Đánh giá tác động của đầu tư trực
tiếp nước ngoài đến sự phát triển các
ngành và lónh vực của Thành phố
Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Hồi PhươngMỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) có một vò trí đặc biệt quan trọng
cả về mặt chính trò, kinh tế, xã hội và giao lưu quốc tế, là một trung tâm
của khu vực phía Nam và cả nước. Với vò trí là một đô thò lớn nhất nước ta,
một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đầu mối giao
lưu quốc tế quan trọng, Thành phố (TP) luôn chòu sự tác động sâu sắc bởi
bối cảnh chung của trong nước và quốc tế. Mỗi thuận lợi hay không thuận
lợi, mỗi thành công hay không thành công, mỗi bước đi nhanh hay chậm,
bền vững hay thiếu bền vững của TP đều có ảnh hưởng trực tiếp đến nhòp
điệu phát triển chung của khu vực và cả nước. Bên cạnh những thuận lợi cơ
bản từ những thành tựu đạt được, những kinh nghiệm trong quá trình thực
hiện đường lối đổi mới của Đảng, sự mở rộng quan hệ hợp tác và liên kết
quốc tế… Thành phố cũng đã gặp không ít khó khăn (chủ quan lẫn khách
quan).
Nhằm tiếp tục phát huy vò trí và vai trò của TP, Nghò quyết của Đại
TPHCM)… Các nghiên cứu trên phần lớn đề cập đến ĐTNN tại TPHCM,
Việt Nam trong mối tương quan chung các với nước trong khu vực và trên
thế giới. Ngoài ra còn có một số các bài báo, phóng sự… nhưng chỉ dừng ở
cấp độ cung cấp thông tin, gợi mở các vấn đề mang tính khái quát. Như vậy, ĐTNN đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sự
phát triển kinh tế của TPHCM về các mặt như giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động, tạo ra sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế của TP… Tuy
nhiên, nguồn vốn ĐTNN vào TP từ 1995-2004 có nhiều sự thay đổi, nhưng
so với một số nước trong khu vực thì khả năng thu hút vẫn còn hạn chế.
Trước tình hình đó đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu tổng thể
ĐTNN vào TP trong thời gian qua để tìm hiểu, đánh giá những mặt được và
chưa được từ đó đưa ra những biện pháp đúng đắn trong thời gian tới. Sự ra
đời của đề tài “Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự
phát triển các ngành và lónh vực của Thành phố Hồ Chí Minh” cũng nằm
trong lý do đó.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đánh giá hiện trạng ĐTNN tại TPHCM trong những năm gần đây,
đặc biệt là giai đoạn sau khi có chủ trương chủ động tích cực thu hút ĐTNN
1998-2005.
Phân tích và chỉ ra các mặt mạnh, mặt yếu và chỉ ra được các nhân tố
tác động đến các ngành và các lónh vực của quá trình ĐTNN tại TPHCM.
Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng quan tâm quá nhiều vào đến số
lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khi các nước lại chú trọng thu
hút chất lượng các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong quá trình
cạnh tranh thu hút đầu tư ta quá coi trọng sẽ lấy được bao nhiêu dự án
nhưng dường như xem nhẹ lợi ích của dự án, tác động của dự án đến nền
kinh tế. Đònh hướng đưa TPHCM trở thành một trung tâm thương mại, dòch
vụ, sản xuất công nghiệp sử dụng nhiều chất xám, công nghệ cao, vì thế
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂNNgoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự
phát triển cả nước và Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 2: Đánh giá tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành
và lónh vực kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3 : Các giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG
Chương 1:
TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CẢ NƯỚC VÀ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. Các khái niệm và hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI:
Foreign Direct Investment)
- Doanh nghiệp liên doanh
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Tuỳ theo điều kiện từng quốc gia, các hình thức đầu tư trên được áp
dụng ở mức độ khác nhau.
1.1.3.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract)
Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng
ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất - kinh
doanh ở nước nhận đầu tư, trên cơ sở quy đònh rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghóa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên
tham gia.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên
hợp doanh ký. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thoả thuận và
được cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư chuẩn y.
Trong các loại hình ĐTTTNN, hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa
dạng, không đỏi hỏi vốn lớn, các bên tham gia hợp đồng vẫn là những pháp
nhân riêng, thời hạn hợp đồng thường ngắn. Các nhà ĐTNN có ít tiềm lực
thường thích loại này.
1.1.3.2. Doanh nghiệp liên doanh (Join Venture Company)
Do các bên nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh
doanh, cùng hưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Doanh nghiệp
liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có
tư cách pháp nhân theo luật pháp nước nhận đầu tư. Mỗi bên liên doanh
chòu trách nhiệm đối với bên kia, với DN liên doanh trong phạm vi phần
vốn của mình trong vốn pháp đònh. Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài hoặc
của các bên nước ngoài do các bên liên doanh thoả thuận (theo Luật ĐTNN
của Việt Nam, vốn góp của bên nước ngoài không thấp hơn 30% vốn pháp
đònh của DN liên doanh và trong quá trình hoạt động không được giảm vốn
pháp đònh. Đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng kinh tế
nhà) còn nước chủ nhà không phải lúc nào cũng có thể tham gia góp vốn
thành lập DN liên doanh. Vì vậy đối với những dự án đầu tư vốn lớn, thời
hạn thu hồi vốn lâu, độ mạo hiểm cao và không đòi hỏi tham gia quản lý
sát sao quá trình vận hành các kết quả đầu tư (như dự án dầu khí, các dự án
xây dựng hạ tầng cơ sở kỹ thuật) thì thường buộc phải để nhà ĐTNN đầu tư
100%.
1.1.3.4. Các hình thức đầu tư khác
Ngoài 3 hình thức trên, các nước chủ nhà còn áp dụng các hình
thức khác như: hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (B.O.T), xây
dựng - chuyển giao - kinh doanh (B.T.O) và xây dựng - chuyển giao (B.T).
+Hình thức B.O.T (Built - Operate- Transfer): các chủ đầu tư
chòu trách nhiệm xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ để
thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ
công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất kỳ một
khoảng tiền nào.
+Hình thức B.T.O (Built - Transfer - Operate) : sau khi xây dựng
xong, nhà đầu tư chuyển giao cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà
dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian
nhất đònh để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý.
+Hình thức B.T (Built - Transfer): sau khi xây dựng xong, chủ
đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà, nước chủ nhà sẽ tạo
điều kiện cho nhà ĐTNN thực hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn đầu tư và
có lợi nhuận hợp lý.
1.2. Bối cảnh quốc tế và trong nước 1.2.1. Xu thế hội nhập, toàn cầu hoá
Trong suốt thế kỷ XX, xu thế quốc tế hoá kinh tế trong quy mô
khu vực và toàn cầu diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt là khi xuất hiện nền văn
1/1/1993 và thực hiện đầy đủ đối với các nước Việt Nam vào năm 2005,
Lào và Myanma vào năm 2007 và Campuchia vào năm 2009. Các nước
ASEAN thực hiện đầy đủ các nghóa vụ AFTA sẽ mở ra một thò trường rộng
lớn gồm khoảng 500 triệu người tiêu dùng với những mức thuế quan ưu đãi
và hàng rào phi thuế quan được giảm thiểu, hứa hẹn những cơ hội đầu tư,
kinh doanh hấp dẫn cho các nhà ĐTNN.
Nhận thức được tầm quan trọng của vai trò FDI đối với tăng
trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề việc làm nên các nước công nghiệp
phát triển lẫn các nước đang phát triển đều chú trọng thu hút ĐTNN. Với
việc hình thành NAFTA, EU… môi trường đầu tư tại các khu vực này trở
nên hấp dẫn cạnh tranh hơn do được mở và tự do hoá ở mức cao hơn. Nhiều
nước đang tiếp tục mở cửa tạo điều kiện thuận lợi cho FDI thông qua các
hiệp đònh song phương và những chính sách ưu đãi đầu tư trong phạm vi khu
vực và từng nước để tạo đà đi lên.
Báo cáo đầu tư thế giới năm 2004 của Liên hiệp quốc cũng cho
thấy làn sóng FDI đang hướng về Châu Á với giá trò khoảng 107 tỷ USD trong năm 2003, chấm dứt sự giảm sút của năm 2000, 2001, 2002 [7, tr.9].
FDI luôn phát triển với tốc độ nhanh và trở thành một loại hình quan hệ
kinh tế có vai trò quan trọng có tính tất yếu đối với sự phát triển nền kinh
tế thế giới và hầu hết các quốc gia, trong đó các nước công nghiệp phát
triển là lực lượng chi phối chủ yếu.
Nhiều ngành trước đây được xem như đóng cửa đối với FDI như
viễn thông, bảo hiểm… đã được mở ra cho FDI và tự do hoá hơn.
Theo các chuyên gia kinh tế thế giới, dòng vốn FDI chuyển sang
lónh vực dòch vụ rõ rệt (bưu chính viễn thông, điện, nước, các loại dòch vụ
thương mại). Trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2002, ĐTNN đổ vào
ngành điện, ga và nước tăng từ 10 tỷ lên 144 tỷ USD; các lónh vực viễn
thông, kho bãi, vận tải đón nhận 476 tỷ USD so với con số ít ỏi 29 tỷ USD
nước xã hội chủ nghóa trước đây ảnh hưởng lớn tới nhận thức tư tưởng, tâm
tư của đảng viên và nhân dân, cộng với khó khăn mới về các mối quan hệ
kinh tế, đồng thời Mỹ tiếp tục bao vây, cấm vận, các thế lực thù đòch tiếp
tục tấn công về nhiều mặt, trong đó có những biến động trong thời kỳ đổi
mới, xuất hiện lạm phát phi mã… những khó khăn đó tưởng chừng không
thể vượt qua (Kết thúc 5 năm 1986-1990, công cuộc đổi mới đã đạt được
những thành tựu bước đầu rất quan trọng, GDP tăng 4,4%/ năm. Việc thực
hiện tốt 3 chương trình mục tiêu phát triển về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá là thành công bước đầu nhằm
cụ thể hoá nội dung của công nghiệp hoá xã hội chủ nghóa trong chặng
đường đầu tiên đã được Đại hội IV thông qua; Trong 5 năm 1991-1995 nền
kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và tương đối
toàn diện, thực hiện vượt mức hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5
năm, GDP bình quân hàng năm 1991-1995 tăng 8,2%, vượt mức kế hoạch
đề ra; 5 năm 2001-2005, kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh theo hướng tích
cực, năm sau cao hơn năm trước. GDP tăng bình quân 7,5%, đạt mục tiêu
kế hoạch đề ra).
Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, bình quân hàng năm thời
kỳ 1991-1995 tăng 17,8%/năm; thời kỳ 1996-2000 tăng 21%/năm; thời kỳ
2001-2005 tăng 17,5%/năm. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người
tăng từ 36,3 USD năm 1990 lên 390 USD năm 2005 [10].
Giai đoạn 1986-2000, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn
và có ý nghóa đặc biệt quan trọng cho bước phát triển tiếp theo. Tổng sản
phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7%/ năm. Nông nghiệp phát triển
liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực (Việt Nam trở thành nước xuất
khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới). Giá trò sản xuất công nghiệp bình quân tăng
13,5%/năm. Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường. Các ngành dòch vụ,
xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng. Năm 2000, chúng ta đã chặn được đà
môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, hiệu quả, tạo mọi điều kiện tốt
nhất cho các nhà ĐTNN yên tâm đầu tư và làm ăn lâu dài tại Việt Nam.
Điểm mới của ĐTNN đó là Nhà nước chủ trương chuyển sang loại hình
công ty cổ phần (Nghò đònh số 38/2003/ NĐ-CP ngày 24/5/2003 về chuyển
đổi một số DN có vốn ĐTNN sang hoạt động theo hình thức cổ phần). Như
vậy sau gần 18 năm thực hiện Luật ĐTNN, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN
đã không ngừng phát triển và cùng với khu vực kinh tế tư nhân trong nước
trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng phát triển mạnh. ĐTNN đã
góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới và thúc đẩy tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam với khu vực và thế giới. Việc các nước và
vùng lãnh thổ tích cực đầu tư vào Việt Nam đã góp phần mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại và sự tham gia phân công lao động quốc tế của các doanh
nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình hội nhập kinh tế
của Việt Nam với khu vực và thế giới.
1.3. FDI đối với sự phát triển kinh tế cả nước
Từ khi công bố luật ĐTNN (12/1987), sau 3 lần sửa đổi - một đạo luật
đựơc đánh giá là rất thoáng và cởi mở - với những lợi thế về tài nguyên, lao
động, vò trí đòa lý, thò trường… ĐTNN vào nước ta đã và đang tăng nhanh
cả về số lượng và quy mô. Các số liệu sau đây chứng tỏ điều đó.
Bảng 1.1. Số dự án và vốn ĐTNN được cấp giấy phép tại Việt Nam
1988-2004
Năm Dự án Vốn đầu tư Vốn pháp đònh
Số
lượng
Mức
tăng(%)so
với năm
2003
2004
37
68
108
151
197
274
367
408
387
358
285
311
389
523
754
550
679
183,8
158,8
139,8
130,5
139,1
133,9
111,2
94,9
92,5
79,6
131,1
54,5
84,6
37,9
128,7
274,3
28,1
170,8
80,4
288,4
311,5
407,5
663,6
1418,0
1468,5
1899,0
3157,6
3280,3
2404,4
1976,0
693,3
1625,0
1044,1
721,4
1044,1
985,6
108,0
103,8
162,8
213,7
án đầu tư vào lónh vực sản xuất vật chất chiếm tuyệt đại bộ phận (75-80%),
cung cách làm ăn ngắn hạn, chụp giật dường như không còn. Các lónh vực
trước đây thu hút nhiều FDI nhất như kinh doanh khách sạn, xây dựng văn
phòng cho thuê giảm 53-70% vì đã có xu hướng bão hoà. Trong khi đó,
ngoài 3 ngành viễn thông, vận tải, thăm dò và khai thác dầu khí không có
dự án nào, thì các lónh vực sản xuất khác tăng vượt bậc: “đầu tư vào ngành
công nghiệp tăng 90%; công nghiệp nhẹ tăng 81%; xây dựng tăng 154%;
nông-lâm-ngư tăng 40%. Tính bình quân mỗi dự án có số vốn nhiều hơn,
đạt 17,5 triệu USD (năm 1995 là 16,3 triệu USD)” [15].
Năm 1996, có nhiều dự án có quy mô tầm cỡ. Chẳng hạn như dự án
xây dựng đô thò Nam Thăng Long (Hà Nội) với số vốn 2,1 tỷ USD; dự án
xây dựng khu đô thò An Đònh (TPHCM) có số vốn đăng ký 940 triệu USD…
[14]. Đây là những dự án dài hạn, thực hiện phức tạp, qua nhiều giai đoạn
và khi hoàn thành sẽ đem lại một diện mạo mới cho các thành phố lớn.
Đến cuối năm 2005, cả nước đã thu hút được khoảng 50 tỷ USD vốn
đầu tư từ 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vốn ĐTNN đã đóng
góp trên 15% tổng sản phẩm quốc nội; 37,5% giá trò công nghiệp và 54%
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Riêng năm 2005, Việt Nam đã thu hút
được hơn 6 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó vốn thực hiện là khoảng 3,3 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2004, chiếm 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội;
nộp ngân sách từ khu vực ĐTNN là 1,29 tỷ USD, tăng 40% so với năm 2004
và chiếm 125 tổng thu ngân sách [4].
Về đối tác nước ngoài, ngoài các nước châu Á, tốc độ đầu tư của các
nước châu Âu, Mỹ gia tăng nhanh, nhiều công ty liên quốc gia đã được cấp
giấy phép hoạt động. Sự có mặt của các cường quốc kinh tế, các công ty
xuyên quốc gia sẽ góp phần thúc đẩy FDI tại Việt Nam đi vào chiều sâu,
nước ta có nhiều cơ hội để tiếp nhận các công nghệ tiên tiến, hiện đại, kinh
nghiệm quản lý và điều hành kinh tế vó mô. Tính đa dạng của các đối tác
còn 1 tháng hoặc 2 tuần theo cơ chế “một cửa, một con dấu”. Khâu cấp
giấy phép xây dựng, giải toả mặt bằng, đền bù thì vẫn hết sức rắc rối,
chậm, lắm nhiêu khê và thiếu sự chỉ đạo thống nhất (nhiều dự án mất khá
nhiều thời gian), trong khi đó nguồn nhân lực đông đảo Việt Nam đang mất
dần lợi thế. Số công nhân lành nghề, thạo việc thiếu hụt trầm trọng, hiện
tại rất khó tuyển dụng được số lượng lớn công nhân có chuyên môn cao,
giỏi ngoại ngữ, có năng lực quản lý, văn hoá công nghiệp… Chương 2:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO CÁC NGÀNH VÀ LĨNH VỰC KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Những nhân tố tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài, thách thức và
cơ hội
2.1.1. Những thuận lợi
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2029 km², dân số 5.554.800
triệu người (2003), là khu vực đông dân nhất cả nước, có vò trí đòa lý thuận
lợi. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn hoá, khoa học kỹ thuật lớn,
trung tâm công nghiệp - thương mại dòch vụ năng động nhất cả nước, dù chỉ
chiếm 0,6% dân số và 6,6% dân số nhưng đóng góp 19,3% GDP cả nước;
31,6% tổng thu ngân sách quốc gia. Theo báo cáo Chính trò tại Đại hội với
nội dung chủ yếu về kết quả 5 năm thực hiện Nghò quyết Đại hội Đảng bộ
TP lần VII (2001-2005) và nhòêm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ TP
trong 5 năm 2006-2010. “Đổi mới toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa, phát huy
dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, động viên mọi nguồn
lực, nắm bắt thời cơ, vượt qua thử thách, chủ động hội nhập kinh tế khu vực
khủng hoảng kinh tế - tài chính các nước trong khu vực cũng đang trên đà
phục hồi (tăng 7% năm 2002; 9,4% năm 2003; 10,3% năm 2004) [10], thò
trường nội đòa phát triển ổn đònh, hàng hoá phong phú, đa dạng, nhiều sản
phẩm của TP đã chiếm lónh được thò trường, dành được thò phần vững chắc,
cơ sở vật chất hạ tầng ngành thương mại đã được quan tâm đầu tư xây
dựng, bước đầu phát huy tác dụng, góp phần tăng cường vai trò, vò trí trung
tâm của TP trong điều phối, cung ứng hàng hoá trong khu vực và ra nước
ngoài qua nhiều kênh phân phối đa dạng và ngày càng lớn mạnh.
Các loại dòch vụ khác như du lòch, giáo dục, y tế, khoa học - công
nghệ cũng tăng trưởng cao với tốc độ bình quân hơn 10%/ năm trong 5 năm
qua. Đây là những ngành mà TP thật sự có thế mạnh để phát triển phù hợp
với đònh hướng chuyển dòch cơ cấu kinh tế sang các ngành dòch vụ cao cấp.
Về cơ cấu nguồn vốn đầu tư, tỉ lệ đầu tư của khu vực kinh tế dân
doanh và kinh tế có vốn ĐTNN của cả nước thấp hơn của TP nhiều. Đối với
cả nước, giai đoạn 2001-2005 đầu tư khu vực dân doanh chiếm 26% (TP là
41%), ĐTNN là 16,4% (TP là 22%) [10]. Điều này cho thấy đầu tư trên đòa
bàn TP ít phụ thuộc hơn vào ngân sách và DN Nhà nước so với cả nước, thể
hiện sự năng động của TP trong việc thu hút các nguồn lực xã hội tham gia
đầu tư phát triển.
Thu ngân sách Nhà nước trên đòa bàn TP tăng bình quân
16,8%/năm giai đoạn 2001-2005, đóng góp 30,6% nguồn thu ngân sách Nhà
nước. Tốc độ này cao hơn mức tăng trưởng kinh tế và lạm phát cộng lại,
cho thấy mức độ huy động ngân sách trên tổng sản phẩm nội đòa (GDP)
ngày càng tăng.