đến công tác huy
động vốn tại ngân hàng. Người dân trong nước chỉ yên tâm gửi những khoản
thu nhập nhàn rỗi vào ngân hàng mà không phải tính toán đầu cơ vào các tài
sản khác khi nền chính tri ổn định. Nếu chính trị của quốc gia không ổn định
sẽ mất lòng tin của dân chúng, người dân sẽ không giám đầu tư vào lĩnh vực
nhiều rủi ro nay, điều này đồng nghĩa với việc thu hẹp khả năng huy động vốn
của ngân hàng.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như chúng ta đâ biết, hoạt động của ngân hàng có mức độ ảnh hưởng,
tác động hết sức mạnh mẽ đối với nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Cụ thể
việc huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng đều tác động trực tiếp đến
tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của các chủ thể, tốc độ chu
chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Chính vì lẽ đó, hoạt động
của ngân hàng phải chịu sự quản lý chặt chẽ gắt gao hơn so với các doanh
nghiệp khác. Thực tế là ngân hàng phải chịu sự điêù chỉnh của rất nhiều chính
sách, các quy định của chính phủ, của NHTW; đó là Luật các tổ chúc tín
dụng, luật kinh tế, luật dân sự, hàng loạt hệ thống các quy định cụ thể trong
từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ, hạn mức. Do sự ràng buộc về luật pháp, các
yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn chắc chắn sẽ bị thay đổi và quy mô, hiệu
quả của việc huy động vốn cũng bị tác động. Cụ thể, chính sách của Nhà
nước, của NHTW: chính sách tiền tệ, tài chính, lãi suất, tín dụng thay đổi sẽ
ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn cũng như chất lượng nguồn vốn của
NHTM.
3) Môi trường cạnh tranh.
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh
không phải lúc nào cũng tốt vì cạnh tranh có thể dẫn đến rất nhiều những tiêu

Nếu môi trường kinh doanh có ảnh hưởng lớn với công tác huy động vốn
thì yếu tố quyết định chính vẫn là các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng.
Bởi môi trường kinh doanh chỉ tác động: gây ra khó khăn, hay tạo điều kiện
thuận lợi còn việc vốn có được huy động hay không lại phải phụ thuộc vào
chủ trương đường lối chính sách, kế hoạch của ngân hàng. Các nhân tố thuộc
về bản thân ngân hàng quyết định việc huy động vốn có hiệu quả hay không.
Các nhân tố chủ quan bao gồm:
25

Trích đoạn Lĩnh vực hoạt động của NHNH&PTNT chi nhánh Nam Hà Nộ Cấu tổ chức, nhiệm vụ và chức năng của từng phòng ban. Phòng thanh toán quốc tế.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status