Tiểu luận Kinh tế học
LỜI NÓI ĐẦU
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đang thực hiện chính sách đổi mới
toàn diện mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trọng tâm là chuyển đổi nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành
phần hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam
đã nhiều năm duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhất là gần đây
luôn duy trì tốc độ trên 7%/năm, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng
cao, môi trường kinh tế, chính trị được giữ vững… Để có được những thành
tựu trên đã có sự đóng góp của rất nhiều thành phần kinh tế, trong đó thành
phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với sự
phát triển của nền kinh tế. Do vậy, Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
đã khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành nền
kinh tế thị trường. Mặt khác, năm 1987 Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài được
ban hành đã thể hiện được quan điểm mở cửa, hội nhập nền kinh tế Việt Nam
với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một nguồn vốn quan trọng của
toàn xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá; góp phần nâng cao năng lực quản lý và chuyển giao công
nghệ trên thế giới, mở rộng thị trường và tạo nhiều việc làm.
Tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động đầu tư vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế
và cần có nhiều biện pháp để khắc phục. Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực và
theo địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế; hiệu quả tổng thể về
mặt kinh tế - xã hội do hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa cao nhà
đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam vẫn còn ít; trình độ lao động trong các
doanh nghiệp nước ngoài còn chưa cao. Nguyên nhân của tình trạng trên do
khung pháp lí về đầu tư còn nhiều phiền hà; thủ tục rườm rà; việc sử dụng
vốn đầu tư nước ngoài đối với các nội dung phát triển kinh tế còn nhiều hạn
chế.
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
1
đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh
có lãi.
1.2. Bản chất và đặc điểm của đầu tư nước ngoài
Bản chất của đầu tư nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích hay
tìm kiếm lợi nhuận và nước tiếp nhận đầu tư thông qua di chuyển vốn (bằng
tiền, tài sản, công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tư nước ngoài) từ
nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư. Nhà đầu tư có thể là các tổ chức
kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư. Đây cũng là đặc điểm cơ bản của FDI.
Đặc điểm của FDI. Ngoài đặc điểm trên, FDI còn có đặc điểm sau đây:
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
3
- FDI mang tính lâu dài: Đầu tư trực tiếp các dòng vốn có thời gian hoạt
động dài, thời gian thu hồi vốn đầu tư ban đầu lâu.
- FDI có sự tham gia quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu
tư nước ngoài có quyền kiểm soát và tham gia các hoạt động quản lí của các
doanh nghiệp được tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài.
- Đi kèm dự án FDI có 3 yếu tố: hoạt động thương mại; chuyển giao
công nghệ; di cư lao động quốc tế.
- FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa đầu
tư giữa quốc gia. Chính sách về FDI của một quốc gia tiếp nhận đầu tư thể
hiện chính sách mở cửa và quan điểm hội nhập đầu tư quốc tế.
- FDI là sự gặp gỡ về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và bên kia là
nước tiếp nhận đầu tư.
II. Tác động của FDI đối với phát triển kinh tế.
2.1. Tác động tích cực
2.1.1. FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng
kinh tế, giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất
(vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…).
Hoạt động FDI đã trực tiếp đóng góp vào GDP của các nước tiếp nhận
đầu tư.
Tác động tích cực của FDI đối với phát triển công nghệ qua:
- Chuyển giao công nghệ: để công nghệ mới và tiên tiến phục vụ hoạt
động sản xuất thì cần phải chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang
các nước đang phát triển. Do hoạt động chuyển giao công nghệ ngày càng
phức tạp do vậy chuyển giao công nghệ thông qua FDI là một kênh chuyển
giao hiệu quả và chi phí thấp. Chuyển giao công nghệ thông qua FDI đã làm
cho khoảng cách công nghệ giữa nước đi đầu và nước tiếp nhận đầu tư bị thu
hẹp. Hình thức chuyển giao được thực hiện thông qua: Chuyển giao bên trong
là hình thức chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con (nước tiếp nhận đầu
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
5
tư). Chuyển giao bên ngoài được thực hiện giữa các công ty khác nhau liên
doanh với doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ công nghệ…
- Hoạt động phổ biến công nghệ: Hoạt động FDI tạo ra hiệu ứng tích
cực đối với các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư (i) thông qua cạnh
tranh sẽ thúc đẩy việc cải thiện và nâng cao công nghệ trong nước; (ii) di
chuyển lao động từ nơi có trình độ công nghệ cao đến các nước đang phát
triển góp phần chuyển giao công nghệ).
2.1.4. Nâng cao chất lượng lao động
Chất lượng lao động có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng
kinh tế của một quốc gia. FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp
nhận đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng. Số lượng là việc giải quyết việc
làm cho người lao động. Còn chất lượng lao động, FDI làm thay đổi cơ bản
nâng cao năng lực và kỹ năng lao động thông qua: đào tạo trực tiếp và gián
tiếp nâng cao trình độ lao động.
- Trực tiếp đào tạo: Do các công ty nước ngoài hoặc có doanh nghiệp
có vốn FDI phải tuyển dụng lao động địa phương. Để lao động địa phương có
thể sử dụng thành thạo những công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao,
phương thức đào tạo có thể là: đào tạo trực tiếp thông qua các khóa học do
ngành kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Một cơ cấu
kinh tế hợp lý ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài đi kèm với vốn, kỹ năng và trình độ quản lý
có tác động mạnh đến cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến làm thay đổi và dịch
chuyển cơ bản cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Việc nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho thấy
một đặc điểm là nguồn đầu tư đó chủ yếu nhằm vào cácngành công nghiệp và
dịch vụ. Đối với ngành nông nghiệp, tỷ lệ của nguồn vốn đầu tư đó là tương
đối thấp hoặc nếu có thì chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến.
Như vậy, nhìn chung hoạt động FDI sẽ góp phần làm cho cơ cấu kinh tế của
nước tiếp nhận đầu tư chuyển dịch theo hướng tương đối ngành công nghiệp
và dịch vụ so với ngành nông nghiệp.
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
7
2.1.7. Một số tác động tích cực khác
- FDI góp phần bảo vệ môi trường, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên.
- FDI góp phần vào quá trình mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế.
2.2. Những thách thức; hạn chế của FDI
2.2.1. Vấn đề về bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế
Thứ nhất, vốn do hoạt động FDI cung cấp có chi phí vốn cao hơn so với
các nguồn vốn khác từ nước ngoài (vay thương mại hoặc vay giữa các chính
phủ).
Thứ hai, vốn do hoạt động FDI có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ
của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Nếu vốn FDI được cung cấp là lớn sẽ giảm cầu
tiền, làm tăng lạm phát và ảnh hưởng đến kế hoạch điều chỉnh chính sách tiền
tệ.
2.2.2. Về môi trường, chuyển giao công nghệ về hiệu quả sản xuất
Về vấn đề môi trường: tốc độ tăng trưởng cao sẽ phải sử dụng nhiều tài
nguyên thiên nhiên và chất thải từ hoạt động sản xuất là nguyên nhân chính
Người lao động làm trong doanh nghiệp FDI thường đòi hỏi phải có
trình độ lao động cao nếu không đáp ứng thường bị xa thải. Một trong những
nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng người lao động bị sa thải đó là sự hợp
nhất, sáp nhập và giải thể của các công ty, tập đoàn kinh tế mạnh trên thế giới
ngày càng tăng lên.
Nguyễn Hùng Cường Lớp: K18 - ĐHKT - ĐHQGHN
9
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
I. Tác động tích cực đối với phát triển kinh tế
1.1. FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam qua các thời kỳ là không ổn
định. Thời kỳ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là 1992 - 1997 với tốc độ
tăng trưởng GDP trên 8%. Sau thời gian chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tiến độ của khu vực 1997-1998 tốc độ tăng GDP có xu hướng giảm
xuát đạt thấp nhất vào năm 1999 là 4,77%. Tuy nhiên trong những năm gần
đây tốc độ tăng GDP của Việt Nam tương đối ổn định 6,8% (2001); 7,12
(2002); 7,24 (2003);…
Hoạt động FDI trong thời gian vừa qua đóng góp vai trò quan trọng làm
gia tăng GDP. Từ mức đóng góp 2% của hoạt động GDI với GDP năm 1992
nhưng trong 5 năm gần đây 2002-2006, tỉ lệ này là 13,9%; 14,3%; 15,1%;
15,9%; 17. Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam cùng chiều với sự
đóng góp của hoạt động GDP.
1.2. FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong những năm gần
đây đã tăng lên đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006. Vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2003 đạt 4000 tỷ đồng; năm
2004 khoảng 4200 tỷ đồng; năm 2005 là 5300 tỷ đồng.
1.3. Góp phần chuyển giao công nghệ