Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Những nước đang phát triển như Việt Nam thường gặp phải cái vòng luẩn quẩn đó là :
năng suất lao động thấp dẫn đến thu nhập thấp, thu nhập thấp thì tích luỹ thấp, tích luỹ thấp đầu
tư mới thấp, sản xuất không có hiệu quả và năng suất lao động lại thấp. Vì vậy, để phát triển bền
vững phải phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó. Để làm điều này, một mặt cần giải phóng sức sản xuất,
khai thác tốt tiềm lực nội sinh của nền kinh tế quốc dân, đồng thời khai thác có hiệu quả những
nguồn lực từ bên ngoài để phát triển lực lượng sản xuất. Thực tế chứng minh rằng nội lực và
ngoại lực luôn có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau trong quá trình phát triển. Nghĩa là
nếu khai thác nội lực có hiệu quả thì sẽ tạo điều kiện thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn lực từ bên
ngoài và ngược lại.
Trong thời đại ngày nay, khi quá trình toàn cầu hoá diễn ra ở khắp nơi, trong mọi lĩnh vực,
việc thu hút ngoại lực của các nước đang phát triển hướng vào thu hút đầu tư, công nghệ tiên
tiến thích hợp và phương thức quản lý hiện đài ngày càng gia tăng. Nhưng để huy động nội lực
và khai thác ngoại lực có hiệu quả cao, cần những điều kiện nhất định. Sự ra đời và phát triển
của các khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất ( KCX) đã chứng minh rằng đây là những địa
bàn có lợi thế trong việc tạo ra điều kiện , thể chế và môi trường thuận lợi cho quá trình thu hút,
sử dụng vốn, công nghệ, trình độ cao từ bên ngoài. Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát
triển KCN, KCX Việt Nam vẫn còn những tồn tại cản trở KCN, KCX phát huy hết vai trò và tác
dụng của nó. Chính vì vậy em chọn đề tài : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển khu
công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam” nhằm xem xét tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tác
động đến sự hình thành và phát triển của KCN, KCX đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX.
Em xin chân thành Th.S Nguyễn Ái Liên và các thầy cô trong bộ môn Kinh tế đầu tư đã
giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành Đề án môn học này.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
Lời nói đầu........................................................................................................................................1
Phần I: Những lí luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu công nghiệp,
khu chế xuất.....................................................................................................................................3
II. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN, KCX..............30
Kết luận...........................................................................................................................................36
Tài liệu tham khảo.........................................................................................................................37
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
`PHẦN I
LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI,
KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT
I. Lí luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu
vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Sự ra đời và phát
triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hoá và phân công
lao động quốc tế.
Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu
tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành các hoạt
động đầu tư”.
- Theo hiệp hội Luật quốc tế (năm 1966) : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn
từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhưng không phải để mua hàng hoá tiêu
dùng của nước này mà dùng để chi phí cho các hoạt động có tính chất kinh tế xã hội”.
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản
xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực
tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ,
kinh nghiệm quản lý …nhằm tối đa hoá lợi ích của mình.
Nguyên nhân cơ bản của sự di chuyển vốn đầu tư dưới hình thức này là do có sự chênh
lệch về tỷ suất lợi nhuận xuất phát từ lợi thế so sánh khác nhau giữa các quốc gia . Điều kiện
thuận lợi cho di chuyển vốn đầu tư là xu thế tự do hoá thương mại, đầu tư và tài chính ngày càng
tăng trên thế giới hiện nay.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài biểu hiện sự gặp nhau giữa “cung và cầu”, đó là giữa lợi ích
Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ít rủi ro
cho nước tiếp nhận đầu tư. Đây là điều nhiều nước đang phát triển và chậm phát triển rất quan
tâm, vì khả năng trả nợ của họ, nhất là phải trả nợ bằng ngoại tệ mạnh , thường là yếu kém.
Thứ hai, do đặc điểm và bản chất của FDI, nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi
nước sở tại như đầu tư gián tiếp. Kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu
vực năm 1998 đã cho thấy, những nước chịu tác động nặng nề của khủng hoảng là những nước
nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (khi lâm sự thì xuất hiện phản xạ có tính “bầy đàn” :
một số nhà đầu tư lớn rút vốn kéo theo sự rút vốn ồ ạt của những nhà đầu tư khác bằng cách “
bán tống bán tháo” cổ phiếu mình đang nắm giữ, làm sụt giá chứng khoán, làm đổ vỡ thị trường
chứng khoán); ngược lại những nước thu hút nhiều FDI (hạn chế, kiểm soát chặt chẽ các dòng
vốn đầu tư gián tiếp) thường chịu tác động của khủng hoảng ít hơn, nhẹ hơn. Kinh nghiệm của
một số nước lâm vào khủng hoảng tài chính - tiền tệ như Mehico (năm 1984) và Acgentina
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
(năm 2001) cũng đã cho thấy nhận định tương tự. Chính vì vậy, sau cuộc khủng hoảng tài chính
- tiền tệ, các nước đang phát triển được khuyến cáo nên thay đổi chính sách theo hướng thận
trọng hơn với đầu tư gián tiếp, chú trọng hơn đến việc thu hút, sử dụng FDI. Đối với FDI nhà
đầu tư thường tính chuyện làm ăn lâu dài, không mang thích đầu cơ như đầu tư gián tiếp. Trong
trường hợp không muốn làm ăn tiếp, nhà đầu tư cũng không thể rút vốn dễ dàng, nhanh chóng
như đầu tư gián tiếp, vì vốn đầu tư của họ nằm trực tiếp trong nhà xưởng, thiết bị trên đất nước
tiếp nhận đầu tư, phải chuyển đổi thành tiền bằng cách bán lại hoặc thanh lý nhà máy mới thu
hồi vốn và chuyển về nước được.
Thứ ba, FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, phương
thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thị trường mới … cho nước
tiếp nhận đầu tư. Đây là điểm hấp đẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang phát
triển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trong khi phần lớn những kỹ thuật mới được phát
minh trên thế giới vẫn xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, do đó để rút ngắn
khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, các nước này rất cần nhanh chóng tiếp
cận với kỹ thuật mới. Tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng của mình
để nâng cao trình độ công nghiệp của mình, nhưng thông qua FDI là cách tiếp nhận nhanh, trực
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế rất quan trọng của FDI, một nhân tố đẩy nhanh quá trình toàn
cầu hoá kinh tế thế giới .
Thứ năm, FDI có một lợi thế nữa đối với ODA là có thể duy trì sử dụng lâu dài, từ khi
một nền kinh tế còn ở mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển rất cao.Vốn
ODA thường được dành chủ yếu cho những nước kém phát triển (có thu nhập bình quân đầu
người dưới một mức nhất định) sẽ giảm đi và chấm dứt cho đến khi nước tiếp nhận thoát ra khỏi
tình trạng kém phát triển, trở thành nước công nghiệp tức là bị giới hạn trong một thời kì nhất
định. FDI không phải chịu giới hạn này. Nó có thể đựơc sử dụng lâu dài trong suốt quá trình phát
triển của mỗi nền kinh tế, tuỳ theo chính sách của nước tiếp nhận .
Với những ưu thế quan trọng như trên, ngày càng có nhiều nước coi trọng FDI hoặc ưu
tiên, khuyến khích tiếp nhận FDI hơn các hình thức đầu tư nước ngoài khác trong chiến lược
phát triển của mình. Trong thực tế, một số nước đã áp dụng mô hình phát triển sau đây: giai đoạn
đầu sử dụng ODA của các nước lớn để tạo “cú hích” hoặc vay nợ để có vốn đầu tư cơ sở vật
chất kỹ thuật ban đầu; sau đó chuyển sang thu hút FDI để đổi mới công nghệ, nâng cao năng
suất, sức cạnh tranh và khi đã có vị thế nhất định, có công nghệ tiên tiến thì các doanh nghiệp
trong nước vươn ra đầu tư ở nước ngoài, thu lợi nhuận chuyển về nước.
3. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh: “là văn bản kí kết giữa hai hoặc nhiều bên để tiến hành đầu
tư kinh doanh tại Việt Nam, trong đó qui định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho
mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới” (Nghị định 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 sửa
đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2000/ NĐ-CP ngày 31/7/2000).
+ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: “là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà đầu
tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiệm về kết quả kinh doanh” (Nghị định 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 sửa đổi bổ sung một
số điều của Nghị định số 24/2000/ NĐ-CP ngày 31/7/2000).
+ Doanh nghiệp liên doanh: “là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp
đồng hợp tác liên doanh kí kết giữa hai hay nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu cơ bản trong thu hút FDI của nước chủ nhà là thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Mục tiêu này được thực hiện thông qua các tác động của FDI đến các yếu tố quan
trọng quyết định tốc độ tăng trưởng: bổ sung nguồn vốn trong nước và cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế; tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại, kĩ xảo chuyên môn và phát triển khả
năng công nghệ nội địa; phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm; thúc đẩy xuất nhập khẩu và
tiếp cận với thị trường thế giới; tạo liên kết giữa các ngành công nghiệp.
- Chuyển giao và phát triển công nghệ. FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng
công nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao
công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu,
ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng được nước tiếp nhận đầu tư
mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
- Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm. Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt
động sản xuất, các vấn đề xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư. Việc cải thiện chất lượng cuộc
sống thông qua đầu tư vào các lĩnh vực: sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và
kĩ năng quản lý sẽ tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động và các
yếu tố sản xuất khác, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài ra, tạo việc làm không chỉ tăng thu
nhập cho người lao động mà còn góp phần tích cực giải quyết các vấn đề xã hội. FDI ảnh hưởng
trực tiếp đến cơ hội tạo ra công ăn việc làm trong những tổ chức khác khi nhà đầu tư nước ngoài
mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước, hoặc thuê họ thông qua các hợp đồng gia
công chế biến. Thực tiễn ở một số nước họ thấy FDI đã đóng góp tích cực tạo ra việc làm trong
các ngành sử dụng nhiều lao động như ngành may mặc, điện tử, chế biến. Mặt khác thông qua
khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp dạy nghề, FDI đã đóng góp quan trọng với phát triển
giáo dục nước tiếp nhận đầu tư trong các lĩnh vực giáo dục đại cương, dạy nghề, nâng cao năng
lực quản lý.
- Thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới. Xuất nhập khẩu có mối quan hệ
nhân quả với tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ này được thể hiện ở các khía cạnh : Xuất nhập
khẩu cho phép khai thác lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn
hoá sản xuất, nhập khẩu bổ sung các hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng.
Xuất nhập khẩu còn tạo ra các tác động ngoại ứng như thúc đẩy trao đổi thông tin, dịch vụ, tăng
cấp đầy đủ các tiện nghi đa dạng, nhà máy xử lý chất thải, hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn hảo,
KCN còn có ngân sách thương mại, bệnh viện, tổ hợp dịch vụ mua bán, bưu điện, trường học, và
khu dành cho công nhân. KCN là một cộng đồng hoàn chỉnh.
Theo Qui chế KCN và KCX, Khu công nghệ cao ban hành kèm nghị định 36 CP ngày
24/4/1997 của Chính phủ: “Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh
giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất”.
1.2. Khái niệm KCX
Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO): KCX là khu vực tương đối
nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều
kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà.
Trong đó, đặc biệt là KCX cho nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế.
Theo quan điểm của hiệp hội KCX thế giới (WEPZA) : KCX không chỉ bao gồm khu vực
công nghiệp chuyên sản xuất hàng hoá xuất khẩu mà còn bao gồm cả những khu vực được Chính
phủ cho phép như khu cảng tự do, khu tự do thuế quan, khu mậu dịch tự do…
Theo Qui chế KCN và KCX, Khu công nghệ cao ban hành kèm nghị định 36 - CP ngày
24/4/1997 của Chính phủ: Khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động
xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống được Chính phủ hoặc Thủ
tướng chính phủ quyết định thành lập.
2. Đặc điểm của KCN
Cho đến nay KCN đã được phát triển mạnh mẽ ở các quốc gia, đặc biệt ở các nước đang
phát triển. Mặc dù, có sự khác nhau về qui mô, đặc điểm và phương thức xây dựng cơ sở hạ
tầng, nhưng nói chung các KCN có các đặc điểm sau đây
2.1. Về tính chất hoạt động
- Tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ
Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế (không áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp Việt Nam
tham gia là doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).
2.3. Về quản lý
Mỗi KCN đều thành lập một ban quản lý KCN cấp tỉnh để thực hiện chức năng quản lý
nhà nước đối với các KCN. Bên cạnh đó, KCN còn chịu sự quản lý của nhiều cơ quan như: Bộ
kế hoạch và đầu tư, Bộ công nghiệp, Bộ xây dựng, ban quản lý KCN Việt Nam…
Ngoài ra , KCX còn có một số đặc điểm khác sau:
- Doanh nghiệp KCX được tự do và không hạn chế số lượng nguyên vật liệu nhập khẩu. Sản
phẩm của KCX chỉ dùng để bán ở thị trường nước ngoài, trừ trường hợp đối tác nước ngoài từ
chối mới được bán ở thị trường nội địa.
- Các doanh nghiệp KCX được miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn đầu hoạt
động.
- Các doanh nghiệp KCX được hưởng chế độ hải quan ưu đãi trong thủ tục giấy phép xuất nhập
khẩu. Các doanh nhgiệp trong KCX được tự do chuyển lợi nhuận về nước, được toàn quyền
quyết định nhân sự từ kiểm soát, quản lý đến điều hành sản xuất trong doanh nghiệp.
3. Điều kiện thành lập KCN
Hiện nay hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có nhu cầu hình thành và
phát triển KCN với các qui mô và hình thức khác nhau. Để các KCN thực sự hoạt động có hiệu
quả, tránh dàn trải, lãng phí, Bộ kế hoạch và đầu tư đã đưa ra các điều kiện để thành lập
KCN,KCX.
3.1. Điều kiện quan trọng nhất khi xem xét thành lập các KCN là xác định nhu cầu thành lập
KCN và phải có kế hoạch vận động các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào KCN
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thực tế có nhiều KCN đã được thành lập với cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại
nhưng gặp khó khăn trong thu hút vốn đầu tư cho nên không đạt được mục tiêu, hiệu quả.
Nguyên nhân là do trong quá trình xây dựng không xác định đúng nhu cầu hình thành KCN và
không có kế hoạch thu hút vốn đầu tư vào KCN. Do vậy, khi xem xét thành lập KCN phải cân
nhắc kĩ nhu cầu và có biện pháp kêu gọi vốn trong nước cũng như nước ngoài.
3.2. Sự phù hợp của KCN đó với qui hoạch phát triển hệ thống KCN trong phạm vi cả nước, kế
nghiệp chế xuất cũng rất quan tâm đến việc bồi dưỡng, đào tạo các công nhân kĩ thuật phù hợp
với năng lực sản xuất mới. Nhờ đó trình độ tay nghề người lao động được nâng cao. Rõ ràng,
với việc thành lập KCN, KCX chúng ta có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với nhiều thành tựu khoa
học - công nghệ, khoa học quản lý mà không phải bỏ ra nhiều chi phí.
4.3. Góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động
Các nước đang phát triển có nguồn nhân lực khá dồi dào. Việc thành lập các KCN, KCX sẽ
thu hút một số lượng lớn lao động lớn, giải quyết được một phần tình trạng thất nghiệp và làm
thay đổi bộ mặt địa phương nơi hình thành KCN, KCX.
4.4. Tiết kiệm nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng, sử dụng đất có hiệu quả hơn
Trong KCN, KCX cơ sở hạ tầng do công ty phát triển hạ tầng KCN, KCX xây dựng theo
một qui hoạch có tính dài hạn. Các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng được quản lý thống nhất
nên tránh tình trạng đầu tư chồng chéo, lãng phí. Nhờ đó việc hình thành KCN, KCX giúp tiết
kiệm các nguồn lực và sử dụng đất có hiệu quả hơn.
4.5. Tạo ra mối liên kết giữa các ngành nghề
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN đòi hỏi nguồn cung cấp nguyên
nhiên liệu và dịch vụ đầu vào thường xuyên. Chính điều này tạo ra mối liên hệ giữa các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh khác.
4.6. Quản lý chất thải và giảm ô nhiễm môi trường
Việc hình thành và phát triển KCN, KCX góp phần tích cực vào việc kiểm soát chất thải
công nghiệp và bảo vệ môi trường. Các KCN, KCX thường được qui hoạch chi tiết để tập trung
các nhà máy,xí nghiệp nằm rải rác, do vậy, sẽ quản lý được tập trung nguồn rác thải công
nghiệp, giảm mức độ ô nhiễm khu dân cư.
5. Phân biệt KCN và KCX
KCX là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất để xuất khẩu, còn KCN là nơi tập trung các
doanh nghiệp công nghiệp. KCN có thể bao gồm KCX. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu trong KCN sẽ được đặc biệt ưu đãi như sản xuất ở trong KCX độc lập.
KCN không chỉ cho phép các công ty có vốn đầu tư nước ngoài mà còn cho phép các công
ty 100% vốn nước ngoài hoạt động trong khi đó KCX chỉ cho phép các công ty có vốn đầu tư
nước ngoài hoạt động.
KCN vừa gắn với mục tiêu xuất khẩu vừa thực hiện nâng cao khả năng sản xuất của thị
14