LUẬN VĂN: Khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh hải dương - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Khu công nghiệp với sự phát triển
kinh tế - xã hội ở tỉnh hải dương

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

nghiệp với sự phỏt triển kinh tế - xó hội ở tỉnh Hải Dương” để nghiên cứu làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị. Việc nghiên cứu này vừa có ý nghĩa về mặt lý luận
vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách không chỉ đối với tỉnh Hải Dương mà cũn đối với cả
nước.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Kể từ khi Đảng, Nhà nước ta có chủ trương xây dựng và phát triển các khu công
nghiệp đến nay đó cú một số cụng trỡnh nghiờn cứu về vấn đề này, tiêu biểu là:
- Bộ kế hoạch và đầu tư (2002) “Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất và đặc khu kinh tế”;
- Nguyễn Mạnh Đức, Lê Quang Anh (1998) “Hướng dẫn đầu tư vào các khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ở Việt Nam”, Nxb Thống kê;
- Vũ Huy Hoàng (2002) “Tổng quan về hoạt động của các khu công nghiệp”, Kỷ
yếu khu công nghiệp, khu chế xuất Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh;
- Trương Thị Minh Sâm (2004) “Các giải pháp nhằm nõng cao vai trũ và hiệu
quả quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất” , Nxb
Khoa học xó hội, Hà Nội;
- Trần Văn Tùng (2005) “Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường ở một số khu công
nghiệp phía Bắc tới sức khỏe cộng đồng”, Nxb Khoa học xó hội, Hà Nội.
- Nguyễn Chơn Trung, Trương Quang Long (2004) “Phỏt triển cỏc khu cụng
nghiệp, khu chế xuất trong quỏ trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
Một số đề tài dưới dạng luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề này
như:
- Lê Hồng Yến (1996), “Hoàn thiện chính sách cơ chế quản lý nhà nước đối cới
các khu công nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (qua thực tiễn khu công nghiệp
các tỉnh phía Bắc)”, Luận án tiến sĩ tại trường Đại học Thương mại; - Nguyễn Xuân Hinh (2003), “Quy hoạch xây dựng và phát triển khu công
nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, Luận án tiến sĩ kinh tế tại trường Đại học Kinh

tỉnh Hải Dương để đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và ngăn
ngừa hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra.
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về tác động của các khu công nghiệp với
quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế - xó hội trờn địa bàn một tỉnh ở nước ta.
+ Đánh giá thực trạng tác động của các khu công nghiệp đối với sự phát triển
kinh tế - xó hội ở tỉnh Hải Dương.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tốt mặt tích cực và ngăn
ngừa, hạn chế những tác động tiêu cực có thể xảy ra trong quá trỡnh phỏt triển cỏc khu
cụng nghiệp này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trũ của cỏc khu cụng nghiệp (gồm khu cụng nghiệp,
khu chế xuất, cụm cụng nghiệp) đối với sự phát triển kinh tế - xó hội, trong đó chủ yếu
nghiên cứu và phân tích tác động tiêu cực trong quá trỡnh phỏt triển cỏc khu cụng nghiệp
này.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: địa bàn tỉnh Hải Dương.
+ Về thời gian: từ khi triển khai xây dựng và phát triển các khu công nghiệp ở
nước ta đến nay (1991 – 2008).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp luận
- Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mỏc
– Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và
những lý thuyết về cụng nghiệp húa và đầu tư trong nền kinh tế thị trường.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của kinh
tế chính trị học, trong đó coi trọng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê từ
tư liệu thực tiễn. 6. Những đóng góp khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác động của các khu công nghiệp đối với quá

nghiệp sản xuất công nghiệp. Các KCN ra đời là kết quả của việc xây dựng các doanh
nghiệp công nghiệp riêng rẽ. Xen lẫn với các doanh nghiệp công nghiệp là khu dân cư hoặc
các cơ quan hành chính sự nghiệp các doanh nghiệp thuộc ngành khác… nghĩa là KCN
chuyên sản xuất hàng dành cho xuất khẩu. Ở đó, chính quyền đó áp dụng nhiều chính sách
ưu đói như miễn thuế (thuế xuất - nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản…) và tự do
mua bán.
Tuy nhiên, đến nay ở các nước khác nhau có những quan niệm khác nhau về
KCN. Có quan niệm cho rằng, KCN là một vùng đất được phân chia và phát triển có hệ
thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp
tương hợp với hạ tầng cơ sở, các tiện ích công cộng, các dịch vụ phục vụ và hỗ trợ [14,
tr.15]. Ở Thái Lan và Philippin, KCN được quan niệm như một thành phố công nghiệp và
thực tế nó là một cộng đồng tự túc và độc lập. Ngoài việc cung cấp kết cấu hạ tầng, các tiện
nghi, tiện ích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải, KCN cũng bao gồm khu thương mại,
dịch vụ ngân hàng, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, khu nhà ở cho công
nhân… Các KCN ở Thái Lan và Inđônêxia thường có 3 bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng
tiêu thụ nội địa, khu sản xuất hàng xuất khẩu và khu thương mại dịch vụ.
Có quan niệm lại cho rằng, KCN là một khu vực phụ, không nhất thiết phải có sự
ngăn cách, biệt lập bởi trên thực tế có nhiều tập đoàn và tổ hợp công nghiệp với một
chuỗi đồ sộ các xí nghiệp, nhà máy liên kết với nhau trên một khu vực rộng lớn. Việc bố
trí mặt bằng các khu sản xuất trên quy mô lớn như vậy hỡnh thành một loại hỡnh tổ chức
mới của KCN mà khụng nhất thiết phải cú quy mụ đặc thù [27, tr.30-31, 33].
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO)
trong tài liệu KCX ở các nước đang phát triển công bố năm 1990, thỡ KCN là khu vực
tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiờu thu hỳt đầu tư
vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công
nghiệp này những điều kiện về đầu tư mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lónh thổ
cũn lại của nước chủ nhà. Trong đó đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu hàng hoá dùng

15/12/1994 của Chính phủ về quy chế KCN. Các KCN được định nghĩa là khu vực công
nghiệp tập trung, được thành lập do quyết định của Chính phủ với các ranh giới được
xác định, cung ứng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và không có dân cư.
Theo Điều 2 - Nghị định 36/CP của Chính phủ ban hành về: “Quy chế hoạt động
của các KCN, KCX, KCNC” thỡ khái niệm về KCN được giải thích như sau: KCN là khu
tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh
sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu. Những doanh nghiệp này được hưởng những ưu đói đặc biệt về
thuế quan, miễn thuế đối với tất cả các hàng hoá xuất nhập khẩu. Sản phẩm của các
doanh nghiệp này chỉ được phép xuất khẩu chứ không được tiêu thụ trên thị trường nội địa. Trong trường hợp bán trên thị trường nội địa thỡ sẽ phải chịu thuế nhập khẩu như đối
với những hàng hoá nhập khẩu thông thường.
KCNC là KCN tập trung những doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các
đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, bao gồm nghiên cứu triển khai
khoa học và công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới xác định, do
chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN cao có thể có
doanh nghiệp chế xuất.
Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp chuyên sản xuất và chế biến hàng xuất
khẩu, được thành lập và hoạt động theo quy chế này.
Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN,
gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được
thành lập và hoạt động trong KCN.
Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong
KCN, thực hiện dịch vụ và các công trỡnh kết cấu hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất cụng
nghiệp.

Đối với nước sở tại, thỡ KCX cú nhiều mặt lợi hơn so với KCN. Điều này có thể
được lý giải bởi các lý do sau đây:
- Doanh nghiệp chế xuất không được trực tiếp sử dụng thị trường nội địa nên nhỡn
chung là khụng cạnh tranh với sản xuất trong nước.
- Nhà nước không lo cân đối ngoại tệ cho doanh nghiệp mà ngược lại, nguồn ngoại tệ
của xó hội lại được tăng lên nhanh chóng nhờ hoạt động của KCX.
- Thúc đẩy việc mở cửa thị trường nội địa nhanh hơn, phù hợp với chủ trương xây
dựng nền kinh tế mở hướng mạnh về xuất khẩu.
Tuy nhiờn, những gỡ được coi là có lợi cho nước sở tại thỡ ngược lại là bất lợi đối
với nhà đầu tư. Để có thể xuất khẩu được 100% sản phẩm, việc tổ chức sản xuất phải đạt
chất lượng cao, đồng đều, giá hợp lý, phự hợp với điều kiện cạnh tranh của thị trường
quốc tế. Do các bất lợi trên mà các nhà đầu tư nước ngoài thường quan tâm đến hỡnh
thức KCN, nhằm tận dụng lợi thế về thị trường nội địa. Điều này nghĩa là việc xây dựng
thành công các KCX thường gặp khó khăn hơn là KCN. Việc các nhà đầu tư nước ngoài coi trọng mô hỡnh KCN là cú căn nguyên riêng của nó, nhưng cần phải thấy được một
vấn đề là nếu một quốc gia có quá nhiều KCN hoạt động sẽ có hàng nghỡn doanh nghiệp
sản xuất hàng tiờu dựng chủ yếu do nước ngoài đầu tư. Điều này sẽ tạo ra hiện tượng
cạnh tranh gay gắt không cần thiết trên thị trường nội địa.
Để khuyến khích đầu tư vào KCX, cần rà soát lại toàn bộ hệ thống chính sách kinh
tế vĩ mô của nhà nước theo tinh thần khuyến khích mạnh hơn, ưu đói nhiều hơn cho
KCX, làm cho nó có sức hấp dẫn cao hơn đối với các nhà đầu tư so với KCN. Việc xây
dựng kết cấu hạ tầng của các KCN và KCX là không ít khó khăn, nhưng việc kêu gọi các
doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn này là khó khăn hơn nhiều. Chất lượng của một KCX
hay KCN phụ thuộc nhiều vào chất lượng của các dự án đó thu hỳt được.
Như vậy KCN và KCX có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự khác nhau
về mục đích, đối tượng tham gia hay mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế. KCN
thường được nhận một sự ưu tiên nhất định từ phía chính quyền địa phương và Chính phủ
với vai trũ thỳc đẩy phát triển kinh tế vùng (địa phương), KCN bao gồm những doanh

ương. Trong đề tài, khái niệm KCN được hiểu bao gồm cả KCN do Trung ương thành
lập, quản lý và cả cỏc cụm CN do chính quyền địa phương thành lập.
Nói tóm lại, sự ra đời của các KCN nhằm mục đích cung cấp các điều kiện về kết
cấu hạ tầng tốt nhất cho việc xây dựng và vận hành của các cơ sở sản xuất công nghiệp
đặc biệt là hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào nước sở tại sẽ có được đầy đủ
điều kiện mặt bằng, đường sá, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống xử lý nước thải…
để sản xuất kinh doanh mang lại lợi ích cho cả hai phía.
1.1.2. Tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xó hội
KCN ở Việt Nam ra đời cùng với chính sách đổi mới mở cửa do Đại hội Đảng lần
thứ VI khởi xướng. Hoạt động của các KCN trong thời gian qua đó đóng một vai trũ hết
sức quan trọng trong quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế của đất nước. Đối với những nước
thuần nông như Việt Nam thỡ việc phỏt triển KCN trước hết tạo tiền đề cho đô thị hoá
nông thôn, tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới theo hướng phát triển công nghiệp,
giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn. KCN cũng chính là cầu nối giữa
nước ta với thế giới bên ngoài, đóng vai trũ tiờn phong trong việc chuyển từ nền kinh tế
khộp kớn sang nền kinh tế mở cửa. Tuy nhiên, sự phát triển của KCN trong thời gian qua cũng đang phá vỡ kết cấu xó
hội nụng thụn truyền thống, bộc lộ những bất cập trong giải quyết vấn đề môi trường sinh
thái, việc làm và thu nhập của người dân mất đất, sự quá tải của hệ thống kết cấu hạ
tầng…
1.1.2.1. Những tác động tích cực của các khu công nghiệp đối với sự phát triển
kinh tế - xó hội của nước ta hiện nay
Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh việc thực hiện công cuộc CNH, HĐH
nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH. CNH, HĐH
được xác định là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH. Quá trỡnh
CNH, HĐH được thực hiện trên cơ sở giải phóng sức sản xuất trong nước phát huy cao
độ các nguồn lực trong nước đồng thời tỡm cỏch thu hỳt nguồn lực từ bờn ngoài. Nguồn
lực trong nước và nguồn lực từ bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nguồn lực

dựng tập trung theo chiều dọc, là nơi có nhiều đất trống, gần cảng, giao thông thuận lợi
cho xe trọng tải lớn ra vào, có mạng lưới điện để cho nhà đầu tư có thể xây dựng và vận
hành các nhà máy. KCN cũn được trang bị kết cấu hạ tầng đầy đủ nên khi đầu tư vào thỡ
cỏc nhà đầu tư sản xuất sẽ giảm được rất nhiều chi phí như chi phí mua đất xây dựng nhà
máy với giá cao, chi phí xây dựng hệ thống đường dây tải điện, đường giao thông vận tải
vào nhà máy, thiết lập hệ thống thông tin liên lạc Việc bố trí các nhà máy theo chiều
dọc (sản phẩm của nhà máy này là nguyên liệu của nhà máy khác) và tập trung vào một
khu vực nên các doanh nghiệp dễ dàng giải quyết đầu vào và đầu ra với chi phí thấp nhất.
Do đó, các doanh nghiệp KCN có điều kiện thuận lợi hơn để đạt mục tiêu lợi nhuận các
doanh nghiệp bên ngoài KCN nên KCN thường hấp dẫn nhà đầu tư.
Thực tế ở nước ta cho thấy, KCN có vai trũ tớch cực vào việc thu hút vốn đầu tư
đặc biệt là vốn FDI. Số dự án đầu tư cả trong và ngoài nước vào các KCN chiếm một tỷ
trọng khá lớn. Sự gia tăng vốn đầu tư vào các KCN góp phần quan trọng vào việc tăng
tổng vốn đầu tư của toàn xó hội, đóng góp trực tiếp vào việc tăng trưởng và chuyển dịch
cơ cấu của nền kinh tế. Mặt khác cũn tỏc động, kích thích tăng đầu tư mới ở các doanh
nghiệp ngoài KCN. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, riêng năm 2008, các KCN trên cả nước
đó thu hỳt được gần 9,4 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 271 dự án mới với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt gần 7,5 tỷ USD và 236 lượt dự án tăng vốn với số vốn
tăng thêm đạt trên 1,6 tỷ USD
Tính đến nay, các KCN cả nước đó thu hỳt được 3325 dự án có vốn đầu tư nước
ngoài với tổng vốn đầu tư gần 39.3 tỷ USD.
Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của các KCN trên cả nước đạt
gần 50%, riêng các KCN đó vận hành đạt tỷ lệ lấp đầy gần 74% [49].
Bên cạnh đó, việc tập trung các doanh nghiệp vào một khu vực địa lý hỡnh thành
KCN tập trung là một vấn đề không kém phần quan trọng bởi trong KCN tập trung, các
doanh nghiệp dùng chung cụng trỡnh hạ tầng nờn giảm được chi phí trên một đơn vị diện
tích và đơn vị sản phẩm, thực hiện phát triển công nghiệp theo một quy hoạch thống nhất,
kết hợp giữa quy hoạch ngành với quy hoạch lónh thổ. Hơn nữa, việc tập trung các doanh

máy móc hiện đại sang để tiến hành sản xuất nhằm mục đích tạo năng sất lao động cao
Các công ty ở các KCN có thể chuyển giao một số công nghệ mới vào giúp đỡ kỹ thuật
cho các nhà cung cấp địa phương hoặc các công ty sản xuất chi tiết sản phẩm của KCN.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp KCN cũn thu hỳt một lượng lớn người lao động Việt
Nam vào các vị trí quản lý doanh nghiệp quan trọng, đội ngũ lao động này được tiếp xúc
với phương thức quản lý tiờn tiến, kỹ năng maketting, quản lý tài chính, tổ chức nhân
sự Đội ngũ này khi chuyển đi làm việc tại các doanh nghiệp Việt Nam hoặc tự mỡnh
thành lập doanh nghiệp sẽ vừa áp dụng được phương pháp quản lý tiờn tiến đó tiếp thu
được vào hoạt động của doanh nghiệp mỡnh, vừa nõng cao hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp và truyền đạt những kiến thức quản lý cho người lao động Việt Nam khác.
Bốn là, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu
quả.
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là một nội dung cơ bản trong quá trỡnh CNH, HĐH
ở nước ta bởi nó tạo điều kiện cho nền kinh tế vận động phù hợp với các quy luật khách
quan, thúc đẩy phân công lao động xó hội, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường trong nước và
xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, mở cửa và hội nhập kinh tế, giúp khai thác tối đa mọi
nguồn lực, tiềm năng của đất nước, của ngành, của doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. Đảng ta xác định xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lónh thổ, trong đó giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh
vực nhất là các ngành và lĩnh vực có sức cạnh tranh cao.
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ công nghiệp. Một
mặt, KCN góp phần nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng số GDP của các
ngành kinh tế tạo ra trên cả nước. Mặt khác, KCN thu hút được những dự án có hàm lượng
vốn lớn, công nghệ cao. Mặc dù số lượng các dự án này trong KCN cũn ớt nhưng cũng góp
phần phát triển ngành nghề mới, đa dạng hoá ngành nghề công nghiệp. Các dự án đầu tư
vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, giầy da, công
nghiệp chế biến thực phẩm. Đây là các dự án thu hút nhiều lao động và có tỷ lệ xuất khẩu
cao. Các ngành công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm là những ngành truyền thống có từ

nội thành, từ các vùng dân cư, phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển bền vững. Với tác
động này, việc xây dựng các KCN tập trung được coi là một giải pháp quan trọng của sự
phát triển KT- XH.
Trong vài năm tới ở nước ta sẽ có khoảng 65% KCN đang hoạt động có hệ thống
nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường. Tuy nhiên, nó đũi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước
phải có quyết tâm cao kết hợp với các biện pháp cụ thể. Thời gian qua đó cú nhiều dự ỏn
xử lý nước thải tập trung trong KCN đi vào vận hành, tổng số cơ sở xử lý nước thải tập
trung lên 60 nhà máy, đạt gần 1/2 mục tiêu kế hoạch đến năm 2010. Ngoài ra, tại KCN
đang xây dựng, cú 20 nhà mỏy xử lý nước thải tập trung được xây dựng và dự kiến hoàn
thành trong năm nay. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đó dự thảo Quy chế Bảo vệ môi trường KCN. Hy vọng sau khi ban hành Quy
chế này, chúng ta sẽ có cơ sở phỏp lý trong triển khai công tác bảo vệ môi trường KCN.
Sáu là, góp phần tăng cung ứng hàng hoá dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước và
xuất khẩu.
Một trong những mục tiêu quan trọng đặt ra khi xây dựng các KCN là góp phần
đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Thực tế cho thấy, nhiều KCN ở các
nước đặc biệt là ở khu vực châu Á đó thành công trong mục tiêu này. Theo thống kê của
Hiệp hội KCX thế giới, một diện tích khoảng 100 ha cần đầu tư 50 triệu USD cho kết cấu
hạ tầng, trong vũng 10 năm sẽ tạo việc làm cho 10.000 lao động, từ đó tạo ra hàng xuất
khẩu trị giá 100 triệu USD/năm [48]. Thực tế cho thấy việc phát triển KCN đó thành cụng ở nhiều nước như Đài Loan,
Thái Lan xây dựng KCN từ những năm đầu của thập kỷ 60 và đó thu được những thành
tựu to lớn. Các KCN của Đài Loan đó cú 238 doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động với tổng
vốn đầu tư hơn 860 triệu USD, trong đó hơn 70% là đầu tư nước ngoài. Tổng giá trị xuất
khẩu tích lũy đó hơn 35 tỷ USD, tạo việc làm cho 90.000 lao động. Cũn Thái Lan, năm
1960 thu nhập GDP bỡnh quõn là 94 USD/người. Qua 3 thập kỷ công nghiệp hóa, công
nghiệp đó lờn ngụi chiếm 34% GDP và nụng nghiệp chỉ cũn 10%, 70% giỏ trị xuất khẩu
do cỏc ngành cụng nghiệp đảm nhận, thu nhập GDP bỡnh quõn đầu người cao. Công

Sự phát triển ồ ạt của các KCN, quy hoạch thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhỡn chiến
lược đó gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng tăng trưởng kinh tế làm cho quỏ trỡnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế không theo kịp. Mặt khác, việc phân bố các KCN giữa các vùng cũn
bất hợp lý, thành lập quỏ nhiều KCN, KCX trong cựng một vựng trong khi khả năng thu
hút đầu tư cũn hạn chế khụng phỏt huy được hiệu quả vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và xó
hội cho KCN. Điều này dẫn đến tỡnh trạng cạnh tranh gay gắt, tự phỏt, chạy đua theo
phong trào. Việc thành lập, thu hút đầu tư vào KCN không phù hợp với quy hoạch tổng
thể phát triển KT - XH của vùng, quy hoạch phát triển KCN cả nước. Hơn nữa, do cách
thức quản lý cỏc KCN khụng tốt, không tập trung làm cho các doanh nghiệp trong KCN
làm ăn kém hiệu quả. Mặt khác, việc xây dựng các KCN tràn lan dẫn đến tỡnh trạng thiếu
lao động có tay nghề. Đây là vấn đề hết sức nan giải mà nhiều địa phương đó vấp phải
làm cho các KCN hoạt động không có hiệu quả cao. Như vậy, do theo đuổi phong trào
xây dựng KCN, mong muốn lấp đầy KCN dẫn đến tỡnh trạng lóng phớ cỏc nguồn lực,
làm xỏo trộn tỡnh hỡnh phỏt triển KT - XH.
Sự phát triển tràn lan các KCN ở các tỉnh hiện nay dẫn đến cạnh tranh quyết liệt
giữa các địa phương trong việc thu hút đầu tư làm xuất hiện không ít tỡnh trạng “vượt
rào”,“ phá luật” gây ra những lộn xộn không đáng có làm thiệt hại cho lợi ích chung của
xó hội và giảm lũng tin của cỏc nhà đầu tư về sự nhất quán trong chính sách ưu đói của
Việt Nam.
Trong những năm gần đây, để khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài
nước đầu tư vào các KCN, các cấp, các ngành đó không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện chính sách ưu đói, thủ tục đầu tư thuận tiện. Tuy vậy, việc xây dựng ồ ạt các KCN dẫn
đến một thực tế các địa phương đang ra sức quyết liệt ganh đua, cạnh tranh nhau để thu
hút các nguồn vốn đầu tư về KCN ở địa phương mỡnh. Nhiều địa phương đó ban hành
những chính sách ưu đói riờng để “xé rào, phá luật” vượt quá quy định của pháp luật để
thu hút đầu tư, chấp nhận dùng ngân sách địa phương để bù lỗ. Điều này làm ảnh hưởng
đến ngân sách nhà nước, hơn nữa cũn dẫn đến tỡnh trạng chốn lấn, “ngáng chân nhau”
trong việc thu hút đầu tư, làm giảm hiệu quả của các KCN, không tận dụng được lợi thế

nên nhiều địa phương thu hồi đất của dân, san lấp mặt bằng nhưng lại để đất trống trong
nhiều năm do chưa có nhà đầu tư phù hợp. Một số nơi vội giao đất cho nhà đầu tư không
đủ năng lực nên dự án không tiến triển. Tỷ lệ lấp đầy trong các KCN là một trong những
tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững về kinh tế, sự phát triển bền vững nội tại KCN
nhưng lại không đạt tiêu chuẩn đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các công ty phát triển
hạ tầng
Một vấn đề đáng quan tâm nữa là việc xây dựng các KCN cần phải có mặt bằng
xây dựng. Muốn có mặt bằng xây dựng cần phải đền bù, giải phóng mặt bằng. Chính sách
đền bù giải phóng mặt bằng cho các KCN nếu không phù hợp, không được người dân
đồng tỡnh sẽ gõy ra tỡnh trạng trỡ trệ trong phỏt triển KCN.
Việc đền bù trong thời gian qua rất phức tạp nhiều hạn chế và tốn kém. Nhiều
KCN mất từ 2 đến 3 năm mới đền bù, giải toả xong, dẫn đến việc đẩy chi phí xây dựng
tăng lên làm cho giá thuê đất tăng cao làm giảm tính hấp dẫn của KCN. Mặt khác, những
biến động về giá đất ở các khu vực xung quanh KCN theo hướng tăng lên có thể gây khó
khăn cho việc giải phóng mặt bằng hoặc gây khó khăn cho các hộ dân. Thực tế cho thấy,
một số KCN đó không thực hiện tốt chính sách đối với các hộ dân phải di dời đó gây khó
khăn lớn cho họ. Ngoài ra, tỡnh trạng đất đền bù cho người dân thấp nhưng đến khi có
KCN thỡ giá đất lại tăng lên một cách chóng mặt, có nhiều người đó lợi dụng tỡnh trạng
này để thu lợi lớn trong khi người mất đất lại rất thiệt thũi gõy nờn sự bất bỡnh.
Theo báo cáo của Chính phủ, vào thời điểm cuối năm 2008, có trên 80% số vụ
khiếu kiện của nông dân liên quan đến đất đai, trong đó có tới 70% là khiếu nại về giá đất
tính bồi thường; 20% là khiếu nại yêu cầu bồi thường thêm theo giá đất mới; 6% là khiếu
nại yêu cầu bồi thường đối với đất đó thu hồi nhưng chưa được bồi thường; 3% là khiếu nại về chưa thực hiện tái định cư và 1% là khiếu nại về sự thiếu công bằng trong áp dụng
chính sách giữa các trường hợp giống nhau [50].
Với cách làm như hiện nay, tại các nơi có KCN, hệ thống chính trị ở nhiều cơ sở
rệu ró và bị một số cỏn bộ lợi dụng chức quyền ăn chặn phần đền bù của dân. Dân không
cũn tin vào chớnh quyền cơ sở nên dẫn đến tỡnh trạng khiếu nại vượt cấp. Thêm vào đó,

làm gặp vô vàn khó khăn. Hầu hết các tỉnh đều thừa nhận, lượng lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp vào làm tại các KCN là rất nhỏ.
Mặt khác, phần lớn lao động tại khu vực nông thôn hiện nay đều rơi vào độ tuổi đó
khá cao (trên 35 tuổi). Do vậy, tâm lý trồng lúa đó ăn sâu, bén rễ nên không thể học nghề
để chuyển đổi. Hơn nữa, để học những nghề đũi hỏi nhiều chất xỏm thỡ người nông dân
khó tiếp thu, cũn đào tạo nghề đơn giản thỡ doanh nghiệp khụng chấp nhận. Vỡ thế,
những trường, trung tâm dạy nghề được mở tại những vùng có diện tích thu hồi đất nông
nghiệp lớn rơi vào tỡnh trạng “dở khúc, dở cười”. Nơi thỡ khụng đủ học viên vào học
phải đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng, nơi thỡ hầu như toàn học viên từ các tỉnh
khác, nơi khác về học.
Một thực trạng đáng buồn nữa, do trỡnh độ hạn chế, sau khi bị thu hồi đất, có tới
67% nông dân vẫn giữ nguyên nghề sản xuất nông nghiệp, 13% chuyển sang nghề mới
và khoảng 20% khác không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định. Số nông
dân bị thu hồi đất không tỡm được công việc mới, quay lại làm nghề nông lại đối mặt với
nỗi lo không có đất để cấy cày, rơi vào cảnh thất nghiệp Đơn thuần, không có đất canh
tác, lại không kiếm được công việc mới nên thu nhập của 37% số hộ nông dân bị thu hồi
đất bị sụt giảm so với trước đây, và chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước. Việc sử
dụng tiền đền bù, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân chưa hợp lý, chủ
yếu dựng để xây nhà, mua sắm, chỉ có một lượng khiêm tốn hộ dùng số tiền đó một cách
thiết thực. Do đó, nhiều hộ nhận tiền đền bù vài trăm triệu đồng nhưng chỉ sau 1-2 năm
lại trở thành hộ nghèo. Không chỉ nguy cơ thất nghiệp, nghèo đói đe dọa người nông dân
bị mất đất sản xuất mà nó cũn kộo theo nhiều hệ lụy khỏc. Chẳng hạn vấn đề an ninh
nông thôn cũng bị xáo trộn đáng kể khi có một lượng lớn người thất nghiệp tại địa
phương cùng với một lượng lớn lao động từ các nơi khác đổ về [50].
Mặc dù KCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý và kiểm soỏt mụi trường sinh
thái nhưng nếu không có chính sách và cơ chế quản lý hiệu quả chặt chẽ sẽ gây tác động
ngược lại, mức độ ô nhiễm môi trường sẽ tăng lên rất nhanh. Có thể nói ô nhiễm môi

Trích đoạn Tác động tiêu cực trong hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương và nguyên nhân Dự báo các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương đến năm Quan điểm, định hướng phát triển công nghiệp Phương hướng phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương đảm bảo phát huy vai trũ tớch cực và hạn chế những tiờu cực trong sự phỏt triển kinh tế Hoàn thiện công tác dự báo và quy hoạch phát triển các khu công nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status