Tác động của khu công nghiệp đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hải Dương
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên Lý luận Chính trị
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: GS,TS Nguyễn Đình Kháng
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về tác động của các khu công nghiệp
với quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn một tỉnh. Đánh giá thực trạng tác
động của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hải Dương.
Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn
chế những tác động tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình phát triển các khu công
nghiệp này.
Keywords: Kinh tế chính trị; Khu công nghiệp; Tăng trưởng kinh tế; Hải dương
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển khu công nghiệp là một giải pháp quan trọng nhằm thu hút vốn đầu tư thúc
đẩy công nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ
môi trường sinh thái bảo đảm phát triển bền vững. Ở nước ta, năm 1991, Đảng và Nhà nước
có chủ trương triển khai thí điểm việc thực hiện giải pháp quan trọng này, kết qủa là đã có gần
200 khu công nghiệp với các quy mô, loại hình được phân bổ hầu khắp các tỉnh, thành phố.
Hải Dương là tỉnh mới được tái lập từ 1/1/1997, thuộc một trong 8 tỉnh của vùng kinh tế trọng
điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ với hệ thống giao thông thủy, bộ, đường sắt thuận lợi. Trong
xu thế phát triển chung của cả nước, Hải Dương đã có 10 khu công nghiệp với diện tích 2.087
ha. Sự phát triển khu công nghiệp ở Hải Dương trong thời gian qua đã góp phần quan trọng
vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập
kinh tế chính trị nghiên cứu về tác động của khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương. Đề tài mà học viên lựa chọn nghiên cứu không trùng với các công trình khoa
học đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Luận văn đánh giá tác động của khu công nghiệp (bao gồm các khu công nghiệp, khu
chế xuất và cụm công nghiệp) để đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy mặt tích
cực và ngăn ngừa những tiêu cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hải Dương
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn về tác động của các khu công nghiệp với quá
trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn một tỉnh.
+ Đánh giá thực trạng tác động của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội ở tỉnh Hải Dương.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tốt mặt tích cực và ngăn ngừa,
hạn chế những tác động tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình phát triển các khu công nghiệp
này.
3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của các khu công nghiệp (gồm khu công nghiệp,
khu chế xuất và cụm công nghiệp) đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hải Dương .
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: địa bàn tỉnh Hải Dương
+ Về thời gian: từ khi triển khai xây dựng và phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Hải
Dương (từ 1997 đến nay).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và những lý thuyết
về công nghiệp hoá và đầu tư trong nền kinh tế thị trường.
Hoạt động của các KCN trong thời gian qua đã đóng góp một vai trò hết sức quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên sự phát triển của KCN trong
thời gian qua cũng đang phá vỡ kết cấu xã hội nông thôn truyền thống, bộc lộ những bất cập
trong giải quyết vấn đề môi trường sinh thái, việc làm và thu nhập của người dân mất đất, sự
quá tải của hệ thống kết cấu hạ tầng
1.1.2.1. Những tác động tích cực của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta hiện nay
Việc phát triển KCN có những tác động tích cực sau:
Một là, KCN là một địa điểm quan trọng để thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước
ngoài, tập trung các doanh nghiệp công nghiệp vào một khu vực địa lý.
Hai là, tạo việc làm và thu nhập
Ba là, KCN là địa bàn để tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại và phương pháp
quản lý tiên tiến của các nước phát triển.
Bốn là, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả.
Năm là, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường
sinh thái cho phát triển bền vững.
Sáu là, góp phần tăng cung ứng hàng hoá dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất
khẩu.
1.1.2.2. Những tác động tiêu cực của các khu công nghiệp
Việc xây dựng và phát triển các KCN, KCX của nước ta trong thời gian qua bên cạnh
những thành tựu đạt được cũng đã bộc lộ những hạn chế, đặt ra những vấn đề bức xúc cần
phải nghiên cứu giải quyết.
Một là, do theo đuổi phong trào xây dựng KCN mà các nhà quản lý và đầu tư thiếu
tính toán việc thu hút các doanh nghiệp sản xuất nhằm “lấp đầy” KCN nên dẫn đến tình trạng
lãng phí các nguồn lực.
Hai là, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng cho các KCN không phù hợp, không
được người dân ủng hộ đã gây ra tình trạng trì trệ trong phát triển KCN.
5
Ba là, việc xây dựng ồ ạt các KCN còn làm gia tăng tình trạng thất nghiệp, ảnh hưởng
1.2.3.1. Bền vững về kinh tế
6
Phát triển bền vững KCN về kinh tế là quá trình phát triển KCN đạt được tốc độ tăng
trưởng cao, liên tục và dài hạn của KCN, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH, HĐH.
Tăng trưởng cao, liên tục và dài hạn của KCN chỉ có thể thực hiện được khi KCN đạt
được hiệu quả kinh tế và có năng lực cạnh tranh cao. Hiệu quả sản xuất của KCN thể hiện ở
phương thức tăng trưởng phải chủ yếu dựa vào hiệu quả sử dụng các yếu tố nguồn lực và
được thể hiện qua năng suất tổng hợp các nhân tố TFP (Total Factor Produtivity). Do vậy các
nội dung của phát triển bền vững KCN về kinh tế phải tập trung vào các giải pháp, vừa huy
động được các lợi thế sẵn có của nguồn lực và tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng ngày càng tiến bộ và hiệu quả hơn.
Để phát triển bền vững KCN về kinh tế phải tập trung vào các giải pháp vừa huy động
được các lợi thế sẵn có của nguồn lực và tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
ngày càng tiến bộ và hiệu quả hơn. Cụ thể là: huy động các nguồn lực sẵn có vào phát triển
KCN, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, phát triển KCN phải thực sự thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
1.2.3.2. Bền vững về xã hội
Phát triển bền vững KCN về xã hội là sự phát triển của KCN gắn liền với giải quyết
việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người dân, giảm khoảng cách thu nhập và
trình độ phát triển giữa các vùng, miền và không làm ảnh hưởng đến lợi ích của nông dân
trong quá trình CNH, HĐH.
Với đặc trưng của mô hình sản xuất quy mô lớn, mức độ tập trung và trình độ chuyên
môn hoá cao, KCN hoàn toàn có khả năng đáp ứng được đòi hỏi trên. Tuy nhiên, đi liền với lợi
thế đó, phát triển KCN ở Việt Nam đã và đang lấy đi một diện tích đất canh tác không nhỏ. Thực
trạng trên đã dẫn đến một bộ phận lớn dân cư ở nông thôn rơi vào tình trạng không có việc làm.
Nhờ áp dụng hệ thống máy móc và những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp làm cho năng suất
lao động tăng lên, thu nhập của người lao động kể cả trong lĩnh vực nông nghiệp cũng ngày càng
cao hơn.
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ TỈNH
1.3.1. Tỉnh Bình Dƣơng
Bình Dương là tỉnh thuần nông, công nghiệp và dịch vụ nhỏ bé, gần như chưa có hạ tầng công
nghiệp. Do có điểm xuất phát thấp, nên xây dựng và phát triển KCN là được coi là giải pháp và bước
đi cần thiết để CNH, HĐH nền kinh tế trong tỉnh.
Với phương châm trải chiếu hoa để mời gọi các nhà đầu tư đến nay tỉnh Bình Dương tạo được
sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư. Từ cuối năm 2004, Bình Dương thực hiện chính sách đảm
bảo đời sống cho người dân có đất bị thu hồi thông qua việc hỗ trợ gián tiếp, nghĩa là không
cấp tiền trực tiếp cho dân mà chuyển tiền cho các cơ sở dạy nghề để đào tạo miễn phí cho họ
đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp nhận dạy nghề hay nhận người vào làm việc.
Mặc dù nhiều KCN đã kết hợp với doanh nghiệp trong KCN quan tâm chăm lo đời
sống của người lao động cả về vật chất lẫn tinh thần tuy nhiên, do số lượng lao động lớn nên
Bình Dương cũng chỉ đảm bảo nhà cho 15% số lao động còn lại đại bộ phận người lao động
phải thuê nhà của dân, chủ yếu là nhà tạm với những tiện nghi thấp.
8
1.3.2. Tỉnh Đồng Nai
Do những lợi thế về vị trí địa lý và kết cấu hạ tầng, Đồng Nai là một trong những địa
phương dẫn đầu cả nước về xây dựng KCN và thu hút đầu tư. Đến nay, Đồng Nai đã có 29 KCN
với tổng diện tích là 9.067 ha. Bên cạnh đó, sự phát triển ồ ạt của các KCN đã làm ô nhiễm nặng
nề môi trường sống, điển hình là việc xả trộm chất thải độc hại của công ty VÊ ĐAN trong một
thời gian dài làm ô nhiễm nặng nề dòng sông Thị Vải, phá hại môi trường sinh thái, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống người dân thuộc ba tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và
Thành phố Hồ Chí Minh.
Với những hạn chế của việc phát triển KCN, Tỉnh Đồng Nai đã có những biện pháp
hữu hiệu để giảm bớt tình trạng ô nhiễm môi trường.
Căn cứ quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường, có hiệu lực từ 01/07/2006, khi lấp
đầy 30% diện tích, các KCN phải đưa hệ thống xử lý nước thải tập trung vào hoạt động, các
nhà máy cũng phải có nhà máy xử lý cục bộ trước khi hoạt động. Từ khi có Luật bảo vệ môi
trường và các văn bản dưới luật của Chính phủ có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường
Một là, thường xuyên nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển
KCN.
Hai là, coi trọng xây dựng quy hoạch, kế hoạch, xác định vị trí, địa điểm xây dựng
KCN tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng phát triển bền
vững, bảo vệ môi trường sinh thái, mỹ quan đô thị, tiết kiệm đất nông nghiệp.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng KCN có chất lượng, nhanh chóng hoàn thành đồng bộ
các công trình với chi phí hợp lý nhất, thực hiện chính sách đền bù thoả đáng cho người dân
mất đất.
Bốn là, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN.
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH HẢI DƢƠNG
2.1. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HẢI
DƢƠNG
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và chủ trƣơng phát triển các khu công
nghiệp của tỉnh Hải Dƣơng
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh
Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, ở vị trí có nhiều hướng tác động
mang tính liên vùng, do vậy Hải Dương vừa có cơ hội tạo động lực phát triển vừa phải đối
mặt với các thách thức trong cạnh tranh.
Tỉnh Hải Dương được chia làm hai vùng chính, vùng đồi núi thấp phù hợp xây dựng các
cơ sở công nghiệp, du lịch và trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ. Vùng đồng bằng gồm các huyện
xã có độ cao trung bình 3-4m so với mực nước biển phù hợp trồng cây lương thực, ngắn ngày.
Hệ thống sông dầy đặc thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, phát triển vận tải đường thủy. Dân
10
số chưa phân bố đồng đều giữa thành thị và nông thôn, nguồn lao động dồi dào nhưng phần
lớn là lao động phổ thông, năng suất lao động chưa cao.
2020 cũng là mốc thời gian để tạo dựng hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, đưa Hải Dương trở thành một
tỉnh có nền công nghiệp và dịch vụ phát triển.
Để thực hiện chủ trương trên, tỉnh Hải Dương đã xây dựng, kế thừa và phát huy những kết
quả của quy hoạch cũ, đề ra dự án “Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải
11
Dương đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XVI đã chỉ rõ: Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch trình Chính phủ thẩm định các KCN: Phả
lại, Cộng Hòa - Chí Linh, Nhị Chiểu - Kinh môn và từng bước xây dựng để đến năm 2010
có 10 KCN. Có cơ chế để huy động vốn đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng các khu, CCN đã
quy hoạch và xây dựng một số cụm CN gắn liền với thị trấn, thị tứ. Không để quy hoạch
treo và hạn chế việc phát triển các khu, CCN bám dọc theo đường giao thông chính. Đối
với các khu, CCN nằm sát Thành phố Hải Dương chỉ thu hút các dự án có công nghệ cao,
ít gây ô nhiễm môi trường.
2.1.2. Quá trình xây dựng và phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dƣơng từ
năm 1997 đến nay
Hiện nay, tỉnh Hải Dương đã được Chính phủ cho phép thành lập đến năm 2015 và định
hướng đến năm 2020 là 17 KCN tập trung, với diện tích quy hoạch 3.067 ha, trong đó có 10
KCN đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết KCN với diện tích đất quy hoạch 2.087 ha.
Ngày 22/1/2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chấp thuận bổ sung 10
KCN của Hải Dương vào Danh mục các KCN dự kiến mở rộng và ưu tiên thành lập mới đến
năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Cụ thể là bổ sung 3 KCN: Phúc Điền, Tân Trường và
Việt Hoà - Ken mark vào danh mục các KCN dự kiến mở rộng. 7 KCN được bổ sung vào
Danh mục các KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới gồm: KCN Quốc Tuấn - An Bình; KCN
Kim Thành, KCN Luơng Điền - Ngọc Liên, KCN Bình Giang và KCN Thanh Hà ; KCN
Hoàng Diệu và KCN Hưng Đạo.
2.2. ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH HẢI DƢƠNG TRONG THỜI
GIAN QUA
Trong thời gian qua, số lượng và quy mô của các KCN trên địa bàn tỉnh Hải Dương
ngày càng nhiều. Nếu không có giải pháp tích cực để quản lý môi trường sinh thái sẽ dẫn đến những
hậu quả nghiêm trọng khó có thể khắc phục được. Cho nên việc xây dựng các KCN tập trung sẽ là
giải pháp để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Với định hướng xây dựng các KCN sạch, thân thiện với môi trường nên công tác quản lý về
môi trường trong KCN được chú trọng và chỉ đạo có trọng tam, trọng điểm. Hiện các KCN trong
tỉnh đã có 2 nhà máy xử lý nước thải đi vào hoạt động chính thức, 1 nhà máy chuẩn bị hoạt động.
Đến nay đã có 41/117 doanh nghiệp thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo
vệ môi trường theo quy định khi tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh trong KCN.
Bốn là, tác động tới việc thực hiện các mục tiêu KT-XH của tỉnh. Các KCN đã góp
phần quan trọng trong việc thực hiện những mục tiêu cơ bản mà tỉnh đề ra. Giá trị sản xuất
công nghiệp trong KCN năm 2009 (theo giá cố định 1994) ước khoảng 2.650 tỷ đồng, chiếm
14,7% trên tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.
Các KCN đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ: tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ tăng nhanh từ 37,2% - 28% lên 43,2% - 29,6%, tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp
giảm từ 34,8% xuống còn 27,2%. Cơ cấu lao động trong khu vực nông, lâm, thủy sản - công
nghiệp xây dựng - dịch vụ chuyển từ 82,4% - 10% - 7,6% năm 2000 thành 70% - 16,4% -
13,6%[10, tr.15].
13
Các KCN trên góp phần to lớn vào việc thực hiện các mục tiêu khác như: nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao trình độ khoa học công nghệ, nâng cao trình độ
quản lý của Nhà nước về kinh tế, đặc biệt góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo
Năm là, tác động đến đời sống và thu nhập của dân cư. Sự hình thành và phát triển của
các KCN có ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư trong khu vực như tác động đến số dân cư bị
thu hồi đất để dành cho KCN, tác động đến việc làm và việc kinh doanh của dân cư trên địa
bàn, tác động đến an ninh trật tự trong khu vực Các KCN được hình thành làm cho giá đất
trong khu vực tăng lên, người dân giàu lên do việc bán đất thuộc quyền sử dụng của họ. Cơ
hội kinh doanh của dân cư quanh KCN tăng lên nhờ các dich vụ cho thuê nhà, kinh doanh các
dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí Hơn nữa, các KCN còn cung cấp nhiều loại hàng công
cộng không phải trả tiền cho những hộ dân xung quanh khu vực như đường xá, điện chiếu
tích hơn 4,5 triệu m
2
. Mặc dù lao động nhập cư đến làm việc tại 10 KCN và 33 cọm CN trên
địa bàn tỉnh Hải Dương đang tăng nhanh về số lượng nhưng tiến độ xây dựng nhà ở cho công
nhân tại các KCN này vẫn rất chậm và chưa được quan tâm đúng mức. Mặc dù các KCN của
tỉnh đều có quy hoạch phần đất để xây dựng nhà ở cho công nhân của từng KCN nhưng do cơ
chế quản lý, phương thức huy động nguồn vốn, cơ chế chính sách ưu đãi đối với việc xây
dựng nhà ở cho công nhân chưa cụ thể nên đến nay các dự án chưa phát huy hiệu quả. Cụ thể
là Dự án “Đầu tư xây dựng khu dân cư Đại An”, tại phường Tứ Minh (thành phố Hải Dương)
mặc dù đã xây dựng xong cách đây hai năm nhưng đến nay vẫn chưa có người đến ở. Lý giải
về điều này, các công nhân ở đây cho biết: Giá “ký túc xá” KCN cao hơn so với giá bên ngoài
trong khi mức lương của công nhân chỉ khoảng 1,5 triệu đồng/tháng.
Thứ ba, môi trường sinh thái còn nhiều vấn đề phải quan tâm. Hải Dương là tỉnh có
tốc độ phát triển kinh tế cao, có nhiều KCN và cụm CN tập trung. Tuy nhiên, tình trạng ô
nhiễm môi trường sinh thái là vấn đề hết sức nan giải. Hiện nay các KCN trên địa bàn tỉnh
hầu như đều không có hệ thống nước thải theo đúng quy định mặc dù UBND tỉnh đã có Quyết
định số 1002/QĐ-UBND nêu rõ: Phải hoàn thành toàn bộ các hệ thống xử lý môi trường trong
năm 2008. Hiệu quả xử lý phải được cơ quan chuyên môn đánh giá và cơ quan quản lý xác
nhận đảm bảo tiêu chuẩn cho phép.
Ô nhiễm môi trường xảy ra tại các KCN ngày càng có xu hướng gia tăng bởi vì doanh
nghiệp không mặn mà với việc đảm bảo môi trường mà chỉ quan tâm đến lợi nhuận. Thậm chí
doanh nghiệp còn có thái độ bất hợp tác với chính quyền trong việc thực hiện nghiêm chỉnh
các quy định về môi trường tại KCN.
Thứ tư, việc làm, đời sống và thu nhập của người có đất bị thu hồi cho phát triển các
KCN còn nan giải. Việc thu hồi đất cả đất ruộng lẫn đất ở của nông dân tất yếu dẫn đến việc
chuyển đổi nhà ở và việc làm của họ. Công tác đền bù để giải phóng mặt bằng còn diễn ra
chậm chạp và không thỏa đáng, không công bằng dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ của
người dân mất đất, có rất nhiều trường hợp buộc các cấp chính quyền phải dùng biện pháp
cưỡng chế. Tuy UBND tỉnh đã thực hiện nhiều phương án như: đền bù bằng tiền mặt, chính
sách ràng buộc các KCN sử dụng đất nông nghiệp phải tuyển dụng nông dân vào làm việc
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH
HẢI DƢƠNG
3.1.1. Dự báo phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dƣơng đến năm 2020
Từ năm 2005, tỉnh Hải Dương đã xây dựng và ban hành “Quy hoạch tổng thể phát
triển KT-XH của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006-2020” chỉ rõ mục tiêu tổng quát là phát huy
những thành tựu đã đạt được trong hơn 25 năm đổi mới, nâng cao rõ rệt đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân trong tỉnh, xây dựng cơ sở vật chất KT-XH. Xây dựng Hải Dương trở
16
thành tỉnh có kinh tế phát triển mạnh, đóng vai trò động lực trong vùng đồng bằng sông Hồng.
Đến năm 2020, Hải Dương trở thành một tỉnh có nền kinh tế phát triển, trong đó công nghiệp
và dịch vụ có tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, có nền văn hóa tiên tiến.
Bảng : Dự báo tốc độ tăng trƣởng GDP và cơ cấu khu vực kinh tế
Tốc độ tăng trƣởng GDP (%)
2011- 2015
2016 - 2020
Tổng sản phẩm (GDP)
12
13
1. Nông, lâm ngư nghiệp
3,0
3,3
2. Công nghiệp - Xây dựng
14,5
15
+ Trong đó, công nghiệp
15,5
14,5 - 15
tế trên địa bàn theo hướng tiến bộ và phát triển bền vững.
Ba là, phát triển KCN phải trên cơ sở ổn định sản xuất kinh doanh tạo việc làm và thu
nhập cho người lao động, giải quyết hài hòa lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người dân bị
thu hồi đất để xây dựng KCN.
3.2. GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ
TIÊU CỰC CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI Ở TỈNH HẢI DƢƠNG
17
3.2.1. Hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển các khu công nghiệp
Công tác quy hoạch là vấn đề vô cùng quan trọng. Để hoàn thiện công tác này cần phải
đảm bảo các yêu cầu sau:
Một là, đảm bảo tính khoa học. Quy hoạch là dự báo cho một tương lai tương đối dài
nên phải sử dụng các phương pháp khoa học, đặc biệt là phương pháp mô hình hóa, phương
pháp điều tra khảo sát thế mạnh của từng vùng, nhu cầu đầu tư để khai thác các thế mạnh đó.
Hai là, quy hoạch phải đảm bảo tính mềm dẻo linh hoạt bởi quy hoạch chỉ là dự báo
cho tương lai nên có thể có nhiều nhân tố làm cho thực tế không diễn ra đúng như dự báo. Do
vậy, phải chuẩn bị các phương án điều chỉnh khi cần thiết và không nên coi dự báo là một
mục tiêu bất di bất dịch nhất thiết phải đạt tới.
Ba là, quy hoạch phải đảm bảo tính đồng bộ, gắn quy hoạch phát triển các KCN với quy
hoạch phát triển các khu đô thị, quy hoạch phát triển các công trình hạ tầng ngoài hàng rào.
3.2.2. Chủ động kêu gọi dự án đầu tƣ vào các khu công nghiệp, nâng cao chất
lƣợng đánh giá và thẩm định các dự án khu công nghiệp
- Chủ động kêu gọi dự án đầu tư
+ Thực hiện thống nhất và chủ động công tác vận động, xúc tiến đầu tư vào KCN với
sự tham gia của các Sở, ban, ngành, chính quyền địa phương.
+ Đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương pháp vận động xúc tiến đầu tư.
+ Giải quyết, xử lý và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đang xây dựng hoặc đang
sản xuất kinh doanh.
+ Tỉnh ủy, UBND tỉnh cần dành kinh phí thỏa đáng từ ngân sách tỉnh cho công tác
Để đảm bảo vấn đề việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi để
phát triển công nghiệp cần phải có sự thay đổi về mặt tư duy cũng như phải có cách làm đồng
bộ mới có thể khắc phục những khiếm khuyết của công tác đền bù giải phóng mặt bằng.
Trước hết cần phải tôn trọng lợi ích của dân, bảo đảm hài hòa các loại lợi ích. Sau đó,
cần chú ý rằng mọi hoạt động đầu tư phải mang lại lợi ích xã hội lớn hơn tổng chi phí mà xã
hội bỏ ra và không gây thiệt hại cho bất cứ chủ thể nào trong cộng đồng dù đó chỉ là một
người dân bình thường. Mức cải thiện phúc lợi phải phân bổ rộng rãi đến mọi tầng lớp dân cư,
không để cho một nhóm người nào được hưởng lợi quá lớn.
3.2.4. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các khu công nghiệp
Để tổ chức hoạt động đào tạo lao động nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của
các nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN phải có những giải pháp sau:
Nâng cao nhận thức và thực hiện tốt việc đào tạo nghề cho người lao động để đáp ứng
nhu cầu sản xuất hiện đại trong các KCN
Nhanh chóng xây dựng và phát triển các trường dạy nghề dưới nhiều hình thức như
đào tạo ngắn hạn, đào tạo dài hạn. Khuyến khích và tạo điều kiện để các chủ đầu tư trong và
ngoài tỉnh, doanh nghiệp nước ngoài tổ chức đào tạo lại tại các doanh nghiệp, các trung tâm.
Đầu tư đúng mức cho công tác đào tạo nghề. Cần phát triển mô hình liên kết đào tạo
giữa nhà trường, trung tâm dạy nghề, cơ sở dạy nghề với cơ sở sản xuất để đào tạo theo đơn
đặt hàng, làm cho quá trình đào tạo gắn với yêu cầu của các doanh nghiệp.
19
Có chính sách khuyến khích đào tạo và xây dựng các trường dạy nghề, trung tâm dạy
nghề, cơ sở dạy nghề, khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức các trung tâm dạy nghề. Điều
đó sẽ có lợi cho cả người lao động và doanh nghiệp. Người lao động được học nghề tại chỗ,
và thường được đảm bảo về việc làm sau khi học xong, chi phí về việc học hành cũng được
giảm đến mức tối thiểu vì quá trình học nghề cũng là quá trình tạo ra sản phẩm nên sẽ được
trả lương trong quá trình học nghề. Doanh nghiệp có thể chủ động được nguồn tuyển dụng.
Để nâng cao hiệu quả đào tạo, bổ sung chất lượng nguồn nhân lực, các trường, các trung tâm
và các cơ sở dạy nghề cần có sự liên kết với các cơ sở sản xuất để có sự phối hợp trong công
tác đào tạo và sử dụng lao động khi họ ra trường.
cho công nhân, từng bước thực hiện để đáp ứng nhu cầu thực tế. Quy hoạch KCN cần gắn với
việc xây dựng các đô thị công nghiệp.
Như vậy, việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển các KCN từ đó
phục vụ cho việc phát triển KT - XH phải được giải quyết trên cơ sở hoàn thiện và nâng cấp
hệ thống đào tạo, sự thay đổi nhận thức của người dân, người lao động cũng như từ phía
người sử dụng lao động. Những giải pháp trên phải được thực hiện một cách đồng bộ tạo môi
trường thuận lợi cho các nhà đầu tư để thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh.
3.2.5. Hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm vừa khuyến khích đầu tƣ, vừa đảm
bảo an sinh xã hội ở các khu công nghiệp
Cơ chế thông thoáng, chính sách đúng đắn sẽ tạo động lực cho việc đầu tư phát triển
KCN. Để làm được điều đó cần chú ý:
Trước hết, phải cải cách thủ tục hành chính đối với hoạt động đầu tư vào KCN. Thủ
tục hành chính nhanh chóng, đơn giản là điều tất cả các nhà đầu tư đều mong muốn. Nếu thủ
tục hành chính rườm rà sẽ mất nhiều thời gian và làm mất đi cơ hội kinh doanh của các nhà
đầu tư, trở thành rào cản đối với việc thu hút đầu tư. Do vậy, cần thực hiện cơ chế “một cửa,
tại chỗ” để các thủ tục hành chính được đơn giản hoá đến mức tối thiểu đặc biệt là thủ tục cấp
phép đầu tư.
Giao cho Ban quản lý dự án KCN làm đầu mối giúp UBND tỉnh chủ trì tổ chức thực
hiện và quản lý nhà nước về quy hoạch hệ thống KCN đã được phê duyệt trên địa bàn thành
phố về quỹ đất, về tổ chức triển khai các KCN, về xây dựng hạ tầng đồng bộ ngoài KCN…
Hoàn thiện bộ máy hành chính để loại bỏ sự chồng chéo. Cụ thể hoá chức năng nhiệm
vụ và quyền hạn của từng đơn vị, cơ quan. Phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác chuyên môn, xây dựng cơ sủ dữ liệu chuyên ngành, nghiên cứu thực hiện các dịch vụ
“hành chính công”.
Hai là, hoàn thiện khung pháp lý. Cần rà soát các văn bản pháp lý có liên quan đến
KCN. Kiểm tra lại toàn bộ chính sách liên quan đến thu hút đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm
tìm ra những nội dung không còn phù hợp để đề xuất Chính phủ xem xét, bãi bỏ hoặc sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp. Do vậy, phải có sự kết hợp trong việc xây dựng và ban hành các quy
định đối với sự hoạt động của các KCN. Cần xây dựng một quy trình rõ ràng về sự phối hợp
giữa việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào.
bớt sự quá tải về công việc của Sở Tài nguyên và Môi trường.
Tăng cường đầu tư và trợ giúp cho chủ đầu tư trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng
KCN và những công trình xử lý chất thải của nhà máy, xí nghiệp thuộc KCN bởi việc xây
dựng các cơ sở xử lý chất thải hết sức tốn kém và không thuộc mong muốn của các nhà đầu
tư. Cần có chính sách ưu đãi cho hoạt động môi trường để trang bị những thiết bị chuyên
dùng giám sát môi trường nhằm nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với việc xử
lý môi trường cục bộ tại các xí nghiệp và thực hiện chủ trương “ai gây ô nhiễm, người đó phải
chi trả”. Kiểm soát chặt chẽ việc phát triển các KCN theo đúng quy hoạch, ngăn chặn triệt để
ngay từ đầu không để khu dân cư nằm xen lẫn với các nhà máy công nghiệp, cần chọn lọc và
kiên quyết từ chối đầu tư đối với các dự án sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Tăng cường
22
công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý môi trường để đảm bảo năng lực thực
thi nhiệm vụ. Đồng thời chú trọng việc xây dựng hệ thống quan chắc chất lượng môi trường.
Chú ý công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường đối
với người lao động trong các KCN.
Các cơ quan chức năng đặc biệt là Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh cần khẩn trương
đánh giá tác động về môi trường của từng đơn vị sản xuất cụ thể. Lập “danh sách đen” các
doanh nghiệp có mức độ ô nhiễm vượt tiêu chuẩn môi trường nghiêm trọng, cần có chế tài cụ
thể và nghiêm khắc thậm chí quyết định đình chỉ sản xuất.
KẾT LUẬN
KCN là mô hình tổ chức sản xuất công nghiệp tuy được hình thành sau những năm 50
của thế kỷ XX nhưng đã được nhiều nước trên thế giới xây dựng. Ở Việt Nam, mô hình KCN
được chính thức xây dựng từ năm 1991 trở lại đây.
Đối với Hải Dương, xây dựng và phát triển KCN là một tất yếu khách quan. Các KCN
trên địa bàn tỉnh đã có vai trò to lớn trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước, giải quyết
được một số lượng lớn việc làm cho người lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường
xuất khẩu hàng hóa của địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và tiến
bộ. Tuy vậy, quá trình phát triển KCN cũng bộc lộ rất nhiều hạn chế và bất cập. Việc quy
hoạch các KCN thiếu tính đồng bộ, không khoa học, nóng vội dẫn đến một diện tích lớn đất
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Báo cáo tổng hợp đề án điều chỉnh quy hoạch phát triển
các khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam thời kỳ 2005 - 2020, Tài liệu nội bộ.
3. Chính phủ (1997), Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (ban
hành theo nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của chính phủ)
4. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2008), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương, Nxb Thống
kê, Hà Nội.
5. Trần Thị Dung (2004), “Về việc phát triển các khu công nghiệp tại các khu vực Bắc
bộ”, Thông tin khu công nghiệp Việt Nam.
6. Nguyễn Thành Dũng (2002), “Vai trò khu chế xuất, khu thương mại tự do, đặc khu kinh
tế trước thực trạng toàn cầu hoá kinh tế ngày nay”, Tạp chí phát triển kinh tế, tr.6.
7. Nguyễn Ngọc Dũng (2005), “Một số vấn đề xã hội trong xây dựng và phát triển các
KCN ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu - trao đổi.
8. Lê Tuấn Dũng (2004), “Hướng đi cho phát triển KCN tại một số tỉnh miền núi Bắc bộ”,
Thông tin khu công nghiệp Việt Nam.
9. Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ
XIII, Tỉnh uỷ Hải Dương.
10. Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ
XIV, Tỉnh uỷ Hải Dương.
11. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. GS, TS Đặng Đình Đào (2006), Một số vấn đề phát triển KCN trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội nghị - Hội thảo khoa học quốc gia 15
năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam,
Long An.
24
13. Huy Đào (2005), “Cần có cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp công nghệ cao”, Thông
tin khu công nghiệp Việt Nam.
14. Ngô Văn Điển (6/2000), Các khu công nghiệp và khu chế xuất tại Việt Nam; Thực trạng
và các giải pháp đang áp dụng, Ban Quản lý các khu công nghiệp.
29. Trần Ngọc Hưng (2005), “Thực trạng về lao động trong các KCN ở Việt Nam”, Thông
tin khu công nghiệp Việt Nam,
25
30. Trần Ngọc Hưng (2005), “Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển
các KCN Việt Nam”, Thông tin khu công nghiệp Việt Nam.
31. Phạm Văn Sơn Khanh (2003), “Một số ý kiến về giải pháp quản lý các khu công nghiệp
tỉnh Bình Dương”, Thông tin khu công nghiệp Việt Nam.
32. Võ Thành Lập (2006), “Khu công nghiệp Đồng Nai trong quá trình tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh” Kỷ yếu: 15 năm xây dựng và phát triển
các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam, Nxb Long An.
33. Vũ Chí Lộc, Lê Thị Ngọc Lan (2004), “Kinh nghiệm phát triển các KCN sản xuất hàng
hoá xuất khẩu tại Hàn Quốc và Thái Lan”, Thông tin khu công nghiệp Việt
Nam.
34. Nguyễn Công Lộc (2006), Vai trò của các khu công nghiệp đối với quá trình tăng
trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc, Kỷ yếu: 15 năm xây
dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam, Nxb Long
An.
35. Nguyễn Văn Minh (2004), “Các chính sách ưu đãi của các KCN, KCX và hiệp định của
WTO về trợ cấp và biện pháp đối kháng”, Thông tin khu công nghiệp Việt
Nam.
36. Võ Văn Một (2006), Phát triển các khu công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH tại Đồng
Nai, Kỷ yếu: 15 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở
Việt Nam, Nxb Long An.
37. Minh Ngọc (2005), “Về việc ban hành chính sách ưu đãi đầu tư của địa phương đối với
KCN”, Thông tin khu công nghiệp Việt Nam.
38. Trần Văn Phòng (2007), Nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của các khu công nghiệp
Việt Nam, Luận án tiến sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội.
39. Nguyễn Minh Sang (2004), “Mô hình và kinh nghiệm tổ chức quản lý KCN, KCX ở