MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
I. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của FDI
1. Khái niệm về FDI Đặc điểm của FDI
2. Vai trò của FDI
II. Tổng quan về thu hút FDI
1. Khái niệm
2. Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài chính ở Việt Nam hiện nay
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
1. Các yếu tố về môi trường đầu tư
2. Công tác xúc tiến đầu tư
Chương II: Thực trạng thu hút FDI vào thành phố Hà Nội
I. Quá trình thu hút FDI của thành phố Hà Nội
II. Kết quả thu hút FDI trong những năm gần đây của thành phố Hà Nội
1. Quy mô và tốc độ tăng nguồn vốn FDI
2. Các đóng góp của nguồn vốn FDI với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành
phố Hà Nội
Chương III: Định hướng và một số giải pháp thu hút FDI vào thành phố Hà Nội
I. Định hướng
II. Một số giải pháp thu hút FDI tại Hà Nội
1. Giải pháp hoàn thiện chích sách thu hút vốn đầu tư FDI
2. Nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến thu hút FDI
3. Nâng cao và hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ thu hút FDI
4. Tiếp tục cải cách hành chính
5. Tăng cường phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan chức năng
6. .Nâng cao trách nhiệm và trình độ của cán bộ trong công tác xúc tiến và thu
hút FDI .
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế hoạt động và phát triển trên cơ sở hội nhập với
nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Sự kiện Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị APEC và
Mai, cô đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em và cung cấp những số liệu cần thiết để bài viết của
em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn
Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
I. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của FDI
1. Khái niệm về FDI
Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức và thống nhất về đầu tư. Do vậy cũng
có nhiều khái niệm về đầu tư khác nhau, không có sự thống nhất chung. Nhưng chúng ta có thể
hiểu đầu tư là quá trình một cá nhân hay một tổ chức bỏ tiền của, công sức, trí tuệ của mình ra để
kinh doanh nhằm những mục tiêu riêng của họ, mục tiêu này có thể là vì lợi nhuận hay phi lợi
nhuận.
Và cũng dựa vào nguồn gốc của nhà đầu tư người ta chia thành đầu tư trong nước nếu
nhà đầu tư là người trong nước và đầu tư nước ngoài nếu nhà đầu tư là người nước ngoài. Đồng
thời dựa vào mục đích và cách thức góp vốn mà người ta chia ra làm đầu tư trực tiếp và đầu tư
gián tiếp.
Vốn nước ngoài có các hình thức chủ yếu sau: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), việc
trợ nhân đạo từ các quốc gia, tổ chức tài chính quốc tế hoặc các tổ chức phi chính phủ, đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư gián tiếp nước ngoài, vay thương mại từ các ngân hàng nước
ngoài hoặc thị trường tài chính quốc tế. Trong các hình thức trên đầu tư trực tiếp nước ngoài có
vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn đặc biệt là trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay nó
lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hinh thức vốn sản xuất
thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành tổ chức sản xuất nhằm tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ và
năng lực quản lý để tối đa hóa lợi ích của mình.
Bản chất của FDI càng thể hiện rõ hơn qua việc xem xét nó dưới góc độ nhà đầu tư, đối
với nước tiếp nhận đầu tư và với tư cách là một dòng vốn quốc tế. Vai trò của FDI có thể rất
khác nhau đối với sự phát triển của các nước khác nhau, đối với từng giai đoạn phát triển khác
nhau của một nước. Do vậy mỗi quốc gia tiếp nhận FDI thường có chiến lược, sách lược, trọng
tâm và lộ trình riêng cho việc thu hút dòng vốn này.
2. Đặc điểm của FDI
Các doanh nghiệp FDI thường tập trung trong các ngành nghề sử dụng nhiều vốn và công
nghệ hiện đại. Lao động làm việc đòi hỏi có tay nghề và trình độ chuyên môn cao. Mức đầu tư
trên một lao động ở các doanh nghiệp có vốn FDI thường lớn hơn so với các khu vực kinh tế
khác. Lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI được làm quen với thiết bị công nghệ hiện
đại, học hỏi được các kỹ năng quản lý doanh nghiệp tiên tiến, có mức thu nhập cao hơn mức thu
nhập trung bình. Tuy không giải quyết việc làm trên quy mô lớn, nhưng các doanh nghiệp FDI là
một trong những giải pháp quan trọng trong nâng cao năng lực lao động của địa phương. Hơn
nữa, với tỷ lệ nội địa hóa các nguyên liệu đầu vào tăng dần, các doanh nghiệp địa phương sẽ mở
rộng được sản xuất, kéo theo tạo được nhiều việc làm mới cho lao động. Kinh nghiệm của các
nước cho thấy mức độ giải quyết việc làm gián tiếp của các doanh nghiệp FDI cáo hơn rất nhiều
so với giải quyết việc làm trực tiếp. Việc giải quyết việc làm của khu vực kinh tế nước ngoài ở
Hà Nội có đặc thù riêng. Mặc dù đóng góp vào ngân sách của thành phố là rất lớn nhưng các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút được một tỷ lệ rất ít người lao động. Bởi vì, lao
động trong các doanh nghiệp này đòi hỏi yêu cầu rất cao mà lao động trên địa bàn thành phố
chưa đáp ứng được. Hiện nay Hà Nội đang tập trung đào tạo tay nghề, trau dồi ngoại ngữ cho lao
động đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của các doanh nghiệp nước ngoài.
Thấy được rõ vai trò, tầm quan trọng của dòng vốn FDI đối với sự tăng trưởng và phát
triển của Thủ đô. Trong những năm qua thành phố đã không ngừng đưa ra những chiến lược,
những giải pháp để tăng cường thu hút FDI trong đó công tác xúc tiến đầu tư được quan tâm và
thúc đẩy nhiều nhất và công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài của thành phố đã đem lại nhiều kết
quả khả quan, góp phần gia tăng tổng vốn đầu tư nước ngoài và thành phố Hà Nội. Trong các
năm đầu thời kỳ kế hoạch, bối cảnh sau khủng hoảng tài chính khu vực đã ảnh hưởng sâu sắc,
dẫn đến sự giảm sút của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Những năm sau đó đặc biệt là khủng hoảng
kinh tế năm 2008 đã ảnh hưởng tiêu cực tới dòng vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng. Nhưng với sự hỗ trợ từ các kết quả của công tác xúc tiến đầu tư
mang lại thì vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vẫn đạt mức
cao và tương đối ổn định. Nhờ có nỗ lực trong việc cải thiện môi trường đầu tư cũng như cải
thiện kỹ thuật xúc tiến đầu tư mà dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng qua các năm
góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của thủ đô.
Có thể nói rằng vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có tác dụng vô cùng lớn đối
Thông qua các chương trình dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI mà việt nam cũng như
thành phố Hà Nội có thể có quan hệ giao lưu, hợp tác với các nước khác trên thế giới. Đồng thời
có thể tiếp nhận, học hỏi một số kĩ thuật tiên tiến của các nước có nền công nghệ tiên tiến trong
các nghành kinh tế mà Việt Nam còn yếu hay kém phát triển như các ngành về bưu chính viễn
thông, lọc hóa dầu, năng lượng… đồng thời Việt Nam còn có thể tiếp thu được một số kinh
nghiệm quản lý của nước ngoài. Đây là những thứ mà việt nam đang rất yếu và rất thiếu cần
nâng cấp để có một nền kinh tế vững mạnh hơn.
Từ những vai trò kể trên có thể thấy rằng tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
đến sự phát triển kinh tế nói chung của việt nam và Hà Nội nói riêng như thế nào. Trong thời đại
công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày nay đây là một hình thức rất tốt trong công cuộc thu hút
vốn, đầu tư nhằm phát triển đất nước. Nó còn góp phần giải quyết một số vấn đề nan giải của Hà
Nội đó là việc làm, khả năng, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, đa dạng hóa
nền kinh tế, hình thức sở hữu…
II. Tổng quan về thu hút FDI vào thành phố Hà Nội
1. Khái niệm
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thu hút FDI và phương thức thu hút FDI. Nhưng có thể
hiểu cụ thể nhất thu hút FDI như sau:Thu hút FDI là quá trình, là các phương thức mà chính phủ
sử dụng các công cụ kinh tế, chính sách của mình để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
tham gia đầu tư vào các ngành kinh tế trọng điểm của nước ta nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát
triển theo những con đường, mục tiêu mà nước ta đã chọn trước.
Theo như cách hiểu này thì thu hút FDI là tổng hợp của những công cụ chính sách nhằm
tạo ra các lực đẩy cho nền kinh tế theo hướng đã định.
2. Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài chính ở Việt Nam hiện nay
Theo Điều 21 Luật Đầu tư 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các nhà
đầu tư nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới những hình thức sau:
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng kinh doanh.
- Doanh nghiệp liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao
– kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT)…
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được
hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự
quản lý, điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp này được
thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh
của Luật Đầu tư tại Việt Nam. Vốn pháp định cũng như vốn đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài
góp vốn, vốn pháp định ít nhất bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp.
1$456718"187!9:;
Là một phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa
nhà đầu tư nước ngoài (có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài) với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ở Việt Nam để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu, hạ tầng trong thời gian nhất định,
hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt
Nam.
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao thường được thực hiện bằng vốn nước
ngoài 100%, cũng có thể được thực hiện bằng vốn nước ngoài và phần góp vốn của Chính phủ
Việt Nam hoặc các tổ chức, cá nhân Việt Nam. Trong hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư có
toàn quyền tổ chức xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ thu hồi vốn đầu tư và
có lợi nhuận hợp lý, sau đó có nghĩa vụ chuyển giao cho nhà nước Việt Nam mà không thu bất
kỳ khoản tiền nào.
$4567187!8"1 (BTO) là phương thức đầu tư dựa trên
văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để
xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài
sẽ chuyển giao công trình cho nhà nước Việt Nam. Nhà nước Việt Nam sẽ dành cho nhà đầu tư
quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
hợp lý.
$4567187! (BT) là một phương thức đầu tư nước ngoài trên văn
bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây
dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
công trình đó cho nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước
ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư FDI tại thành phố Hà Nội
hình thành trên nền trầm tích thuộc thời kỳ thứ 2, khả năng chịu nén tốt). Vùng phù sa mới (nằm
ở phía nam ngoại thành Hà Nội, phần lớn ở huyện Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm. Đất ở đây chủ
yếu do phù sa mới của sông Hồng hình thành, nền đất yếu hơn vựng trờn)
Trên cơ sở quá trình tạo thành và cấu trúc địa hình hiện đại, có thể phân bố lãnh thổ thành
phố Hà Nội thành 2 vựng chớnh sau:
+ Vùng đồng bằng: địa hình đặc trưng của Hà Nội, chiếm tới 90% diện tích đất tự nhiên, bao
gồm toàn bộ nội thành, các huyện Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì và một phần phía
Nam của huyện Sóc Sơn. Độ cao trung bình của vùng từ 4-10 m, cao nhất khoảng 20m so với
mặt nước biển. Nơi đây tập trung đông dân cư, với nền văn minh lúa nước, trồng hoa màu, chăn
nuôi gia súc
+Vựng đồi núi: chiếm 10% diện tích đất tự nhiên tập chung chủ yêu ở phía Tây Bắc huyện
Sóc Sơn. Địa hình của vùng này phức tạp, phần lớn là các đồi núi thấp, độ cao trung bình từ 50-
100m. Vùng đất này tầng đất rất mỏng, thích hợp với việc phát triển các cây trồng lâm nghiệp.
• ;7>>>
Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nội là 3.324,92 km2, trong đó diện tích đất ngoại
thành chiếm 90.86%, nội thành chiếm 9.14%. Trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 47.4%, đất
lâm nghiệp chiếm 8.6%, đất chuyên dụng chiếm 22.3%, đất nhà ở chiếm 12.7%, đất chưa sử
dụng chiếm 9%.
Hệ thống đất của Hà Nội gồm các nhóm:
- Đất phù sa thuộc hệ thống sông Hồng vừa có quy mô diện tích lớn (91.4% diện tích
nhóm), phân bố tập trung, vừa ít chua và hầu hết các chỉ tiêu lý hoá học đểu cao hơn đất phù sa
của cỏc sụng khỏc. Đất phù sai sông Hồng rất màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng nhiệt
đới.
- Đất phù sa được bồi đắp bởi các sông có màu nâu đậm, thành phần cơ giới nhẹ hơn đất
phù sa sông Hồng.
- Tài nguyên đất của Hà Nội rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và cây công
nghiệp ngắn ngày, đây là điểm mà các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm khi đầu tư vào ngành
công nghiệp ở Hà Nội.
Tuy nhiên, quỹ đất của Hà Nội hẹp gây khó khăn trong việc phát triển ngành công nghiệp,
các nhà đầu tư e ngại, sợ rằng khi đó cú đươc giấy phép đâu tư nhưng lại chưa giải phóng mặt
công việc phù hợp. Với lượng lao động dự trữ dồi dào, trình độ cao, các nhà đầu tư nước ngoài
có thể tuyển dụng với mức lương tương đối thấp so với các nước khác và không phải mất nhiều
phí đào tạo nhân công như đầu tư vào các địa phương khỏc trờn cả nước.
Là trung tâm văn hoá xã hội của đất nước, là nơi có truyền thống văn hoá lâu đời, Hà Nội
là nơi tập trung của rất nhiều di tích lịch sử, các lễ hội dân gian. Hàng năm Hà Nội thu hút rất
đông một lượng khách du lịch đến với mình. Các doanh nghiệp có thể tập trung phát triển các
ngành công nghiệp dịch vụ như khách sạn, trung tâm vui chơi, giả trí.
<="2"
• Trong 5 năm từ 2008 đến 2012
Đánh giá về tình hình phát triển kinh tế của Hà Nội sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số
15 của Quốc hội về mở rộng địa giới hành chính, ông Ngô Văn Quý, Giám đốc Sở Kế hoạch và
Đầu tư Hà Nội cho biết, sau 5 năm Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, kinh tế Thủ đô đã duy
trì tăng trưởng với tốc độ cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các ngành dịch
vụ, công nghiệp xây dựng, nông lâm thủy sản phát triển toàn diện.
Bảng số liệu thu nhập bình quân theo vùng khu vực ĐBSH giai đoạn 2010-2012 (dv:
nghìn đồng)
STT Địa bàn
2010 2011 2012
Thu nhập
BQ đầu
người
Thu nhập
BQ hộ
GĐ
Thu
nhập BQ
đầu
người
Thu
nhập BQ
có xu hướng tăng.
Thành phố Hà Nội có số thu nhập bình quân theo đầu người và bình quân theo hộ gia
đình cao nhất trong khu vực và có xu hướng tăng liên tục từ 2010 đến 2012. Thu nhập bình quân
đầu người tăng từ 2013 nghìn đồng năm 2010 lên 3027 nghìn đồng năm 2012, tăng xấp xỉ 1.5
lần. Thu nhập bình quân hộ gia đình tăng từ 3919.1 nghìn đồng năm 2010 lên 5893.3 năm 2012.
Biểu đồ thể hiện GDP theo giá thực tế khu vực Đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2010-
2012 (dv: %)
Theo đó ta có thể thấy rằng Hà Nội luôn là nơi chiếm tỷ trọng GDP theo giá thực tế cao
nhất khu vực ĐBSH, tuy nhiên tỷ trọng này lại có xu hướng giảm liên tục từ năm 2010 đến 2012.
Cụ thể giảm từ 43.7% năm 2010 xuống 41.6% năm 2011 và giảm xuống còn 40.6% năm 2012.
Ngoài ra, mức tăng trưởng GDP giai đoạn 2008/2012 bình quân 9,45%/năm. Trong đó,
dịch vụ tăng 7,96%, công nghiệp - xây dựng tăng 9,32%, nông nghiệp tăng 0,4%. Thu nhập bình
quân đầu người năm 2012 đạt 2.257 USD, tăng gấp 1,3 lần so với năm 2008. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế của Thủ đô luôn cao gấp 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng của cả nước.
Bên cạnh đó, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tỉ trọng các ngành dịch vụ công
nghiệp - xây dựng tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm. Năm 2012, cơ cấu dịch vụ là 52,6%, công
nghiệp - xây dựng là 41,8% và nông nghiệp là 5,6%.
Các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, trình độ cao, chất lượng cao tiếp tục được phát
triển. Lĩnh vực thương mại tiếp tục được chú trọng phát triển, hạ tầng thương mại được đầu tư.
Trong 5 năm đã hoàn thành đưa vào sử dụng 16 trung tâm thương mại, 81 siêu thị và 33 chợ các
loại. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ duy trì tăng trưởng khá, trung bình hàng
năm tăng 23%.
Đặc biệt, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2012 tăng gấp 1,6 lần so với năm 2008, bình
quân tăng trưởng giai đoạn 2008-2012 đạt 12,9%. Hiện trên địa bàn Hà Nội có 8 khu công
nghiệp đã và đang hoạt động trên diện tích 1.203 ha, tỉ lệ lấp đầy diện tích đạt 98%.
Có thêm 2 khu công nghiệp đi vào hoạt động. Các khu công nghiệp mới với hạ tầng đồng
bộ, hiện đại sẽ là điểm hội tụ của các nhà đầu tư nước ngoài trong năm 2013 và những năm tiếp
theo. Hà Nội đã đầu tư xây dựng 107 cụm công nghiệp với tổng diện tích 3.192ha, tăng 5 cụm và
tăng 2,8% diện tích so với năm 2008.
Trong thời gian qua, thu ngân sách trên địa bàn liên tục đạt và vượt dự toán, bình quân
P7! tăng 9,7%; "#@4" @7! tăng 9%; 1P7!
" tăng 16%.
Ước tính năm 2013 có 1025,8 nghìn >H2' tăng thêm, tăng 15%
so với năm trước. Q#>HRR phát triển mới khoảng 387,1 nghìn thuê bao, tăng
15,9% , doanh thu viễn thông tăng 16,3%.
Tình hình giá cả thị trường năm 2013 đã hạ nhiệt hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước,
và đặc biệt đã có 3 tháng có chỉ số giảm. So với tháng trước, tháng3 giảm 0,21%, tháng 4 giảm
0,15%, tháng 5 giảm 0,22%. Năm 2013, LD# >1SH/T tăng 6,37% so với năm
trước, bình quân 1 tháng trong năm tăng 0,57%.
;F12R57(), toàn Thành phố 295.916,5 ha, tăng 2,6% so với
cùng kỳ năm 2012. 27@() hiện có toàn Thành phố là 17.715,8 ha, tăng 1,8% so
với cùng kỳ.
Năm 2013, tình hình chăn nuôi cơ bản ổn định. Đàn trâu 23.930 con, giảm 1,1% so
cùng kỳ. Đàn bò 130.960 con, giảm 7,6%; Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 1.409 tấn, giảm
0,2%. Sản lượng thịt bò hơi 9.040 tấn, tăng 1,5%; Sản lượng thịt lợn hơi 298.962 tấn, giảm
0,8%.
2U5) năm nay ước tính đạt 237,1 ha, giảm 20,7% so với cùng
kỳ. Q@4V" cả năm ước tính đạt 12.864,8 m
3
, tăng 20,7% so với năm trước; Q
@4" 47.392,8 Ste, tăng 21,9%; Trong năm đã xảy ra 24 vụ cháy rừng, giảm
62,5%; Diện tích rừng bị cháy 24 ha rừng, ước thiệt hại 133 triệu đồng. Phát hiện 4 vụ chặt phá
rừng trái phép, với diện tích 2,2 ha rừng bị phá và ước tính thiệt hại 22 triệu đồng. Xử lý 92 vụ
vi phạm hành chính về quản lý bảo vệ rừng và vận chuyển lâm sản, xử phạt thu nộp ngân sách
Nhà nước 1.354,2 triệu đồng, tịch thu 54,98 m
3
gỗ quy tròn.
Ước tính năm 2013, toàn thành phố có 18.483 hộ N5WD, tăng 3,9% so với
năm trước. Về sản lượng, toàn Thành phố thu được 76.042 tấn, tăng 6,5%; Sản lượng thuỷ sản
Quá trình xúc tiến đầu tư cần làm nhanh chóng, chính xác và áp dụng các công cụ chính
sách hợp lý nhằm giúp đỡ các nhà đầu tư xây dựng các chương trình mục tiêu của mình nhằm tạo
cho các dự án của họ nhanh chóng tạo ra hiệu quả kinh tế, tạo tiền đề cho các nhà đầu tư tiềm
năng có ấn tượng tốt và yên tâm khi đầu tư vào Hà Nội cũng như Việt Nam.
b) $V4 12Z /)")Y&Z/
1 ZP&6]R Y/81
Khi các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực FDI hay các nghành kinh tế khác có nhu
cầu. Cần hết sức giúp đỡ cho họ tìm kiếm những cơ hội đầu tư phù hợp với tiềm năng và khả
năng của từng doanh nghiệp, từng quốc gia có ý đầu tư FDI vào Hà Nội.
Hướng dẫn cho họ những dự án hợp với tiềm lực của riêng nhà đầu tư. Vận động họ đầu
tư vào các ngành mà chúng ta đang cần và chúng ta cũng cần có những ưu đãi nhất định để níu
kéo nhà đầu tư có tiềm năng. Mặt khác cũng cần kiên quyết loại trừ các nhà đầu tư không có
tiềm năng hay có những sai phạm nhất định nhằm làm trong sạch môi trường đầu tư. Tạo cơ hội
cho những nhà đầu tư còn lại.
c) KGH.ZF0/ &6]
Tiếp xúc với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các cấp chức năng cần tập trung giới
thiệu về những triển vọng và môi trường đầu tư của Hà Nội, tạo lòng tin mạnh mẽ cho các nhà
đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn, đầu tư tại Hà Nội. Tạo và xây dựng các cuộc tiếp xúc với các
nhà đầu tư nhằm tuyên truyền, giới thiệu cho họ những kiến thức cơ bản khi muốn đầu tư tại một
quốc gia tiềm năng như ở Hà Nội.
Các cuộc tiếp xúc này thực sự là cần thiết đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khi thực
hiện các cuộc đầu tư tại một nước khác là rất rủi ro đối với các nhà đầu tư. Do vậy thông qua các
cuộc tiếp xúc này giúp họ yên tâm hơn đối với các nhà đầu tư này. Thông qua đây cũng cần tang
thêm mối liên kết – hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như nhà nước của họ. đây có thể
nói là công tác xúc tiến đầu tư gián tiếp tác động đến quyết định và phương hướng của các nhà
đầu tư nước ngoài.
d) ; '&TH ZT Z671/)N^
_)MZ6MH @21`ZTH =)N^
Thông qua các cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo cấp cao, Hà Nội cần trú trọng công tác
xúc tiến đầu tư – quảng bá hình ảnh và dất nước và con người Hà Nội cũng như con người việt
1991-1995 có 16,244 tỷ USD vốn đăng ký với mức tăng trưởng hàng năm rất ngoạn mục. Năm
1991 là 1,275 tỷ USD thì năm 1995 là 6,6 tỷ USD, gấp 5,3 lần năm 1991. Vốn thực hiện trong cả
5 năm là 7,175 tỷ USD trong đó vốn nước ngoài là 6,08 tỷ USD, bằng 32% tổng vốn đầu tư của
cả nước. Hai năm tiếp theo đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng, thêm 13,29 tỷ USD vốn đăng
ký và 6,129tỷ USD vốn thực hiện .
Đây là giai đoạn đầu tư nước ngoài sôi động với hàng chục dự án được cấp mới. Bản đồ đầu
tư nước ngoài thay đổi một cách nhanh chóng trên địa bàn. Tuy nhiên, có không ít dự án do đầu
tư theo phong trào nên khi gặp khủng hoảng trong khu vực đã không thể triển khai được. Do đó,
số lượng dự án bị rút giấy phép trong giai đoạn này khá cao.
Giai đoạn 1997-2000: Đây là giai đoạn suy thoái đầu tư nước ngoài. Vốn đăng ký bắt đầu
giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong 2 năm tiếp theo. Có thể nói rằng trong những năm này
đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Nội có những biến động tương đối lớn.
Nguyên nhân chính của sự giảm sút FDI là do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu
vực làm suy giảm dòng đầu tư mới vào khu vực và các nhà đầu tư có một cách nhìn thực tế hơn
và làm cho nhiều dự án đã cấp phép nhưng không thể triển khai được.
Từ năm 2001 đến nay: Từ năm 2001 dòng vốn FDI có xu hướng phục hồi chậm và bắt đầu
từ năm 2004 đến nay dòng vốn FDI lại bắt đầu tăng trở lại. Nguyên nhân của dòng vốn FDI tăng
mạnh tại Hà Nội và các tỉnh khác là do Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương Mại Thế Giới WTO với những điều kiện thuận lợi cho thu hút FDI như: cam kết
mở cửa thị trường dịch vụ, giảm thuế suất thuế nhập khẩu, giảm bảo hộ và xoá bỏ phân biệt đối
xử quốc gia. Tuy nhiên trong năm 2008 khủng hoảng kinh tế đã làm mức đầu tư FDI vào Hà Nội
giảm nghiêm trọng. nhưng sang quý đầu của năm 2010 đã có dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng
nhanh.
Bảng 1. Tỷ trọng các doanh nghiệp khu vực Hà nội (dv:%)
Loại doanh nghiệp 2010 2011 2012
Doanh nghiệp nhà nước 0,56377 0,49948 0,0928
Doanh nghiệp ngoài nhà nước 97.67223 96,56169 97,86802
Doanh nghiệp FDI 1,764 2,93883 2,03918
Nhận xét: Qua bảng số liệu và biểu đồ ta có thể thấy:
• Doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỉ trọng khá cao và có xu hướng tăng tăng từ
tư vào Hà Nội đã tăng gần 7 lần từ 41 dự án lên tới 275 dự án. Năm 2008 là năm khủng hoảng
tài chính toàn cầu nhưng số dự án đầu tư vào Hà Nội vẫn không sụt giảm chứng môi trường kinh
tế cũng như chính trị của Hà Nội khá hấp dẫn, thu hút nhiều nhà đầu tư.
Biểu 6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo ngành
Số
TT
Ngành Số dự án
Vốn đầu tư đăng
ký
Vốn thực hiện
1 Nông nghiệp, lâm nghiệp và 20 56,609,736 3,443,378
thủy sản
2 Khai khoáng 0 0 0
3 Công nghiệp chế biến, chế tạo 324 1,714,732,421 638,333,388
4 Sản xuất và phân phối điện 3 26,891,000 0
5 Cung cấp nước 0 0 0
6 Xây dựng 246 237,922,960 195,831,711
7 Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô 80 174,893,287 83,700,917
8 Vận tải, kho bãi 34 89,482,233 42,294,469
9 Dịch vụ lưu trú và ăn uống 63 36,846,285 31,265,223
10 Thông tin và truyền thông 233 2,691,330,463 966,798,935
11 Hoạt động tài chính, ngân hàng 27 399,697,647 10,603,901
12
Hoạt động kinh doanh bất động
sản
127 8,182,991,475 1,384,326,553
13 Hoạt động khoa học 257 139,252,049 58,511,198
14
Hoạt động hành chính và dịch vụ
hỗ trợ