Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam - Pdf 20

LỜI NÓI ĐẦU
Những nước đang phát triển như Việt Nam thường gặp phải cái vòng luẩn quẩn đó là :
năng suất lao động thấp dẫn đến thu nhập thấp, thu nhập thấp thì tích luỹ thấp, tích luỹ thấp đầu
tư mới thấp, sản xuất không có hiệu quả và năng suất lao động lại thấp. Vì vậy, để phát triển bền
vững phải phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó. Để làm điều này, một mặt cần giải phóng sức sản xuất,
khai thác tốt tiềm lực nội sinh của nền kinh tế quốc dân, đồng thời khai thác có hiệu quả những
nguồn lực từ bên ngoài để phát triển lực lượng sản xuất. Thực tế chứng minh rằng nội lực và
ngoại lực luôn có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau trong quá trình phát triển. Nghĩa là
nếu khai thác nội lực có hiệu quả thì sẽ tạo điều kiện thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn lực từ bên
ngoài và ngược lại.
Trong thời đại ngày nay, khi quá trình toàn cầu hoá diễn ra ở khắp nơi, trong mọi lĩnh vực,
việc thu hút ngoại lực của các nước đang phát triển hướng vào thu hút đầu tư, công nghệ tiên
tiến thích hợp và phương thức quản lý hiện đài ngày càng gia tăng. Nhưng để huy động nội lực
và khai thác ngoại lực có hiệu quả cao, cần những điều kiện nhất định. Sự ra đời và phát triển
của các khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất ( KCX) đã chứng minh rằng đây là những địa
bàn có lợi thế trong việc tạo ra điều kiện , thể chế và môi trường thuận lợi cho quá trình thu hút,
sử dụng vốn, công nghệ, trình độ cao từ bên ngoài. Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát
triển KCN, KCX Việt Nam vẫn còn những tồn tại cản trở KCN, KCX phát huy hết vai trò và tác
dụng của nó. Chính vì vậy em chọn đề tài : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển khu
công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam” nhằm xem xét tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tác
động đến sự hình thành và phát triển của KCN, KCX đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX.
Em xin chân thành Th.S Nguyễn Ái Liên và các thầy cô trong bộ môn Kinh tế đầu tư đã
giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành Đề án môn học này.
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu........................................................................................................................................1
Phần I: Những lí luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu công nghiệp,
khu chế xuất.....................................................................................................................................3
I. Lí luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài...........................................................................................3
1. Khái niệm....................................................................................................................................3

Tài liệu tham khảo.........................................................................................................................37
2
`PHẦN I
LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI,
KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT
I. Lí luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu
vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Sự ra đời và phát
triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hoá và phân công
lao động quốc tế.
Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu
tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành các hoạt
động đầu tư”.
- Theo hiệp hội Luật quốc tế (năm 1966) : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn
từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhưng không phải để mua hàng hoá tiêu
dùng của nước này mà dùng để chi phí cho các hoạt động có tính chất kinh tế xã hội”.
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản
xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực
tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ,
kinh nghiệm quản lý …nhằm tối đa hoá lợi ích của mình.
Nguyên nhân cơ bản của sự di chuyển vốn đầu tư dưới hình thức này là do có sự chênh
lệch về tỷ suất lợi nhuận xuất phát từ lợi thế so sánh khác nhau giữa các quốc gia . Điều kiện
thuận lợi cho di chuyển vốn đầu tư là xu thế tự do hoá thương mại, đầu tư và tài chính ngày càng
tăng trên thế giới hiện nay.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài biểu hiện sự gặp nhau giữa “cung và cầu”, đó là giữa lợi ích
của nhà đầu tư và nhu cầu của nhà nước tiếp nhận đầu tư ở trong nước không còn mang lại nhiều
lợi nhuận, các nhà đầu có sự chuyển hướng đưa đầu tư ra nước ngoài, nơi các yếu tố chi phí của
sản xuất rẻ hơn, cho phép thu lợi nhuận cao hơn đạt được những mục tiêu quan trọng về mở rộng

nước sở tại như đầu tư gián tiếp. Kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu
vực năm 1998 đã cho thấy, những nước chịu tác động nặng nề của khủng hoảng là những nước
nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (khi lâm sự thì xuất hiện phản xạ có tính “bầy đàn” :
một số nhà đầu tư lớn rút vốn kéo theo sự rút vốn ồ ạt của những nhà đầu tư khác bằng cách “
bán tống bán tháo” cổ phiếu mình đang nắm giữ, làm sụt giá chứng khoán, làm đổ vỡ thị trường
chứng khoán); ngược lại những nước thu hút nhiều FDI (hạn chế, kiểm soát chặt chẽ các dòng
vốn đầu tư gián tiếp) thường chịu tác động của khủng hoảng ít hơn, nhẹ hơn. Kinh nghiệm của
một số nước lâm vào khủng hoảng tài chính - tiền tệ như Mehico (năm 1984) và Acgentina
4
(năm 2001) cũng đã cho thấy nhận định tương tự. Chính vì vậy, sau cuộc khủng hoảng tài chính
- tiền tệ, các nước đang phát triển được khuyến cáo nên thay đổi chính sách theo hướng thận
trọng hơn với đầu tư gián tiếp, chú trọng hơn đến việc thu hút, sử dụng FDI. Đối với FDI nhà
đầu tư thường tính chuyện làm ăn lâu dài, không mang thích đầu cơ như đầu tư gián tiếp. Trong
trường hợp không muốn làm ăn tiếp, nhà đầu tư cũng không thể rút vốn dễ dàng, nhanh chóng
như đầu tư gián tiếp, vì vốn đầu tư của họ nằm trực tiếp trong nhà xưởng, thiết bị trên đất nước
tiếp nhận đầu tư, phải chuyển đổi thành tiền bằng cách bán lại hoặc thanh lý nhà máy mới thu
hồi vốn và chuyển về nước được.
Thứ ba, FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, phương
thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thị trường mới … cho nước
tiếp nhận đầu tư. Đây là điểm hấp đẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang phát
triển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trong khi phần lớn những kỹ thuật mới được phát
minh trên thế giới vẫn xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, do đó để rút ngắn
khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, các nước này rất cần nhanh chóng tiếp
cận với kỹ thuật mới. Tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng của mình
để nâng cao trình độ công nghiệp của mình, nhưng thông qua FDI là cách tiếp nhận nhanh, trực
tiếp và thuận lợi. Có nhiều phương thức chuyển giao công nghệ khác nhau như: nhập khẩu thiết
bị, kỹ thuật nước ngoài, mua hoặc hợp đồng sử dụng bản quyền, sáng chế, tự thiết kế và sản xuất
theo bản thiết kế tổng thể do bên nước ngoài cung cấp…Thực tế cho thấy, FDI là một kênh quan
trọng đối với việc chuyển giao công nghệ cho nước đang phát triển. Điều này có ý nghĩa rất lớn
đối với các nước vừa thiếu vốn, vừa có trình độ phát triển thấp, công nghệ lạc hậu, trình độ quản

tình trạng kém phát triển, trở thành nước công nghiệp tức là bị giới hạn trong một thời kì nhất
định. FDI không phải chịu giới hạn này. Nó có thể đựơc sử dụng lâu dài trong suốt quá trình phát
triển của mỗi nền kinh tế, tuỳ theo chính sách của nước tiếp nhận .
Với những ưu thế quan trọng như trên, ngày càng có nhiều nước coi trọng FDI hoặc ưu
tiên, khuyến khích tiếp nhận FDI hơn các hình thức đầu tư nước ngoài khác trong chiến lược
phát triển của mình. Trong thực tế, một số nước đã áp dụng mô hình phát triển sau đây: giai đoạn
đầu sử dụng ODA của các nước lớn để tạo “cú hích” hoặc vay nợ để có vốn đầu tư cơ sở vật
chất kỹ thuật ban đầu; sau đó chuyển sang thu hút FDI để đổi mới công nghệ, nâng cao năng
suất, sức cạnh tranh và khi đã có vị thế nhất định, có công nghệ tiên tiến thì các doanh nghiệp
trong nước vươn ra đầu tư ở nước ngoài, thu lợi nhuận chuyển về nước.
3. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh: “là văn bản kí kết giữa hai hoặc nhiều bên để tiến hành đầu
tư kinh doanh tại Việt Nam, trong đó qui định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho
mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới” (Nghị định 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 sửa
đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2000/ NĐ-CP ngày 31/7/2000).
+ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: “là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà đầu
tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách
6
nhiệm về kết quả kinh doanh” (Nghị định 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 sửa đổi bổ sung một
số điều của Nghị định số 24/2000/ NĐ-CP ngày 31/7/2000).
+ Doanh nghiệp liên doanh: “là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp
đồng hợp tác liên doanh kí kết giữa hai hay nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt
Nam.Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp liên doanh có thể là doanh nghiệp được thành lập giữa
doanh nghiệp liên doanh đã thành lập ở Việt Nam”( Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày
31/7/2000).
+ BOT: “là văn bản kí kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu
tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định;
hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước
Việt Nam” (Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi ngày 9/6/2000).

công nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao
công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu,
ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng được nước tiếp nhận đầu tư
mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
- Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm. Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt
động sản xuất, các vấn đề xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư. Việc cải thiện chất lượng cuộc
sống thông qua đầu tư vào các lĩnh vực: sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và
kĩ năng quản lý sẽ tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động và các
yếu tố sản xuất khác, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài ra, tạo việc làm không chỉ tăng thu
nhập cho người lao động mà còn góp phần tích cực giải quyết các vấn đề xã hội. FDI ảnh hưởng
trực tiếp đến cơ hội tạo ra công ăn việc làm trong những tổ chức khác khi nhà đầu tư nước ngoài
mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước, hoặc thuê họ thông qua các hợp đồng gia
công chế biến. Thực tiễn ở một số nước họ thấy FDI đã đóng góp tích cực tạo ra việc làm trong
các ngành sử dụng nhiều lao động như ngành may mặc, điện tử, chế biến. Mặt khác thông qua
khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp dạy nghề, FDI đã đóng góp quan trọng với phát triển
giáo dục nước tiếp nhận đầu tư trong các lĩnh vực giáo dục đại cương, dạy nghề, nâng cao năng
lực quản lý.
- Thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới. Xuất nhập khẩu có mối quan hệ
nhân quả với tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ này được thể hiện ở các khía cạnh : Xuất nhập
khẩu cho phép khai thác lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn
hoá sản xuất, nhập khẩu bổ sung các hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng.
Xuất nhập khẩu còn tạo ra các tác động ngoại ứng như thúc đẩy trao đổi thông tin, dịch vụ, tăng
cường kiến thức marketing cho các doanh nghiệp nội địa và lôi kéo họ vào mạng lưới phân phối
toàn cầu. Tất cả các yếu tố này sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng. Thông qua FDI, các nước đang
phát triển có thể tiếp cận với thị trường thế giới bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các
công ty xuyên quốc gia thực hiện, mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách
hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ.
8
- Liên kết các ngành công nghiệp. Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu
qua tỷ trọng giá trị hàng hoá (tư liệu sản xuất, nguyên liệu đầu vào), dịch vụ trao đổi trực tiếp từ

Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO): KCX là khu vực tương đối
nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành
9
công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều
kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà.
Trong đó, đặc biệt là KCX cho nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế.
Theo quan điểm của hiệp hội KCX thế giới (WEPZA) : KCX không chỉ bao gồm khu vực
công nghiệp chuyên sản xuất hàng hoá xuất khẩu mà còn bao gồm cả những khu vực được
Chính phủ cho phép như khu cảng tự do, khu tự do thuế quan, khu mậu dịch tự do…
Theo Qui chế KCN và KCX, Khu công nghệ cao ban hành kèm nghị định 36 - CP ngày
24/4/1997 của Chính phủ: Khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động
xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống được Chính phủ hoặc Thủ
tướng chính phủ quyết định thành lập.
2. Đặc điểm của KCN
Cho đến nay KCN đã được phát triển mạnh mẽ ở các quốc gia, đặc biệt ở các nước đang
phát triển. Mặc dù, có sự khác nhau về qui mô, đặc điểm và phương thức xây dựng cơ sở hạ
tầng, nhưng nói chung các KCN có các đặc điểm sau đây
2.1. Về tính chất hoạt động
- Tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ
mà không có dân cư.
- Trong KCN bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau:
+ Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế.
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
(Điều 6 – Quy chế KCN,KCX, khu công nghệ cao ban hành kèm nghị định 36-CP ngày
24/441997 của Chính phủ.
- Các lĩnh vực được phép đầu tư trong KCN
+Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng.
+ Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu thụ tại thị trường

động.
- Các doanh nghiệp KCX được hưởng chế độ hải quan ưu đãi trong thủ tục giấy phép xuất nhập
khẩu. Các doanh nhgiệp trong KCX được tự do chuyển lợi nhuận về nước, được toàn quyền
quyết định nhân sự từ kiểm soát, quản lý đến điều hành sản xuất trong doanh nghiệp.
3. Điều kiện thành lập KCN
Hiện nay hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có nhu cầu hình thành và
phát triển KCN với các qui mô và hình thức khác nhau. Để các KCN thực sự hoạt động có hiệu
quả, tránh dàn trải, lãng phí, Bộ kế hoạch và đầu tư đã đưa ra các điều kiện để thành lập
KCN,KCX.
3.1. Điều kiện quan trọng nhất khi xem xét thành lập các KCN là xác định nhu cầu thành lập
KCN và phải có kế hoạch vận động các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào KCN
11
Thực tế có nhiều KCN đã được thành lập với cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại
nhưng gặp khó khăn trong thu hút vốn đầu tư cho nên không đạt được mục tiêu, hiệu quả.
Nguyên nhân là do trong quá trình xây dựng không xác định đúng nhu cầu hình thành KCN và
không có kế hoạch thu hút vốn đầu tư vào KCN. Do vậy, khi xem xét thành lập KCN phải cân
nhắc kĩ nhu cầu và có biện pháp kêu gọi vốn trong nước cũng như nước ngoài.
3.2. Sự phù hợp của KCN đó với qui hoạch phát triển hệ thống KCN trong phạm vi cả nước, kế
hoạch phát triển ngành kinh tế kĩ thuật cũng như qui hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.
Xây dựng KCN phù hợp với qui hoạch KCN giúp cho sự phát triển được cân đối, hài hoà
giữa các vùng, dựa trên lợi thế từng vùng.
Xem xét xây dựng KCN cần xác định mặt hàng, sản phẩm của KCN có phù hợp định hướng
phát triển ngành kinh tế kĩ thuật hay không?
3.3. Các dự án thành lập KCN còn thể hiện đầy đủ yêu cầu và có giải pháp khả thi trong việc
xây dựng kết cấu hạ tầng, trước hết là hạ tầng kĩ thuật như giao thông, cấp điện, cấp nước,
thông tin liên lạc, xử lí chất thải.
Xây dựng KCN cần xem xét khả năng cung ứng từ bên ngoài, nhu cầu đầu tư, khả năng thực
hiện. Việc hình thành KCN cũng thu hút một lượng lớn lao động trong các KCN và lao động bên
ngoài KCN cho nên cần phải có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, có kế hoạch cải thiện và nâng

4.5. Tạo ra mối liên kết giữa các ngành nghề
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN đòi hỏi nguồn cung cấp nguyên
nhiên liệu và dịch vụ đầu vào thường xuyên. Chính điều này tạo ra mối liên hệ giữa các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh khác.
4.6. Quản lý chất thải và giảm ô nhiễm môi trường
Việc hình thành và phát triển KCN, KCX góp phần tích cực vào việc kiểm soát chất thải
công nghiệp và bảo vệ môi trường. Các KCN, KCX thường được qui hoạch chi tiết để tập trung
các nhà máy,xí nghiệp nằm rải rác, do vậy, sẽ quản lý được tập trung nguồn rác thải công
nghiệp, giảm mức độ ô nhiễm khu dân cư.
5. Phân biệt KCN và KCX
KCX là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất để xuất khẩu, còn KCN là nơi tập trung các
doanh nghiệp công nghiệp. KCN có thể bao gồm KCX. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu trong KCN sẽ được đặc biệt ưu đãi như sản xuất ở trong KCX độc lập.
KCN không chỉ cho phép các công ty có vốn đầu tư nước ngoài mà còn cho phép các công
ty 100% vốn nước ngoài hoạt động trong khi đó KCX chỉ cho phép các công ty có vốn đầu tư
nước ngoài hoạt động.
KCN vừa gắn với mục tiêu xuất khẩu vừa thực hiện nâng cao khả năng sản xuất của thị
trường nội địa, mang những chức năng hiệu quả hơn KCX.
13
PHẦN II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀO CÁC KCN, KCX VIỆT NAM
I. Tính tất yếu khách quan hình thành KCN, KCX
Một trong những nhân tố quyết định sự vươn lên mau chóng, vượt bậc của những nước có
xuất phát điểm thấp đó là chiến lược công nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu thông qua biện pháp thu
hút FDI và chuyển giao công nghệ. Hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài và chuyển giao
công nghệ có hiệu quả nhất là thiết lập các KCN, KCX, đặc khu kinh tế…
Đối với những nền kinh tế có trình độ phát triển thấp như ở nước ta hiện nay, việc tạo ra
những sản phẩm có sức cạnh tranh cao là điều không đơn giản. Vì vậy, chúng ta cần phải có
những điều kiện và nhân tố cần thiết trước hết là vốn, kĩ thuật, công nghệ tiên tiến, đội ngũ cán
bộ quản lý và công nhân lành nghề có trình độ cao để sản xuất hàng hoá với giá cả và chất lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status