Phát huy vai trò văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh lâm đồng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 19

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá là sản phẩm của con người, của cộng đồng người, gắn liền với
cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội, được xác định bao gồm tất
cả các giá trị vật chất và tinh thần, tính cách và lối sống, truyền thống của mỗi
dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội. Nó tồn tại qua thời gian và lưu truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác, thấm sâu vào lối sống của cộng đồng dân cư và trở thành
bản sắc riêng của mỗi dân tộc, quốc gia.
Là quốc gia đa dân tộc thống nhất “nền văn hoá Việt Nam là nền văn hóa
thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái
riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa
Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc…” [20, tr.57]. Những năm gần đây,
vấn đề văn hóa nói chung và văn hóa các DTTS nói riêng được sự quan tâm
nhiều của xã hội. Nhận thức về vai trò quyết định của văn hóa đối với sự phát
triển ở nước ta cũng được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Ngay từ
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã
khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều
sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp
nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Nó vừa
là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vừa là một trong những mục
tiêu của chúng ta. Nhằm bổ sung và hòan thiện tư tưởng được nêu trong Hội nghị
lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 5, khóa VIII, Đảng ta đã đề ra chính sách văn hóa trong kinh tế “Văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội [20, tr.55].
Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển trở thành vấn đề được quan tâm,
nhận thức và vận dụng vào thực tiễn đổi mới ở nước ta. Cùng với phát triển kinh
tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, Đảng ta nhấn mạnh phát triển văn
1
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Xét về mặt lý luận, kinh tế - xã hội phát

các giá trị văn hóa với những bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc để làm
phong phú nền văn hóa chung của cả nước góp phần nâng cao tính thống nhất đa
dạng của văn hóa Việt, đấu tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa để
chia rẽ, phá họai khối đại đoàn kết các dân tộc. Lâm Đồng hiện vẫn còn là tỉnh
nghèo, quy mô nền kinh tế nhỏ; chưa khai thác và phát huy tốt tiềm năng và lợi
thế của tỉnh; chưa phát huy được vai trò động lực của văn hóa đối với sự phát
triển. Thời gian qua, những yếu tố văn hóa bản địa Lâm Đồng mới chỉ được khai
thác phục vụ cho yêu cầu trước mắt, chứ chưa chú ý tới việc nghiên cứu, nhằm
khẳng định và bảo tồn cũng như đề ra các giải pháp phát huy các giá trị văn hóa
phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phục vụ cho phát triển kinh tế du
lịch ở địa phương. Giữ gìn, bào tồn và phát huy các giá trị văn hóa địa các dân
tộc thiểu số ở Lâm Đồng là một trong những nhân tố quan trọng, góp phần nâng
cao chất lượng cuộc sống của người dân bản địa ở nam Tây Nguyên, làm cho
nền tảng tinh thần của xã hội ngày càng vững chắc góp phần phát triển kinh tế -
xã hội.
Xuất phát từ tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển, để đánh giá
đúng vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm đồng đối với sự phát triển
kinh tế- xã hội của tỉnh, phát hiện ra những xu hướng biến đổi và đưa ra những
giải pháp thích hợp, tích cực cho việc bảo tồn và phát huy vai trò của văn hóa bản
địa các dân tộc thiểu số, biến các giá trị văn hóa của các dân tộc bản địa Lâm
Đồng thành tài sản văn hóa góp phần phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội ở địa phương, học viên đã chọn đề tài “Phát huy vai trò văn hóa bản địa đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu
Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, vấn đề văn hóa đã có nhiều học
giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh và góc độ khác nhau. Sau đây là một
số công trình, bài viết cơ bản về văn hóa, văn hóa tộc người.
Những nghiên cứu về văn hóa nói chung có các công trình: “
 (Nxb Chính trị quốc gia. H, 1994) của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng,
trong đó tác giả đề cập đến văn hóa một cách có hệ thống, công trình đã nêu lên

4
Hồ Sĩ Vịnh, "Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới", Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, (1999).
Những nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số và các DTTS ở Tây
Nguyên có các công trình: “ !.+/4!
/4!#”, Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số
7/2000. Đề tài: “0 1$.+/4!
89: --6()”, Luận văn thạc sĩ Triết
học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa.
Ngô Đức Thịnh: “;$+;” (1993)
đã xác định tính không đồng nhất giữa không gian văn hóa Tây Nguyên và
không gian lãnh thổ Tây Nguyên. Các nghiên cứu: “91$
+<” (1996) do Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III
tổ chức và thực hiện; “=(>/? .+/8-
+<” (1995) của Nguyên Hồng Sơn; “.+/+
<@&10 A” (2004) của GS.TS Trần Văn Bính.
Qua điều tra, tổng kết thực tiến, các công trình nghiên cứu này đã đánh giá, phân
tích tương đối toàn diện, khách quan về thực trạng đời sống văn hoá của một số
dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên trong công cuộc đổi mới, đề xuất các giải
pháp vừa cơ bản vừa cấp bách nhằm tiếp tục phát triển đời sống văn hoá các dân
tộc trên địa bàn dưới tác động của quá trình thực hiện sự nghiệp phát huy và bảo
tồn văn hoá dân tộc.
Những nghiên cứu về văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng
có:
B0 .+/8:+C*(1986) do Mạc Đường chủ biên, Sở văn
hóa tỉnh Lâm Đồng xuất bản; “Người Chu Ru ở Lâm Đồng” (2009) do TS
Hoàng Sơn chủ biên, nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc.
Trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn
1996 của tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Phát triển Kinh tế - Văn hóa - Xã hội (Đại
học Đà Lạt) đã tiến hành triển khai đề tài "Văn hóa truyền thống Cơ ho, Mạ", do

Những công trình khoa học, sách báo, tạp chí nêu trên đã khẳng định tầm
quan trọng của việc bảo tồn những giá trị, những di sản văn hóa nói chung và
6
văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số nói riêng trong công cuộc đổi mới. Tuy
nhiên cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về phát huy vai trò
văn hóa bản địa các dân tộc thiếu số Lâm Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của văn hóa
và thực trạng phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng, luận văn dự báo xu hướng biến
đổi và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò văn hóa bản địa
các dân tộc thiếu số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong công
cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Lâm Đồng.
- Làm rõ thực trạng phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Lâm Đồng và những vẫn đề đặt ra.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân
tộc thiểu số thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Lâm đồng trong công
cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Vai trò văn hóa bản địa đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay”.
* Phạm vi nghiên cứu:
Văn hóa là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, đa dạng và phong phú, đề tài
nghiên cứu, làm rõ vai trò của văn hóa bản địa Lâm Đồng đối với sự phát triển

- Đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi của văn hóa bản địa và đề
xuất một số giải pháp phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối
với sự phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Lâm đồng trong giai đoạn hiện nay.
8
* Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Luận văn góp phần củng cố nhận thức lý luận về văn hóa, vai trò văn hóa
bản địa các dân tộc thiếu số Lâm Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, từ
đó góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh
tế, hình thành nên ở mỗi người thái độ đúng đắn, hợp quy luật trong việc giữ gìn,
bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa nói chung và văn hóa bản địa các dân tộc
thiểu số nói riêng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Luận văn còn có thể sử
dụng vào việc nghiên cứu những vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở các tỉnh
Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm có 3 chương 8 tiết:
Chương 1: Vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm
Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - cơ sở lý luận.
Chương 2: Vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm
Đồng đối với phát triển kinh tế - xã hội - thực trạng và vấn đề đặt ra.
Chương 3: Xu hướng biến đổi và giải pháp phát huy vai trò văn hóa bản
địa các dân tộc thiểu số đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng
trong giai đoạn hiện nay.
9
Chương 1
VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ BẢN ĐỊA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1. Quan niệm về văn hóa

giá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong quá trình hoạt động ấy. Một định
nghĩa thỏa đáng về văn hóa cần phải bao hàm tất cả các mặt trên đây" [1, tr.32].
Trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ tổng thể các hiện tượng bao chứa trong khái
niệm phức tạp này, A.I.Ácnônđốp đã đề xuất một định nghĩa khái quát như sau:
"Văn hóa là hoạt động sáng tạo tích cực của con người (cá thể nhóm xã
hội, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung) thực hiện trong các lĩnh vực sản xuất vật
chất và tinh thần, nắm bắt và khai thác thế giới, quá trình này sẽ sản xuất, bảo
quản phân phối, trao đổi và tiêu thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang ý
nghĩa xã hội, đồng thời nó là một tổng hợp chính những giá trị đã vật thể hóa
hoạt động sáng tạo của người" [1, tr.33]. Tuy đến nay đã có hàng trăm định
nghĩa khác nhau về văn hóa song các định nghĩa đều thống nhất chung ở một
điểm chủ yếu là nhấn mạnh đến sự sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn của văn
hóa, là phương thức tồn tại đặc hữu của loài người, khác cơ bản với tổ chức đời
sống các quần thể sinh vật trên trái đất. Mọi thứ văn hóa đều thuộc về con người,
văn hóa là đặc trưng cơ bản phân biệt con người với động vật… Con người sinh
ra từ tự nhiên, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển. Văn hóa trước
hết là sự thích nghi chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, đồng thời lại
là sự phát triển của sự thích nghi ấy.Với tính cách là một sinh vật, con người có
một bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên, nhưng với tính cách là một sinh
vật có ý thức và sống thành xã hội thì con người lại có bản chất thứ hai đó là bản
chất văn hóa, vượt ra khỏi tự nhiên. Như vậy, văn hóa được hình thành và phát
triển trong quan hệ thích nghi giữa con người với thiên nhiên, giữa con người
với con người. Trải qua hàng ngàn năm thích nghi và cải tạo thế giới, những
kinh nghiệm mà con người tích lũy được đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự
11
phát triển của văn hóa. Văn hóa không chỉ bó hẹp trong quan hệ cá nhân gia đình
và cộng đồng mà còn mở rộng trong mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên
thế giới. Văn hóa hình thành trong quá trình tiếp xúc, giao lưu, sàng lọc, cải biến
giữa văn hóa bản địa với những nền văn hóa khác. Do đó, văn hóa bao giờ cũng
thể hiện sự đa dạng, phong phú nhưng luôn mang những nét độc đáo của dân tộc,

phải những thách thức to lớn, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các dân tộc
thiểu số. Vì vậy, UNESCO đã nêu ra định nghĩa về văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh
đến nội dung này nhằm thức tỉnh tinh thần trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong
việc chống xu thế nhất thể hóa văn hóa, hướng tới tôn trọng và bảo vệ những giá trị
văn hóa độc đáo của các quốc gia, các dân tộc:
Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật
chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm
người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và
những tín ngưỡng [42, tr.23].
GS. Phạm Minh Hạc cho rằng: “Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và
tinh thần, do con người, cộng đồng, dân tộc, loài người sáng tạo ra” [38, tr.56].
Như vậy, văn hóa bao gồm cả lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh
thần thể hiện năng lực sáng tạo độc đáo, riêng biệt của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
trong qúa trình vận động và phát triển của mình. Đó là tổng thể sống động các
hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại.
Qua các thế hệ, hoạt động sang tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các
truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc,
với các biểu hiện chính là: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Văn hóa là sự phát
triển năng lực của con người trong quá trình không ngừng nâng cao trình độ làm
chủ của mình đối với tự nhiên, xã hội và bản thân, nhằm thỏa mãn nhu cầu về
tinh thần và vật chất trong hoạt động thực tiễn hướng tới các giá trị nhân văn.
Chính lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó. Trên hành
tinh này không có gì quý hơn con người. Con người vừa là chủ thể, vừa là sản
phẩm của văn hóa. Điều đó được phản ánh rõ nét qua những đặc trưng và chức
năng của văn hóa, gồm:
13
- Một là, văn hóa có tính hệ thống. Nhờ có tính hệ thống chúng ta hiểu
được văn hóa không phải là tập hợp, là phép cộng đơn thuần những hiện tượng
văn hóa mà văn hóa tồn tại với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động

trị tinh thần còn bao gồm các tư tưởng có giá trị sử dụng (khoa học, giáo dục…),
trong đó có cả bản thân cách thức sáng tạo ra các giá trị mà qua kinh nghiệm
ngàn đời, con người đã tích lũy được. Theo nghĩa này, văn hóa có thể được xem
như một dạng hoạt động. Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ có tính chất tương đối,
bởi ngay trong sản phẩm vật chất cũng luôn bao hàm trong đó cả những giá trị
tinh thần.
Đồng thời, dựa vào tính giá trị chúng ta còn có thể phân biệt văn hóa với
hậu quả của nó hoặc những hiện tượng phi văn hóa, loại ra những cách hiểu quá
rộng, quy về văn hóa mọi hoạt động của con người. Theo thời gian có thể phân
biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Trong các giá trị nhất thời lại có thể
phân biệt O,Q),  và . Nhờ
thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được M quan
trọng thứ hai của mình là M FNO/, giúp cho xã hội duy trì
được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng
với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát triển. Từ
việc điều chỉnh xã hội, văn hóa còn có M2/$>,(
R% FMNS?() và M$4,/
,4$?NO/. Không phải ngẫu nhiên mà UNESCO nhấn mạnh
rằng văn hóa chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của phát triển.
- Ba là, hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ,
nên văn hóa có tính lịch sử. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều
sâu và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và
phân bố lại các giá trị.
Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa, đó là
những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới
những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua
không gian và thời gian và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập
quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận… Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo
15
dục. HM.Tlà chức năng quan trọng thứ ba của văn hóa. Nhưng

xã hội, thiết chế xã hội, phong tục, tín ngưỡng, tri thức… và những kinh nghiệm
được tích lũy trong quá trình lao động sản xuất. Tất cả những yếu tố đó, có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Là sản phẩm sáng tạo của con người, nhưng văn hóa lại chi phối toàn bộ
hoạt động của con người. Văn hóa là “hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng
lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện, xa rời
trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật phát triển thành con người. Con
người tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng
thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con người và xã hội loài người càng phát triển
thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao. Đáp ứng nhu cầu văn hóa
tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho
con người và xã hội” [2].
Dù ở thời kỳ nào, ở quốc gia nào còn người cũng đều đóng vai trò quyết
định đôi với quá trình sản xuất, mà con người trước hết lại là một thực thể văn
hóa. Thực tiến đã chứng minh, sự phát triển của mỗi quốc gia không phải chỉ ở
tài nguyên thiên nhiên giàu có, đa dạng mà quyết định là ở sự sáng tạo, trí tuệ, tài
năng, đạo đức của con người, ở trong hàm lượng và sự phân bố tài nguyên tri
thức trong cơ cấu sản xuất. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu
cuối cùng là văn hoá. Trong mỗi chính sách kinh tế - xã hội luôn bao hàm nội
dung và mục tiêu văn hoá. Văn hoá có khả năng khơi dậy tiềm năng sáng tạo của
con người - nguồn nhân lực quyết định sự phát triển xã hội. Điều đó cho thấy,
văn hóa và kinh tế có quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, kinh tế vừa đảm
bảo cho những nhu cầu sinh tồn của con người, vừa tạo điều kiện cho văn hóa
phát triển. Kinh tế không thể phát triển nếu không có một nền tảng văn hóa, còn
văn hóa không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến sự phát triển
kinh tế. Nói cách khác, sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc có năng động,
hiệu quả, bền vững hay không phụ thuộc vào sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế và
văn hóa.
Chính vì vậy, trong lễ phát động Thập k‰ thế giới phát triển văn hóa (1987
- 1997) Tổng thư ký UNESCO đã nói: BVW(AT<

khôn ngoan tích lũy được trong quá trình học tập, lao động, đấu tranh để duy trì,
18
phát triển cuộc sống của con người; đó là hệ giá trị và chuẩn mực xã hội truyền
thống, đã được đúc kết từ trong lịch sử dân tộc, quốc gia, tạo nên bản sắc văn
hoá, là những nét riêng để phân biệt với các dân tộc khác, quốc gia khác. Bản sắc
dân tộc đó hình thành nên bản lĩnh tinh thần của cộng đồng dân tộc, của mỗi
quốc gia và hình thành nên niềm tin, lý tưởng chung của cộng đồng, được chắt
lọc kế thừa phát huy và phát triển qua các thế hệ. Được vật chất hóa trong cấu
trúc thiết chế chính trị - xã hội và trong hoạt động sống để dân tộc đó, quốc gia
đó hướng tới. Điều đó cho thấy, khả năng phát triển của dân tộc không đơn thuần
chỉ dựa vào cơ sở vật chất mà cơ bản và chủ yếu là ở khả năng phát huy nguồn
lực của con người. Quan hệ giữa kinh tế và văn hóa được chỉ rõ trong Nghị
quyết Trung ương V khóa VIII: “Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục
tiêu cuối cùng là văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển
toàn diện, nhưng văn hóa không chỉ là kết quả của kinh tế mà còn là và phải là
động lực của sự phát triển kinh tế” [20, tr.55]. Xét cho cùng, mọi sự phát triển
đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng
cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càng
phát triển, tiến bộ. Với vai trò là mục tiêu của sự phát triển, văn hoá hướng vào
sự hoàn thiện của con người, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa người với người
bằng giá trị và chuẩn mực xã hội, bằng văn hoá. Văn hóa thúc đẩy, sự hoàn thiện
của con người cả về thể lực trí lực và nhân cách. Sự điều tiết đó phải hướng tới
mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, vì hạnh phúc của con người: nối dài
cuộc sống, an sinh xã hội, điều tiết sự công bằng xã hội. Một xã hội phát triển
cuối cùng sẽ dẫn đến một xã hội có văn hóa cao, tức là xã hội phải đảm bảo được
một cuộc sống đầy đủ, phong phú, giải phóng được mọi tiềm lực tuy duy và sáng
tạo, phát huy được mọi giá trị đạo đức. Bởi sự phát triển là nâng cao chất lượng
cuộc sống của con người trong sự kết hợp hài hòa trong điều kiện vật chất và
tinh thần.
Bản chất văn hóa là phát triển, là sáng tạo, nên văn hóa còn đóng vai trò

vì mọi người. Do vậy, văn hóa không chỉ phát huy mặt tích cực mà còn khắc phục
mặt hạn chế của các điều kiện chủ quan, khách quan, cũng như các điều kiện bên
20
trong và bên ngoài đảm bảo cho sự phát triển hài hòa, ổn định bền vững của xã
hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Như vậy, văn hóa không thể thiếu vắng trong động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội. “Văn hoá, với sự thẩm thấu lẫn nhau cả vật chất lẫn tinh
thần, cả quá khứ - hiện tại và tương lai, cả truyền thống và hiện đại, cả tinh thần,
bản sắc dân tộc với tinh hoa nhân loại, tinh thần và xu thế của thời đại, đó chính
là động lực của phát triển và phát triển bền vững” [4]. Với tư cách là tổng thể các
giá trị vật chất và tinh thần, trong đời sống xã hội văn hóa luôn luôn can thiệp
vào các quá trình xã hội thông qua sự đánh giá của tất cả các chủ thể xã hội, từ
các cá nhân riêng lẻ đến toàn bộ cộng đồng. Văn hóa là sự biểu hiện của cách
thức mà con người tồn tại, là tổng thể những giá trị mà con người đã, đang và sẽ
tạo ra, nên văn hóa không chỉ chi phối, tác động mà còn có khả năng quy định sự
phát triển của xã hội. Những bài học kinh nghiệm từ những thập k‰ qua trên toàn
thế giới đã chỉ ra rằng những phương thức phát triển nào có tính đến yếu tố văn
hóa địa phương và dân tộc thường có khả năng thành công và ổn định cao hơn.
1.2. Vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm Đồng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh
Nếu như văn hóa dân tộc là cội nguồn của nội lực quốc gia và nó gắn bó
mật thiết với cuộc sống của con người, có vai trò rất quan trọng trong việc
quyết định tính dân tộc cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội, thì văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm Đồng là một bộ phận và là
nét đặc trưng trong văn hóa Việt, nó không chỉ góp phần tạo nên tính đa dạng
phong phú cho bản sắc văn hóa Việt mà còn có vai trò hết sức quan trọng. Vì
trình độ nhận thức, thưởng thức văn hóa, giữ gìn, phát huy vai trò văn hóa của
các tộc người bản địa không chỉ ảnh hưởng đến địa phương nơi họ cư trú mà còn
ảnh hưởng đến toàn bộ công cuộc xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội. Ở đây đề tài dùng từ B23là để chỉ bộ phận cư dân gốc,

và khai thác rừng như là nguồn bổ sung cho đời sống
(1)
. Rẫy của đồng bào dân
(
1)
. Phần lớn cư dân tộc người Chu ru trồng lúa nước, còn phát rừng làm rẫy cũng là một hoạt động
quan trọng, những đây chỉ là một hình thái kinh tế phụ [67, tr.26].
Trong tộc người K’Ho thì nhóm người Srê, người Lạt…phương thúc canh tác chính là ruộng nước
[34].
22
tộc bản địa là rẫy đa canh tức là vừa trồng cây lương thực vừa trồng cây thực
phẩm. Lương thực chính của các dân tộc này là lúa, bắp; thực phẩm thường là
một số loại rau, đậu trồng quanh nhà hoặc bên rẫy xen với lương thực, ngoài ra
một số rau, măng rừng cũng được họ hái về sử dụng trong mùa giáp hạt… Chăn
nuôi với đồng bào bản địa cũng là một hoạt động hỗ trợ đắc lực cho trồng trọt và
các hoạt động văn hóa phi vật thể khác. Các vật nuôi thường là: trâu, heo, dê,
ngựa, gà, vịt trong đó trâu, ngựa được nuôi chủ yếu để dùng làm sức kéo còn
các loại gia súc, gia cầm khác được dùng vào các nghi lễ của cộng đồng, nghi lễ
vòng đời và nhất là nghi lễ nông nghiệp. Kỹ thuật chăn nuôi của đồng bào chủ
yếu là theo kiểu nửa thả rông. Bên cạnh kinh tế sản xuất, đồng bào còn có kinh tế
chiếm đoạt biểu hiện chủ yếu là hái lượm và săn bắt, trong đó săn bắn giữ vị trí
quan trọng trong đời sống của họ nhất là vào những năm mất mùa hay là vào
những tháng giáp hạt.
Công cụ sản xuất của các cư dân bản địa Lâm Đồng, còn thô sơ nhưng có
kiểu dáng phù hợp với sự di chuyển trên núi cao, trong rừng rậm. Đồ sắt phổ
biến có: rìu, xà gạc - một loại dao lưỡi dài, cong, có cán bằng gỗ hoặc tre, cong ở
ngay chuôi dao để tiện mắc vào vai khi di chuyển, cán khá dài để tiện việc chặt
phát cành cao. Dụng cụ đào, xới thường là cuốc chim có thể dùng cả hai đầu;
dụng cụ chọc lỗ là một cây gỗ dài vừa tay nắm, có đầu nhọn bịt sắt hoặc không;
dụng cụ vận chuyển chủ yếu là gùi đeo sau lưng, được đan bằng tre hoặc mây

họ chiếc riu, xà gạc, cây chọc lỗ, chiếc cuốc xới cỏ là những công cụ đã tồn tại từ
bao đời nay, nên họ không quan tâm đến việc cải tiến nó. Phương thức sinh hoạt
kinh tế truyền thống của các tộc người bản địa tuy có vai trò quan trọng trong
việc đảm bảo cho sự sinh tồn dù còn ở mức độ thấp, nhưng nó phản ánh đúng
tính chất, trình độ thấp của lực lượng sản xuất.
Sống trong mối liên hệ mật thiết với môi trường tự nhiên qua nhiều đời,
nhạy cảm với những thay đổi thời tiết hàng năm, các tộc người bản địa Lâm
Đồng đã tích cóp được những M về thiên nhiên tuy mới chỉ dừng lại dưới
dạng kinh nghiệm dân gian, song nó có vai trò quan trọng đến sự ổn định cuộc
sống của họ và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở địa phương. Đó là hệ
thống tri thức bản địa có ích trong việc xác định các vấn đề, cũng như việc chế
24
định các giải pháp nhằm tác động một cách hữu ích vào môi trường sinh thái.
Bằng kinh nghiệm sống, bằng những hiểu biết về tự nhiên, về khí hậu, người dân
các tộc người bản địa đã biết lựa chọn cho mình phương thức canh tác dựa vào
tự nhiên, khai thác tự nhiên và cao hơn nữa là vừa khai thác, vừa bảo tồn và tái
tạo tự nhiên, dưới hình thức “luân canh”. Mộtphương thức tìm thấy thức ăn từ
rừng và nuôi rừng một cách khôn ngoan đã được tích lũy và thử thách hàng
nghìn đời [59]. Để sinh tồn người dân các tộc người bản địa Lâm Đồng một mặt
tiến hành sản xuất dựa vào khả năng nhận biết tự nhiên, đoán định thời tiết (lúc
nào mưa sớm, lúc nào mưa muộn) để gieo trồng, thậm chí họ còn biết trồng gối
để tận dụng độ ẩm trong đất sau khi kết thúc mưa, với các loại cây trồng phù
hợp, có khả năng thích ứng như, trồng các loại cây lương thực như: bắp, khoai,
lúa và các loại rau; trồng các loại cây công nghiệp như: chè, cà phê… Nuôi
những vật nuôi đã qua chọn lọc tự nhiên, có khả năng chịu được thời tiết và có
khả năng sinh sản tốt, và biết khai thác hiệu quả các sản phẩm từ thiên nhiên, để
phục vụ mưu sinh, ổn định cuộc sống.
- Cư trú và nhà ở của các tộc người bản địa Lâm Đồng rất phong phú và
đa dạng nhưng đều có những đặc điểm dễ nhận thấy đó là: Các tộc người bản địa
Lâm Đồng thường cư trú ở những nơi thuận tiện về nguồn nước, gần chân núi,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status