LUẬN VĂN:
Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) tới phỏt triển kinh tế - xó hội ở
tỉnh Bình Dương
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, FDI đã đóng góp một phần quan trọng vào việc phát
triển kinh tế - xã hội như: các dự án FDI góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân
thanh toán và cán cân vãng lai của quốc gia, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công
cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình
độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt
Nam, hội nhập với nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân
lực, nâng cao mức sống cho người lao động,
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, báo chí và một số phương tiện thông tin đại
chúng ở nước ta đã nêu nhiều mặt trái của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một số
ý kiến cho rằng: nguồn vốn FDI trong những năm qua đã tập trung chủ yếu vào đầu tư
xây dựng, khách sạn, du lịch và những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, chưa
có tỷ lệ thích đáng cho các ngành công nghệ cao và nông nghiệp. FDI đưa vào Việt
Chí Minh. Thực trạng và giải pháp" của Trương Đăng Hùng (2004).
Đề tài cấp bộ, cấp cơ sở: "Những giải pháp kinh tế chính trị nhằm thu hút có hiệu
quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam", Chủ nhiệm đề tài PTS.
Nguyễn Khắc Thân, cơ quan chủ trì: Khoa Kinh tế chính trị (5/1994 - 5/1995).
Báo cáo nghiên cứu của Dự án: "Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách để
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001-2010" của
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) với tiêu đề: "Tác động của đầu
tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam".
Các công trình khoa học nghiên cứu về FDI ở trên đã nghiên cứu các vấn đề: thu
hút và sử dụng hiệu quả FDI ở Việt Nam và các địa phương, nhưng chưa có luận văn,
luận án thạc sĩ nào nghiên cứu đến tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở
tỉnh Bình Dương trên góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
* Mục tiêu luận văn:
Nghiên cứu tác động FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình Dương và
trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp để phát huy tác động tích cực và hạn
chế tác động tiêu cực của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình Dương trong
quá trình hội nhập kinh tế.
* Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của FDI đối với phát triển
kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Bình Dương nói riêng.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tác động của FDI đến phát triển kinh tế
- xã hội ở tỉnh Bình Dương chỉ ra những tác động tích cực cần phát huy và tác động
không lành mạnh của FDI cần khắc phục và nên tránh. Nguyên nhân của những tác
động đó.
- Trình bày các phương hướng và giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn
chế những ảnh hưởng không lành mạnh của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh
Bình Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn
về vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1. FDI với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1. Khái niệm FDI và phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
FDI (Foreign Direct Invertment) là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước
ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực
tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư. Đặc điểm của hình thức đầu
tư trực tiếp là: các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu hoặc tối đa tuỳ
thuộc theo quy định chung của Luật đầu tư từng nước. Ví dụ, Luật đầu tư của Việt Nam
quy định "số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của
dự án", hay Luật đầu tư của nước Nam Tư trước đây quy định "phần của bên đối tác nước
ngoài không dưới 5% tổng số vốn đầu tư" [51, tr.32-33]. Trong khi đó ở Hàn Quốc luật quy
định tối đa bên phía nước ngoài góp 40% vốn pháp định. Quyền điều hành doanh nghiệp
phụ thuộc độ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định. Nếu góp 100% vốn pháp định
thì nhà đầu tư toàn quyền quyết định sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài được thực hiện dưới hình thức: đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp
mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động, mua cổ phần để thôn tính
hoặc sáp nhập.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện từ thời tiền tư bản. Các công ty của Anh,
Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là những công ty đi đầu trong lĩnh vực này dưới
hình thức đầu tư vốn vào các nước châu á để khai thác đồn điền và cùng với ngành khai
thác đồn điền là những ngành khai thác khoáng sản nhằm cung cấp các nguyên liệu cho
các ngành công nghiệp ở chính quốc. Khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn mới thì
hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển càng có quy mô to
lớn hơn. Trong thế kỷ 19, do quá trình tích tụ và tập trung tư bản tăng lên mạnh mẽ, các
nước công nghiệp phát triển lúc bấy giờ đã tích luỹ được những khoản tư bản khổng lồ,
đó là tiền đề quan trọng đầu tiên cho việc xuất khẩu tư bản. Theo nhận định của Lênin,
góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí đóng góp vốn càng nhiều thì càng được hưởng
những chính sách ưu đãi về thuế của nước chủ nhà. FDI giúp tiếp thu công nghệ tiên tiến và
kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các chủ đầu tư nước ngoài. Nhờ đó FDI cho phép
nước chủ nhà có điều kiện khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên, vị trí,
mặt đất, mặt nước Sự cạnh tranh, ganh đua giữa các nhà đầu tư có vốn trong nước và
nước ngoài tạo động lực kích thích sự đổi mới và hoàn thiện trong các nhà doanh nghiệp và
đâu là nhân tố quan trọng đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao. Các dự án FDI góp
phần giải quyết việc làm và nâng cao mức sống của người lao động. Với những ưu điểm
trên FDI giúp cho các nước tiếp nhận phát triển kinh tế nhanh hơn tự thân vận động hay đi
vay vốn để mua lại kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển.
Mặt khác, mức độ "bóc lột" của các nước tư bản còn tuỳ thuộc vào điều kiện
kinh tế chính trị của các nước tiếp nhận đầu tư tư bản. Nếu như trước đây hoạt động
xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính họ, thì
ngày nay các nước nhận đầu tư đã là các quốc gia độc lập có chủ quyền, hoạt động đầu
tư nước ngoài phải tuân theo pháp luật, sự quản lý của Chính phủ sở tại và thông lệ
quốc tế, nếu các Chính phủ của nước chủ nhà không phạm phải những sai lầm của quản
lý vĩ mô thì có thể hạn chế được những thiệt hại của hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Bảng 1.1: Lợi thế của doanh nghiệp FDI so với doanh nghiệp nước
tiếp nhận đầu tư [58, tr.36]
Lợi thế Mô tả
Vốn
Có vốn lớn và chi phí vốn thấp hơn so với các doanh nghiệp
trong nước
Trình độ
quản lý
Có trình độ quản trị doanh nghiệp tốt hơn, có khả năng dự báo
và xác định rủi ro cũng như lợi nhuận tốt hơn
Công nghệ
lượng sản xuất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ công bằng xã
hội phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta. Kể từ sau Đại hội VI, công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước ngày càng đi vào chiều sâu, đồng thời quan niệm về con đường phát
triển của nước ta cũng từng bước được định hình ngày càng rõ nét. Đại hội VII của
Đảng (6/1991) lần đầu tiên đã đưa ra công thức: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước" [14]. Công thức này về sau được Đại hội VIII của Đảng (6/1996) điều chỉnh
thành: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN" [17]. Tiến lên một bước,
Đại hội IX của Đảng (4/2001) đã điều chỉnh thành: "Phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN" và xem đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ
quá độ lên CNXH. Trong mô hình này, chúng ta sử dụng cơ chế thị trường với tư cách
là thành quả của nền văn minh nhân loại làm phương tiện để năng động hoá và đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
Đồng thời, chúng ta đề cao vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền
kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh" [18].
Mô hình kinh tế tổng quát được xác định tạo cơ sở rất quan trọng cho sự hình
thành những quan niệm về phát triển kinh tế - xã hội. Nếu liên hệ với ba trụ cột của phát
triển bền vững là "tăng trưởng kinh tế nhanh", "xã hội ổn định, tiến bộ" và "môi trường
trong sạch" thì có thể nhận thấy rằng những chủ trương được vạch ra trong các nghị
quyết quan trọng của Đảng đều hướng tới phát triển bền vững. Văn kiện Đại hội VI của
Đảng khẳng định phải gắn kết chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xem "trình độ
phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục
tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế Trên cơ sở phát triển sản xuất,
tăng thêm thu nhập quốc dân, từng bước mở rộng quỹ tiêu dùng xã hội, làm cho nó giữ
vị trí ngày càng lớn trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá và các sự
nghiệp phúc lợi khác" [13, tr.86]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH, được thông qua tại Đại hội VII của Đảng, chỉ rõ: "Phương hướng lớn nhất
nghiên cứu về vấn đề này.
Bảng 1.2: Một số tiêu chí chủ yếu đánh giá tốc độ, tính chất bền vững
và chất lượng của sự phát triển kinh tế - xã hội [1, tr.76-77]
Tiêu chí ý nghĩa
* Phát triển
- Tốc độ tăng GDP (hay GNP)
Mức độ tăng về quy mô của nền kinh
tế.
- Cơ cấu ngành
Trình độ phát triển
- GDP bình quân đầu người
Phản ánh chất lượng của tăng trưởng
và phát triển.
- Năng suất lao động (GDP/LĐ)
Phản ánh chất lượng của tăng trưởng
và phát triển.
- Xuất, nhập khẩu/ GDP Độ mở cửa nền kinh tế
- Tỷ trọng GDP ngành phi nông
nghiệp trong nền kinh tế
Đánh giá mức độ công nghiệp hoá.
- Tỷ lệ ngành dịch vụ/ sản xuất Đánh giá độ hài hoà của sự phát triển.
- Tỷ lệ GDP ngành dịch vụ/ dân số Mức độ hưởng thụ các sản phẩm dịch vụ
của dân cư.
- Hệ số GINI Đo mức độ chênh lệch giữa các nhóm
dân cư theo thu nhập
trong nền kinh tế thì từ Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) trở lại đây, khu vực FDI đã
được khẳng định là một trong các thành phần cùng tồn tại trong nền kinh tế.
Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) và Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), tuy không
tách riêng khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thành một "thành phần kinh tế"
trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam, song đã ghi nhận sự hợp tác liên
doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản nước ngoài, khẳng định khu vực đầu tư nước
ngoài: "có vai trò to lớn trong động viên về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý "
[17]. Với quan điểm như vậy, chính sách đối với khu vực có vốn FDI trong thời kỳ này
chủ yếu hướng vào việc khuyến khích các nhà đầu tư liên doanh với các doanh nghiệp
nhà nước của Việt Nam hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, trừ những lĩnh vực có
tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế quốc dân và an ninh quốc phòng.
Năm 2001, lần đầu tiên khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được công
nhận là một thành phần kinh tế với vai trò "hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm "
[18]. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 (khoá IX), Đảng Cộng sản Việt Nam đã
đề ra nhiệm vụ "phải tạo chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài" [19].
Theo đó, chính sách thu hút FDI trong thời gian tới sẽ tập trung vào nâng cao
chất lượng FDI vào Việt Nam thông qua việc thu hút mạnh hơn nữa các tập đoàn xuyên
quốc gia đầu tư vào các ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh
vực công nghệ cao, công nghệ nguồn. Thay đổi trong nhận thức và quan điểm của Đảng
và Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là cơ sở quan trọng để
Chính phủ sửa đổi và hoàn thiện các văn bản pháp luật về cơ chế chính sách thu hút vốn
FDI đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây.
Đảng và Nhà nước có những quan điểm về nâng cao hiệu quả và tăng thu hút vốn
FDI để phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới:
Một là, phải biến những yếu tố ngoại sinh thành yếu tố nội sinh. Khi nói về việc
tranh thủ sự viện trợ quốc tế, Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: "Ta phải khéo dùng cái
vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta, nhân dân và cán bộ ta chớ
Không chỉ là tổ chức và quản lý những khu dân cư mới mà quan trọng hơn phải có
chương trình xây dựng một đội ngũ công nhân mới mà đa số vừa xuất thân từ nông dân, từ
học sinh hay những người lao động tự do, làm cho họ không chỉ nâng cao về tay nghề mà
cả về ý thức chính trị, lập trường giai cấp công nhân, về lối sống nhân văn, hiện đại; phòng
ngừa và ngăn chặn các tệ nạn xã hội; xây dựng quan hệ chủ thợ lành mạnh, đảm bảo lợi ích
chính đáng của cả hai bên.
1.2. Mối quan hệ giữa FDI với phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1. Những ảnh hưởng tích cực của FDI đến quá trình phát triển kinh tế -
xã hội ở Việt Nam
Đầu tư quốc tế được thực hiện ở Việt Nam dưới hai hình thức cơ bản: Đầu tư
trực tiếp nước ngoài và tín dụng quốc tế chủ yếu thực hiện qua thu hút vốn ODA. 18
năm qua kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời ở Việt Nam (12/1987 - 12/2005) hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có sự đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã
hội thể hiện qua các mặt:
Thứ nhất, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế:
Vốn FDI có bước chuyển tích cực, tổng mức vốn đăng ký đạt 20,9 tỷ
USD. Vượt trên 39% so với kế hoạch; tổng vốn thực hiện 14,3 tỷ USD, vượt
30% so với kế hoạch và tăng 13,6% so với 5 năm trước. Năm 2005, các
doanh nghiệp FDI đóng góp 15,9% GDP, chiếm 31,2% tổng kim ngạch xuất
khẩu (chiếm khoảng 50% nếu tính cả dầu khí), đóng góp gần 10% tổng thu
ngân sách nhà nước (tính cả dầu khí thì trên 36%), tạo việc làm cho khoảng 1
triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp [20, tr.152-153].
Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới với xuất phát điểm rất thấp. Do vậy, xét
về nhu cầu vốn, FDI được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư
trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cho phát triển. Đóng góp của FDI trong đầu
tư xã hội biến động lớn, một phần phản ánh diễn biến thất thường của nguồn vốn này,
một phần thể hiện những thay đổi về đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước. Giai
đoạn 1994-1995, tỷ trọng của FDI trong tổng đầu tư xã hội lên tới 30-31%, là mức cao
nhất cho đến nay. Tỷ lệ này đã giảm dần và năm 2004, FDI thực hiện ước còn chiếm
15,5% trong tổng đầu tư toàn xã hội (xem sơ đồ 1.1).
1 2 . 2
1 0
9 . 1
6 . 36 . 4
6 . 1
1 4 . 5
1 5 . 2
7 . 4
0
5
1 0
1 5
2 0
2 5
3 0
3 5
1 9 9 1 1 9 9 2 1 9 9 3 1 9 9 4 1 9 9 5 1 9 9 6 1 9 9 7 1 9 9 8 1 9 9 9 2 0 0 0 2 0 0 1 2 0 0 2 2 0 0 3 2 0 0 4
% s o v í i t æn g ® Ç u t x · h é i % ®ã n g g ã p t r o n g G D P
Đầu tư nước ngoài là kênh vốn quan trọng góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng
kinh tế: Thời kỳ 1991 - 1995 vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư
xã hội; thời kỳ 1996 - 2000 số vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,8 lần so với giai đoạn
trước đó, chiếm 24% tổng vốn đầu tư xã hội. Riêng trong hai năm 2001, 2002 vốn
đầu tư nước ngoài chiếm 18,5% tổng vốn đầu tư xây dựng.
Thứ hai, các dự án đầu tư nước ngoài góp phần tăng thu ngân sách, góp phần cải
thiện cán cân thanh toán và cán cân vãng lai của quốc gia: Với hàng ngàn dự án đang
hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng GDP của Việt
Nam. Năm 1993 chiếm 3,3%; năm 1995 chiếm 6,3%; năm 1998 chiếm 10,1%. Từ
năm 2000 đến năm 2004 mỗi năm đều chiếm trên 13% của Việt Nam. Theo số liệu
200
2
200
3
200
4
T
ỷ trọng
trong GDP
(%)
1,0
1,5
2,0
3,6
6,1
6,3
7,4
9,1
10,
0
11,
8
2003
2004
Xuất
khẩu
52 112
260
352
336
788
1.790
1.982
2.547
3.300
3.670
4.500
5.900
50 79 132
Thứ ba, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Việt Nam theo hướng CNH, HĐH. ở những năm 1988-1995 đầu tư nước ngoài chủ
yếu thực hiện trong các ngành bất động sản: Xây dựng khách sạn, khu nghỉ mát, khu
chế xuất, văn phòng cho thuê thì thời kỳ 1996-2003 đầu tư trực tiếp nước ngoài thực
hiện nhiều hơn vào các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ: chiếm 53% vốn đăng ký
và 73% vốn thực hiện, các dự án đầu tư vào dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ kỹ
thuật tăng 1,4 lần ở thời kỳ này [24]. Hiện đầu tư nước ngoài chiếm gần 38% sản lượng
công nghiệp của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 20%. Đầu tư nước
ngoài có vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu chế xuất và khu công nghiệp ở
Việt Nam.
Thứ tư, các dự án đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng trong nâng cao trình
độ kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam. Thông qua các dự án đầu tư FDI nhiều công
nghệ mới, hiện đại đã đưa vào sử dụng ở Việt Nam trong các ngành tìm kiếm, thăm
dò và khai thác dầu khí, ngành bưu chính viễn thông, sản xuất vi mạch điện tử, sản
xuất máy tính, hoá chất, sản xuất ô tô, thiết kế phần mềm Những dự án này đóng
góp đáng kể để tăng khả năng cạnh tranh của công nghệ Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế (xem bảng 1.5).
Bảng 1.5: Mức độ hiện đại của máy móc thiết bị sử dụng trong các khu vực kinh tế
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh so với tiêu chuẩn quốc tế (năm 1999) [51,
tr.29]
Khu vực
Tỷ lệ những
thiết bị hiện
đại (modern)
Mức độ hiện
đại trung bình
(so với thiết bị
hiện đại nhất)
Ngoài ra trên 50% trị giá sản phẩm của các dự án đầu tư nước ngoài được xuất
khẩu ra thị trường thế giới góp phần nâng cao thị phần sản phẩm và uy tín của Việt Nam
trên thị trường quốc tế.
Thứ sáu, đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn
nhân lực và nâng cao mức sống cho người lao động. Số lao động làm trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng (xem bảng 1.6). Một số lượng đáng
kể các nhà quản lý kinh doanh và người lao động được đào tạo trong và ngoài nước góp
phần làm cho chất lượng lao động tăng lên, đây là nhân tố quan trọng góp phần làm cho
môi trường đầu tư của Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh.
Ngoài ra, các dự án FDI thông qua lương mang lại thu nhập cho người lao động,
góp phần cải thiện đời sống. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2003:
lương bình quân của công nhân trong các dự án đầu tư nước ngoài là 76-80 USD/tháng;
của kỹ sư: 220-250 USD/tháng, của cán bộ quản lý khoảng 490-510 USD/tháng. Tổng
thu nhập của người lao động của các dự án FDI hàng năm trên 500 triệu USD, đây là
nhân tố góp phần tăng sức mua cho thị trường xã hội.
Bảng 1.6: Số lượng việc làm cho khu vực FDI tạo ra [51, tr.30]
ĐVT: 1000 người
FDI
91-
95
96 97 98 99 2000
2001
2002
2003
2004
được những thành tựu quan trọng trong thu hút FDI phục vụ công cuộc xây dựng, đổi
mới đất nước. FDI đã góp phần xứng đáng vào việc tạo nên những thành tựu to lớn về
kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian qua. Mặc dù vậy, trong lĩnh vực này vẫn
còn không ít vấn đề đặt ra. Những hạn chế, cản trở đang làm kém sự hấp dẫn và hiệu
quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đó là:
1.2.2.1. Về phía Việt Nam
Thứ nhất, môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Đó là về các lĩnh
vực như: luật pháp, cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng, buôn lậu, hàng giả, hàng nhái, hệ
thống công nghiệp hỗ trợ
Về pháp luật, cơ chế chính sách, mặc dù trong những năm qua luật đầu tư nước
ngoài của Việt Nam đã được sửa đổi nhiều theo hướng ngày thông thoáng, thuận lợi cho
đầu tư nước ngoài nhưng không ít nhà đầu tư vẫn còn băn khoăn, than phiền về tình
trạng thiếu tính hệ thống, ổn định, minh bạch và khả thi của luật pháp. Bộ máy hành
chính - tổ chức quản lý của ta còn rườm rà, nhiều khi chồng chéo nhau. Trong khi đó, sự
hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương còn kém hiệu quả, thủ tục đầu tư, đặc biệt là thủ
tục triển khai dự án vẫn còn phức tạp. Nhiều chuyên gia về đầu tư nước ngoài vẫn chưa
hài lòng về môi trường đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Theo điều tra của tổ chức xúc
tiến thương mại Nhật Bản năm 2003 thì 42% doanh nghiệp Nhật Bản được hỏi đều trả
lời rằng, khó khăn nhất của họ tại Việt Nam là thủ tục hành chính, trong khi đó con số
này ở Thái Lan là 12%, Inđônêxia là 22% [25].
Cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống ) còn yếu kém, ô nhiễm môi trường (do bụi,
khói xe, nước thải, rác công nghiệp ). Tình trạng tắc đường giao thông; nhà ở cho công
nhân còn thiếu thốn và trở thành vấn đề bức xúc hiện nay, nhất là ở Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh, Bình Dương - những nơi thu hút nhiều dự án đầu tư mà công nhân phần
lớn từ tỉnh ngoài về làm việc, không có nhà ở đang gây trở ngại trong việc thu hút và
triển khai các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Hệ thống công nghiệp hỗ trợ của ta còn yếu, làm cho chi phí kinh doanh cao.
Đây là một trong những nguyên nhân làm kém sức hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài
vào nước ta. Nạn buôn lậu, hàng hoá, hàng nhái ở nước ta còn phổ biến trong khi chúng
động dồi dào với giá nhân công rẻ, tài nguyên phong phú ), mặt khác, có ưu thế hơn
hẳn ta (về cơ sở hạ tầng, công nghiệp hỗ trợ, kinh nghiệm trong việc quảng bá, kêu gọi
đầu tư).
Thứ năm, tình trạng mất đất nông nghiệp diễn ra nhanh chóng cùng với quá trình
đẩy mạnh xây dựng các dự án đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng. Để thu
hút đầu tư, nhiều vùng đất nông nghiệp trồng lúa tốt, thuận tiện giao thông được phép
san lấp để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp. Hậu quả của điều này là đất nông nghiệp bị
giảm nghiêm trọng, nhất là những vùng đất màu mỡ, có nguy cơ đe doạ đến an ninh
lương thực của đất nước và một bộ phận lớn nông dân bị mất việc làm, phát sinh nhiều
hiện tượng tiêu cực xã hội.
Thứ sáu, việc quảng bá, giới thiệu về môi trường, tiềm năng đầu tư của Việt Nam
với nước ngoài. Đây là một công việc rất cần thiết để các doanh nghiệp nước ngoài hiểu
về tiềm năng, môi trường đầu tư của nước ta từ đó có thể thu hút đầu tư từ họ nhưng vấn
đề này trong thời gian qua chưa được chúng ta chú ý đúng mức làm giảm đi phần nào
sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Ông Oliver Schnakenberg
- Tham tán Đại sứ quán Đức tại Việt Nam nói: Với sự thiếu hụt này, Việt Nam đã đánh
mất cơ hội tự giới thiệu mình với các nhà đầu tư.
1.2.2.2. Về phía các nhà đầu tư vào Việt Nam
Thứ nhất, hiệu quả của hoạt động đầu tư chưa cao. Thể hiện trước hết của điều
này là vẫn còn khá phổ biến hiện tượng rút giấy phép, huỷ bỏ hợp đồng đầu tư, kinh
doanh thua lỗ. Tình trạng rút giấy phép còn khá phổ biến. Trong ba năm 1988-1990, số
dự án FDI bị rút giấy phép bình quân 2 dự án/ năm; giai đoạn 1991-1995, con số này
tăng lên bình quân 47 dự án/ năm; giai đoạn 1996-2000 là 80 dự án/năm; giai đoạn
2001-2002 tăng lên đến 95 dự án/ năm. Đi liền với sự tăng lên của số dự án bị rút giấy
phép, số vốn đầu tư bị rút xuống cũng tăng lên qua từng giai đoạn. Tổng số vốn bị rút
giấy phép trong giai đoạn 1988 - 2002 là 10 tỷ USD. Năm 2003, tại thành phố Hồ Chí
Minh, có khoảng 80% số dự án đăng ký bị giải thể hoặc rút giấy phép, con số này ở Hà
Nội là khoảng 30%. Nguyên nhân chính của tình hình này có thể do môi trường đầu tư
của Việt Nam còn những hạn chế như đã nêu ở trên.
phải chấp nhận hợp đồng chuyển giao công nghệ và đi kèm theo đó là phí chuyển giao
công nghệ (chiếm 2-5% doanh thu dự án trong thời gian 5-7 năm), có dự án bên nước
ngoài đòi hưởng tới 8% tiền bán sản phẩm trong thời hạn 20 - 30 năm. Khoảng 10% dự
án đầu tư (qua kiểm tra) có công nghệ lạc hậu hoặc quá lạc hậu. Nguy hiểm hơn là có
dự án sản xuất thuốc trừ sâu cực kỳ độc hại, nhiều nước đã có luật cấm sản xuất ta lại
nhập về và triển khai ở nhiều địa phương như công nghệ tạo bột ABS từ Alkysbenzen là
chất dễ gây bệnh ung thư, ở nước ta đã có quy định cấm từ lâu song họ vẫn nhập vào.
Điểm quan trọng là do khâu giám định thiết bị và công nghệ nhập khẩu của ta
còn yếu kém nên đã để xảy ra tình trạng đối tác nước ngoài nâng giá thiết bị, nhập vào
thiết bị cũ do các nước phát triển thải loại. Kết quả giám định thí điểm 14 dự án liên
doanh do công ty giám định quốc tế SGS (Thuỵ Sĩ) cho biết: có tới 8 liên doanh, chủ
đầu tư đã báo cáo giá thiết bị nhập khẩu cao hơn 10-20% so với giá giám định. Điều này
gây ra nhiều thiệt hại cho nhà nước Việt Nam cũng như cho đối tác Việt Nam tham gia
liên doanh [57].
Thứ hai, về tình trạng lừa đảo và trốn lậu thuế. Theo thống kê trong 3 năm 1993-
1995 đã có 66 vụ tội phạm kinh tế trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài làm thiệt hại 8.616
triệu USD và 11,636 tỷ VNĐ trong đó tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công ty
liên doanh. xảy ra phổ biến và nghiêm trọng nhất (chiếm 86% số vụ và 75% số tài sản
thiệt hại).
Loại tội phạm thứ hai thường xảy ra ở các công ty liên doanh là kinh doanh trái
phép và trốn lậu thuế. Trong số 61 vụ được phát hiện cho thấy các chủ đầu tư nước
ngoài trốn thuế 93,9 tỷ đồng. Về buôn lậu hàng hoá, phát hiện 38 vụ trị giá 8,9 triệu