đầu t trực tiếp nớc ngoài với sự nghiệp công
nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) ở Việt Nam
1. Quá trình hình thành và hoàn thiện chính sách đầu
t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam.
Từ năm 1977 Việt Nam đã ban hành Điều lệ về đầu t nớc ngoài ở nớc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam : Đây là văn bản đầu tiên của Nhà nớc ta
về đầu t trực tiếp nớc ngoài. Văn bản này đánh dấu bớc chuyển mới trong quan
điểm chính của Việt Nam đối với t bản nớc ngoài: nền kinh tế Việt Nam chấp
nhận thêm một loại hình mới- Các doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Với mục đích phục vụ tốt hơn công cuộc xây dựng đất nớc Việt Nam. Tuy nhiên,
công việc triển khai thực hiện điều lệ này tiến hành cha đợc bao lâu thì đất nớc lại
phải đơng đầu với cuộc chiến tranh biên giới nên chủ trơng này đã không có điều
kiện để thực hiện.
Sau 10 năm phải dừng lại, trong điều kiện đất nớc đang thực hiện công
cuộc đổi mới toàn diện, tháng 12-1987 Quốc hội nớc ta thông qua Luật Đầu t n-
ớc ngoài tại Việt Nam. Đây là thời kỳ mà đầu t nớc ngoài đợc coi là biện pháp
quan trọng để mở rộng hợp tác kinh tế với nớc ngoài nhằm phát triển nền kinh tế
quốc dân. Đồng thời cũng là biện pháp đợc sử dụng nhằm khai thác có hiệu quả
tài nguyên lao động và các tài nguyên khác để đẩy mạnh xuất khẩu.
Có thể nói rằng, Luật Đầu t nớc ngoài (1987) đã tiến một bớc dài về mọi
phơng diện so với Điều lệ (1977). Nhận thức của chúng ta về vai trò, vị trí, tác
dụng của đầu t nớc ngoài đối với nền kinh tế quốc dân rõ ràng, thực tế hơn. Tính
mục đích của đầu t nớc ngoài trong bộ luật thể hiện rõ hơn, cụ thể hơn. Lợi ích
kinh tế của đất nớc đặt ra hài hòa hơn trong mối quan hệ với chủ quyền kinh tế.
Luật đầu t này lần đầu tiên mang sắc thái của một luật khuyến khích đầu t. Mức
độ hấp dẫn của nó đã thực sự gây ngạc nhiên đối với nhiều quốc gia trên thế giới.
Mặc dù vậy luật này cũng không tránh khỏi một số khiếm khuyết, thiếu
đồng bộ. Đối với các đối tác trong nớc, Luật đầu t (1987) dờng nh mới chỉ áp
dụng cho các đối tác là tổ chức kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể còn t nhân chỉ có
nớc ngoài đầu t vào Việt Nam. Tuy nhiên, luật sửa đổi lần này (1996 ) về cơ bản
theo hớng giảm bớt một số u đãi. Những biến đổi này, cùng với những quy định
chặt chẽ hơn của một số luật kinh tế khác, đã làm giảm sút động lực kích thích
các thành phần kinh tế tham gia đầu t, hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng nh
gây nên một số phản ứng tiêu cực đối với các nhà đầu t nớc ngoài.
Năm 1996, đợc xem nh một điểm nhấn trong sự tác động của chính sách
đối với đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam. Đây là một trong những căn
nguyên của sự giảm sút đầu t nớc ngoài vào Việt Nam trong các năm sau đó.
Để khôi phục lại tốc độ tăng trởng của đầu t trực tiếp nớc ngoài nh thời kỳ
1991-1995, nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH,HĐH cũng nh của sự phát
triển một nền kinh tế thị trờng, mở cửa và hội nhập với tốc độ nhanh và bền vững,
đòi hỏi Việt Nam phải đổi mới hơn na cơ chế, chính sách cho phù hợp với điều
kiện hiện nay. Trớc sự cần thiết, bức xúc đó ngày 9/6/2000, Quốc hội nớc Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam. Các nội dung sửa đổi, bổ sung của luật
này đã thực sự đa lại cho hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam một sự
ổn định và thông thoáng hơn so với nhiều quy định trớc đây.
Nh vậy, đến nay chúng ta đã có một hệ thống luật và các văn bản dới luật
về đầu t nớc ngoài tuy cha phải hoàn chỉnh nhng đã đầy đủ hơn trớc, có tác dụng
khuyến khích hơn đối với các nhà đầu t nớc ngoài cũng nh các đối tác trong nớc
trong việc tham gia đầu t. Những kết quả đạt đợc trong thu hút vốn đầu t trực tiếp
nớc ngoài thời gian qua đã thực sự trở thành một trong những điểm nổi bật nhất
trong bức tranh tổng thể các thành tựu thời kỳ đổi mới và mở cửa nền kinh tế. Nó
cũng chính là cơ sở để chứng minh chọ đúng đắn của quá trình đổi mới các chính
sách kinh tế trong đó có chính sách đối với đầu t nớc ngoài.
2. Thực trạng thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài tại
Việt Nam
2.1. Hoạt động thu hút FDI từ 1988 đến nay: những nét khái quát
Từ năm 1988-1990: Đây là thời kỳ đầu, FDI cha có tác động rõ rệt đến tình
hình kinh tế xã hội. Cả 3 năm cộng lại có 1,5 tỷ USD vốn đăng ký, số vốn thực
Từ năm 1997 đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam bắt đầu suy giảm,
nhất là đến các năm 1998, 1999. Sự suy giảm này theo chúng tôi, chủ yếu do một
số nguyên nhân đã cản trở các nhà đầu t nớc ngoài tìm kiếm cơ hội đầu t tại Việt
Nam. Khủng hoảng kinh tế trong khu vực và sự cạnh tranh quyết liệt trong thu hút
vốn FDI trên thế giơí và trong khu vực diễn ra ngày càng gay gắt đã làm suy giảm
FDI vào Việt Nam.
Hiện nay, FDI từ các nớc châu á vào Việt Nam chiếm 67% vốn đầu t, trong
đó các nớc ASEAN chiếm khoảng 23%; Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng
Kông chiếm khoảng 40,5%. Do khủng hoảng kinh tế nên FDI của các nền kinh tế
trong khu vực suy giảm rõ rệt vì các công ty mẹ bị phá sản hoặc gặp khó khăn, do
chính sách của các Chính phủ hạn chế đầu t nớc ngoài và cũng do khó khăn trong
huy động vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế và vay từ ngân hàng.
Nhiều doanh nghiệp đầu t nớc ngoài đang hoạt động cũng gặp khó khăn,
phải sản xuất cầm chừng, thậm chí phải dãn tiến độ hoặc hoãn triển khai do khó
khăn của công ty mẹ và do thị trờng tiêu thụ sản phẩm trong nớc cũng nh thị trờng
xuất khẩu trong khu vực bị thu hẹp lại. Trong khi đó khả năng cạnh tranh của
hàng hóa Việt Nam ở các thị trờng nớc ngoài bị giảm do sự giảm giá của các đồng
tiền trong khu vực.
Cạnh tranh trong thu hút FDI trên thế giới và trong khu vực diễn ra ngày
càng gay gắt. Hiện nay, 3/4 vốn FDI trên thế giới là đầu t lẫn nhau giữa các nớc
phát triển do sự tăng cờng liên kết giữa các công ty đa quốc gia của Mỹ Nhật,
Tây âu; 1/4 số vốn FDI còn lại bị thu hút vào các thị trờng đầu t lớn nh Trung
Quốc, ấn Độ, Brazin, Mexico