Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển lĩnh vực dịch vụ trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của WTO - Pdf 12

trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành quản trị kinh doanh quốc tế

chuyên đề thực tập tốt
nghiệp
Đề tài
THU HúT ĐầU TƯ TRựC TIếP NƯớC NGOàI VàO PHáT
TRIểN LĩNH VựC DịCH Vụ TRONG BốI CảNH
VIệT NAM Là THàNH VIÊN CHíNH THứC CủA WTO
Giáo viên hớng dẫn : pgs.ts. nguyễn THị HƯờNG
Sinh viên thực hiện : nguyễn thị quỳnh th
Lớp : KDQT A
Khóa : 46
Hệ : Chính quy
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
Hµ Néi - 2008
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính tất yếu của đề tài
Thu hút FDI là một tất yếu khách quan, bắt nguồn từ sự phát triển của
thương mại quốc tế, liên kết kinh tế quốc tế. Trong thời đại ngày nay, không một
quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, đặc biệt là các nước chậm và đang phát triển lại
không cần FDI và coi đó là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Ngay
các cường quốc trên thế giới như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU….cũng rất cần FDI.
Dòng vốn FDI chủ yếu chảy vào các nước phát triển nhất. Khả năng vốn đầu tư
của thế giới hiện nay không lớn, nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của tất cả các
quốc gia đều rất lớn và vượt xa các nguồn cung cấp. Do vậy, đã diễn ra một
cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước để tìm kiếm vốn. Quốc gia nào có môi
trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng, sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả
hơn sẽ giành được những ưu thế lớn hơn trong cuộc cạnh tranh này. Thu hút FDI
mang tính quy luật chung đối với tất cả các nước. Quy luật này càng bức bách

Vì vậy, sau khi thực hiện cam kết về GATS như trên, bức tranh giáo dục đại học
Việt Nam sẽ có biến động mạnh mẽ với sự ra đời của khá nhiều cơ sở giáo dục
nước ngoài, chủ yếu là các cơ sở giáo dục liên kết.
Với những lý do nêu trên, đề tài “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
phát triển lĩnh vực dịch vụ trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của
WTO” được chọn làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
 Mục đích:
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào phát triển lĩnh vực dịch
vụ nói chung và dịch vụ giáo dục nói riêng trong bối cảnh Việt Nam là thành
viên chính thức của WTO
 Nhiệm vụ:
• Hệ thống hoá cơ sở lý luận về thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo
dục trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của WTO
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
• Phân tích thực trạng thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo dục tại Việt
Nam từ khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO, trên cơ sở đó
tìm ra nguyên nhân của những tồn tại trong việc thu hút FDI vào phát
triển dịch vụ giáo dục Việt Nam.
• Kiến nghị các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu
hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo dục trong bối cảnh Việt Nam là
thành viên chính thức của WTO
3.Đối tượng, phạm vi và giác độ nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là thu hút FDI vào phát triển các dịch vụ ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu việc phát triển dịch
vụ giáo dục ở Việt Nam.
Giác độ nghiên cứu: vĩ mô.
4.Kết cấu đề tài

được từ doanh nghiệp FDI. FDI có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư
và các khoản vay trong nội bộ công ty.
Theo Luật Đầu tư của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam số 59/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005 và bắt đầu có hiệu lực từ
ngày 1/7/2006 thì “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào
Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động
đầu tư”. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư
vào Việt Nam.
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau:
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
“FDI là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài tự
mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng
nhất định, trực tiếp quản lý điều hành để thu lợi nhuận trong kinh doanh. Hoạt
động FDI được thực hiện thông qua dự án gọi là dự án FDI”.
Dự án FDI là những dự án đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân ở
nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước tiếp
nhận đầu tư bỏ vốn đầu tư, trực tiếp quản lý điều hành để thu lợi nhuận trong
kinh doanh.
1.1.1.2.Đặc điểm của dự án FDI
Các dự án FDI trước hết cũng là dự án đầu tư nên cũng có đầy đủ các đặc
trưng cơ bản của một dự án đầu tư nói chung, đó là:
• Đầu tư là một hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường và trước
hết là quyết định tài chính.
• Đầu tư là hoạt động có tính chất lâu dài (chiến lược).
• Đầu tư là hoạt động luôn cần có sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi
ích lâu dài.
• Đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.
Ngoài các đặc trưng chung nói trên, các dự án FDI còn có các đặc trưng

cách hữu hiệu nhất và hạn chế ở mức cao nhất những rủi ro có thể xảy ra trong
quá trình hợp tác đầu tư với các quốc gia khác.
1.1.1.3.Các hình thức của FDI
Để thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài, các nhà đầu tư có
thể xây dựng một cơ sở sản xuất hoàn toàn mới hay mua lại các cơ sở sản xuất
đang hoạt động tại nước sở tại. Trong thực tiễn, FDI được thực hiện theo nhiều
hình thức khác nhau, trong đó có những hình thức áp dụng phổ biến, bao gồm:
• Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
• Doanh nghiệp liên doanh
• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
• BT, BOT, BTO
Tùy vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, các hình thức đầu tư trên
được áp dụng ở mức độ khác nhau.
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
1.1.2.Những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút FDI
1.1.2.1.Khái niệm thu hút FDI
Thu hút FDI có thể coi là quá trình xây dựng môi trường đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhằm tạo điều kiện không những cho vốn đầu tư nước ngoài mà cả
vốn đầu tư trong nước cũng được đưa vào thực hiện một cách thuận lợi với tư
cách là phần vốn góp của nước sở tại trong liên doanh. Về bản chất, thu hút FDI
là hình thức nhập khẩu tư bản (đối với nước tiếp nhận đầu tư) và xuất khẩu tư
bản (đối với nhà đầu tư ra nước ngoài), một hình thức cao hơn xuất nhập khẩu
hàng hóa. Cùng với hoạt động ngoại thương, thu hút FDI trên thế giới ngày càng
phát triển mạnh mẽ, hợp thành dòng chảy chính trong trào lưu có tính quy luật
liên kết hợp tác kinh tế thế giới.
1.1.2.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
1.1.2.2.1.Nhóm nhân tố kéo
Sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia là nhân tố đầu tiên mà các nhà

tranh giữa các quốc gia, khu vực về vốn FDI. Hiện nay đang diễn ra một cuộc
cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia để tìm kiếm nguồn vốn. Quốc gia nào có
môi trường đầu tư hấp dẫn hơn và có khả năng sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả
hơn thì sẽ có lợi thế hơn trong cuộc cạnh tranh này.
1.1.2.3.Nội dung thu hút FDI trên giác độ vĩ mô
1.1.2.3.1.Xác định mục tiêu thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo dục
Hợp tác giáo dục với các nước trong khu vực và thế giới là nhu cầu hướng
tới nền giáo dục hiện đại và hội nhập. Trong thời đại ngày nay, tri thức nhân loại
đã ở giai đoạn phát triển cao và lan tỏa nhanh trên toàn cầu. Giáo dục là cầu nối
truyền tải mọi tri thức và công nghệ tiên tiến giữa các quốc gia. Ngày nay, trên
thế giới đã có nhiều hình thức dịch vụ giáo dục đa quốc gia phát triển mang lại
lợi ích to lớn cho các nền kinh tế thế giới. Để thụ hưởng được tri thức nhân loại
nhanh chóng, chúng ta không thể bỏ rơi cơ hội hợp tác với các trường, các
chương trình quốc tế chất lượng cao để phát triển nền giáo dục nước nhà. Do
vậy, tăng cường lựa chọn hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới về giáo
dục một cách tối ưu, chất lượng và hiệu quả đang là đòi hỏi của dân tộc ta trong
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
tiến trình hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Để tăng cường và mở rộng hợp tác
quốc tế, chúng ta cần có chiến lược hiện đại hóa giáo dục trên cơ sở quy hoạch
lại mạng lưới trong hệ thống giáo dục quốc dân và đầu tư xây dựng các cơ sở vật
chất kỹ thuật cần thiết cho nền giáo dục hiện đại. Thu hút FDI vào phát triển
dịch vụ giáo dục là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược hiện
đại hóa giáo dục. Mục tiêu thu hút FDI là tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm
quản lý giáo dục của các nước phát triển nhằm phát triển dịch vụ giáo dục của
Việt Nam.
1.1.2.3.2.Xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư thuận lợi cho việc phát
triển dịch vụ giáo dục
Đây là vấn đề có tính then chốt trong việc tổ chức thu hút FDI. Môi

Hội nhập quốc tế về giáo dục phải làm cho giáo dục Việt Nam phát triển
nhanh về số lượng, vững chắc về chất lượng, đảm bảo yêu cầu phát triển của đất
nước, phục vụ mục tiêu chính trị cơ bản của Đảng và nhân dân ta là giữ vững
chủ quyền quốc gia, định hướng xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Bảo đảm mục tiêu phát triển con người toàn diện, có năng lực thích ứng
với tình hình mới. Đồng thời phải xem giáo dục là quyền và lợi ích của nhân
dân. Nhà nướcphải bảo đảm để mọi người dân có điều kiện học tập, có cơ hội
phát triển, quan tâm đến nhân dân lao động và người nghèo. Giáo dục là sự
nghiệp của toàn dân. Hội nhập về giáo dục cũng là công việc của nhân dân, vì
vậy, cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân
dân trong nước cũng như của kiều bào ở nước ngoài.
Phát huy tối đa nội lực, độc lập và chủ động trong quá trình hội nhập giáo
dục. Mở rộng hợp tác đi đôi với quản lý chặt chẽ. Tích cực chuẩn bị tốt các điều
kiện để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Cần
mạnh dạn phát huy các lợi thế, tận dụng các cơ hội, đồng thời phải quản lý tốt
quá trình hội nhập.
Cạnh tranh trong hội nhập quốc tế xét đến cùng là cạnh tranh về giáo dục
đào tạo. Đây là cuộc đấu tranh gay go phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng.
Nắm vững cam kết, tham khảo kinh nghiệm các nước, đồng thời căn cứ vào chủ
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xác định nội dung và lộ trình hội
nhập quốc tế, làm rõ cái gì phải tích cực khai thác, cái gì phải bảo vệ, cái gì cần
ngăn chặn.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò quản lý
của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân trong phát triển hội nhập giáo dục
quốc tế.
1.1.2.3.4.Xét duyệt và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các nhà đầu tư vào

Đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án
đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan quan nhà
nước quản lý đầu tư để cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Thủ tục đăng ký đầu tư: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ đăng ký đầu tư và hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, cơ quan nhà
nước quản lý đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký đầu tư, hồ sơ đăng
ký kinh doanh (đối với trường hợp thành lập tổ chức kinh tế gắn với dự án đầu
tư) và cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
1.1.2.3.5.Xúc tiến đầu tư nhằm thu hút FDI vào lĩnh vực dịch vụ giáo dục
Xúc tiến đầu tư thực chất là hoạt động đối ngoại nhằm quảng bá hình ảnh
môi trường đầu tư hấp dẫn trong nước ra các nước trên thế giới, qua đó kêu gọi
đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
1.1.2.3.6.Các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động thu hút FDI
Có nhiều chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động thu hút FDI. Sau đây là các
chỉ tiêu cơ bản:
Quy mô vốn FDI: Đây là tổng vốn FDI đã thu hút được trong một khoảng
thời gian nhất định. Chỉ tiêu này thường được xem xét trước tiên khi đánh giá
kết quả thu hút FDI. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
Số lượng các dự án FDI: Hoạt động FDI được thực hiện thông qua các dự
án FDI. Vì thế, về cơ bản, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Tuy nhiên, việc xem
xét chỉ tiêu này cần phải đi kèm với việc đánh giá quy mô, tính khả thi và hiệu
quả của dự án.
Số vốn bình quân của một dự án FDI: Chỉ tiêu này cho biết quy mô bình
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
quân của mỗi dự án. Mặc dù có được nhiều dự án FDI nhưng nếu số vốn bình
quân của một dự án nhỏ thì tổng lượng vốn FDI thu hút được sẽ không lớn và
hiệu quả kinh tế xã hội tạo ra sẽ không nhiều. Do vậy, bất kỳ quốc gia nào cũng

các nước. Tùy theo điều kiện phát triển giáo dục và luật pháp của nước ta mà có
thể đề xuất những lĩnh vực tham gia, giảm nhượng và mở cửa. Thương mại dịch
vụ khác với thương mại hàng hóa chủ yếu ở chỗ: dịch vụ là hàng hóa vô hình,
thương mại dịch vụ giữa các nước là trao đổi hàng hóa vô hình giữa các nước.
Giáo dục được xem là một loại hình dịch vụ cá nhân trong 12 nhóm ngành
dịch vụ thương mại nói chung. Vì vậy, giáo dục đương nhiên cũng sẽ hoạt động
theo 4 phương thức được quy định sẵn trong Hiệp định chung về thương mại
dịch vụ: cung ứng xuyên quốc gia, tiêu thụ ngoài lãnh thổ, hiện diện thương mại,
hiện diện thể nhân.
Cung ứng xuyên quốc gia: một thành viên có thể cung ứng dịch vụ từ
nước mình đến bất kỳ quốc gia nào trong WTO. Với giáo dục chủ yếu là cung
ứng dịch vụ đào tạo, chương trình, giáo trình và giáo dục từ xa.
Tiêu thụ ngoài lãnh thổ: quốc gia thành viên có thể cung cấp dịch vụ từ
nước mình cho người tiêu thụ ở bất kỳ quốc gia nào trong WTO. Với giáo dục
chủ yếu là dịch vụ du học.
Hiện diện thương mại: việc cung cấp dịch vụ của một quốc gia thành viên
có thể cung cấp dịch vụ tới các quốc gia khác thông qua hiện diện thương mại.
Với giáo dục thể hiện ở chỗ một tổ chức giáo dục của một quốc gia thành viên
có thể mở hoạt động giáo dục, đào tạo của mình tại các quốc gia thành viên
khác.
Hiện diện thể nhân: việc cung cấp dịch vụ của nước thành viên có thể
cung cấp dịch vụ thông qua sự lưu chuyển công dân tự do đến bất cứ nước thành
viên khác. Với giáo dục, chủ yếu sẽ được thực hiện thông qua di chuyển hoạt
động giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu giữa các trường, viện, học viện, các cơ sở
GD-ĐT, các công ty giáo dục khác trong tất cả các nước thành viên.
1.1.4.Đặc điểm của những cam kết về dịch vụ giáo dục của nước ta với WTO
Giáo dục phổ cập, giáo dục quốc phòng, an ninh, Đảng, đoàn thể, một số
tổ chức xã hội không nằm trong dịch vụ giáo dục, còn lại mở dịch vụ mua, bán
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
15

16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
1.2.1.Khái niệm dịch vụ
Trong nền kinh tế ngày nay, không chỉ đơn thuần có các sản phẩm vật
chất cụ thể (hàng hóa) mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Cả
hàng hóa và dịch vụ đều là sản phẩm của quá trình lao động, sản xuất của con
người nhằm phục vụ các nhu cầu của con người. Chúng cùng có giá trị và giá trị
sử dụng song hàng hóa là sản phẩm hữu hình còn dịch vụ là sản phẩm vô hình.
Khái niệm dịch vụ được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau do sự đa
dạng về chủng loại và tính vô hình của nó. Chính vì vậy, cho tới nay vẫn chưa
có một khái niệm thật sự thống nhất về dịch vụ.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thì thường định nghĩa dịch vụ
gắn liền với quá trình sản xuất. Các Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền
kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một
sự lưu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao
của con người thì dịch vụ phát triển”. Qua định nghĩa này, Các Mác đã chỉ ra
được nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ.
Cho đến những năm đầu của thế kỷ XX, nền kinh tế thị trường tại các
nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển rất mạnh khiến cho dịch vụ phát triển khá
nhanh và trở thành một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia, là đối tượng
nghiên cứu của nhiều ngành kinh tế - xã hội như: kinh tế học, xã hội học, khoa
học quản lý... Lúc này, khái niệm dịch vụ cũng được hiểu theo các nghĩa rộng và
hẹp khác nhau, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, phương pháp luận kinh
tế của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử cũng như phương pháp luận, đối
tượng và mục đích nghiên cứu của các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau.
Theo cách hiểu thứ nhất:
Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là một ngành kinh tế thứ ba ngoài công
nghiệp và nông nghiệp. Điều này có nghĩa là những lĩnh vực, hoạt động nằm
ngoài ngành công nghiệp và nông nghiệp đều được coi là dịch vụ.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho khách

dạng vật thể nên sẽ không xác lập được quyền sở hữu trên dịch vụ. Do đó, trong
quan hệ mua – bán dịch vụ sẽ không có việc chuyển giao quyền sở hữu dịch vụ
từ người bán sang người mua như quan hệ mua bán hàng hóa. Chủ thể của quan
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
hệ dịch vụ có một số khác biệt so với trong quan hệ hàng hóa. Đó là trong quan
hệ dịch vụ, chủ thể không quan tâm đến lợi ích sở hữu dịch vụ, không định đoạt
dịch vụ mà chỉ quan tâm tới quyền sử dụng và chất lượng dịch vụ.
Dịch vụ có tính không đồng nhất, khó tiêu chuẩn hóa: Các chủ thể tham
gia quan hệ mua bán thỏa thuận với nhau để thực hiện một công việc nào đó như
sửa chữa điện thoại, nhà cửa... Bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo
thỏa thuận và nhận tiền công. Thước đo để đánh giá chất lượng công việc phụ
thuộc vào mức độ “hài lòng” của bên yêu cầu dịch vụ và quá trình thực hiện
công việc của bên cung ứng dịch vụ. Các nhà cung cấp dịch vụ không thể tạo ra
được những dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau. Bên
cạnh đó, khách hàng lại đánh giá chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ,
mà trong những thời gian khác nhau, sự cảm nhận của khách hàng là khác nhau,
và khách hàng khác nhau có những cảm nhận khác nhau. Bởi vậy, chất lượng
dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra
dịch vụ.
Dịch vụ có tính không tách rời giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng: Xét
dưới góc độ kinh tế, tính không tách rời được hiểu là việc sản xuất, cung ứng,
lưu thông, tiêu dùng dịch vụ là một quá trình liên hoàn, không có độ trễ về mặt
thời gian giữa các công đoạn, hay nói cách khác, quá trình sản xuất (cung ứng)
dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Ví dụ, trong dịch vụ tư vấn tài
chính, khi chuyên gia cung cấp dịch vụ tư vấn thì đồng thời khách hàng cũng
tiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ tư vấn đó. Với đặc trưng này, dịch vụ khác
hàng hóa ở chỗ: sản xuất hàng hóa tách khỏi lưu thông và tiêu dùng nên khi
được sản xuất ra, hàng hóa có thể được lưu kho bãi và không nhất thiết phải

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, hội nhập quốc tế về giáo dục không chỉ
là xu thế và đòi hỏi khách quan mà còn là động lực quan trọng để phát triển giáo
dục.
 Về tính chất giáo dục
Là nền giáo dục tiến bộ, giàu tính nhân văn theo định hướng xã hội chủ
nghĩa vì sự phát triển toàn diện của con người. Đây là nền giáo dục thực sự của
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
dân, do dân và vì dân là sự phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền giáo
đục nhân văn.
1.2.4.Nội dung của việc thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo dục trong bối
cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của WTO
1.2.4.1.Mục tiêu thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo dục trong bối cảnh
Việt Nam là thành viên chính thức của WTO
Thực hiện mở cửa thị trường dịch vụ theo cam kết với WTO. Sau khi gia
nhập WTO, Việt Nam phải chịu sức ép lớn về cam kết trong lĩnh vực giáo dục,
theo đó, giáo dục là một dịch vụ trong hoạt động thương mại và thương mại dịch
vụ giáo dục cần được tự do hóa.
Thu hút FDI trên cơ sở mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo
chung của cả nước: Nghị quyết Trung ương khóa VIII đã đề ra các mục tiêu ưu
tiên của giáo dục và đào tạo nước ta: “Đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình
độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, đào tạo nhân lực
cho các lĩnh vực công nghệ ưu tiên (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hóa), đào tạo nhân lực cho nông
thôn để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu lao động, đào tạo nhân lực cho xuất
khẩu lao động. Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập tiểu học và xóa mù chữ.
Thực hiện và củng cố phổ cập trung học cơ sở trong cả nước”.
Trong quá trình thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo dục cần lựa chọn

Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo xây dựng chiến lược, chính sách, quy
hoạch, kế hoạch phát triển; điều chỉnh chính sách đầu tư và tổ chức đánh giá
giáo dục.
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý và tăng cường công tác thanh tra,
giám sát; phối hợp hoạt động của các ngành, các cấp, các địa phương trong việc
thực hiện các chủ trương của giáo dục.
Thực hiện việc phân cấp và phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và các
điều kiện thực thi quyền hạn ở các cấp quản lý giáo dục từ Trung ương đến các
địa phương. Thực hiện phân cấp cho chính quyền địa phương quyết định chịu
trách nhiệm cụ thể hóa các chính sách giáo dục, huy động nguồn lực, xây dựng
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục, đảm bảo phát triển
quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương.
1.2.4.2.2.Xây dựng cơ chế đầu tư và tổ chức quản lý
Đối với dịch vụ giáo dục, việc xây dựng một cơ chế quản lý đặc biệt, khác
với cơ chế quản lý thông thường là một trong những nội dung quan trọng trong
việc xây dựng môi trường đầu tư. Do vậy, phải có bộ máy quản lý có đầy đủ
chức năng, quyền hạn để đưa ra những quyết định kịp thời trước những yêu cầu
của nhà đầu tư, đồng thời cũng có thể giám sát, quản lý một cách có hiệu quả
hoạt động đầu tư vào dịch vụ giáo dục. Bộ máy này phải gọn nhẹ tinh giản, hạn
chế đến mức thấp nhất tệ quan liêu, giấy tờ và tránh tình trạng nhiều cơ quan.
1.2.4.2.3.Duy trì môi trường chính trị xã hội ổn định
Môi trường chính trị xã hội biểu hiện ở các điểm: cục diện chính trị ổn
định, an ninh xã hội tốt, chính sách cởi mở, quan hệ quốc tế tốt đẹp, đối xử với
các nhà đầu tư công bằng, bình đẳng. Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và đảm
bảo về vốn, tài sản và tính mạng, các nhà đầu tư không thể an tâm đầu tư ở một
quốc gia không ổn định về mặt chính trị, có chiến tranh, rối loạn trật tự xã hội
hoặc có chính sách, luật pháp thay đổi tùy tiện, thiếu thiện ý đối với người nước

phải có các cơ quan chuyên trách có năng lực để thực hiện các công việc này
một cách khoa học, hiệu quả nhất. Các cơ quan này có thể đặt ở trong nước hoặc
ở nước ngoài.
1.2.5.Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo
dục trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của WTO
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào phát triển dịch vụ giáo
dục trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của WTO bao gồm các
nhân tố thuộc môi trường quốc tế và các nhân tố thuộc môi trường quốc gia.
1.2.5.1.Các nhân tố thuộc môi trường quốc tế
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ sẽ tiếp tục phát triển với những
bước tiến nhảy vọt trong thế kỷ 21, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công
nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế trí thức, đồng thời tác
động tới tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật
chất và tinh thần của xã hội. Khoảng cách giữa các phát minh khoa học - công
Nguyễn Thị Quỳnh Thư Lớp KDQT 46A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS.Nguyễn Thị Hường
nghệ và áp dụng vào thực tiễn ngày càng thu hẹp lại; kho tàng kiến thức của
nhân loại ngày càng đa dạng, phong phú và tăng theo cấp số nhân.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, vừa là
quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát
triển để bảo vệ lợi ích quốc gia. Sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia sẽ ngày
càng quyết liệt hơn đòi hỏi phải tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng
hàng hóa và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng. Các phương tiện truyền
thông, mạng viễn thông, Internet tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập văn hóa,
đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hóa
dán tộc.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng động
của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút
ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiện thực hơn và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status