Tác động của các khu công nghiệp đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh hưng yên - Pdf 10



Tác động của các khu công nghiệp đến sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên

Trần Tiến Dũng

Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng Giảng viên LLCT
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: TS. Đinh Quang Ty
Năm bảo vệ: 2007

Abstract: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về khu công nghiệp (KCN) và bước đầu
nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn trong nước về việc hình thành, phát triển các KCN.
Khảo sát quá trình hình thành, phát triển và phân tích những tác động chủ yếu đến phát
triển kinh tế - xã hội ở Hưng Yên giai đoạn 1997 - 2005. Đề xuất một số định hướng và
giải pháp về sửa đổi, hoàn thiện văn bản pháp quy, cơ chế, chính sách phát triển của tỉnh;
giải pháp về quy hoạch và kêu gọi đầu tư; có chính sách và biện pháp phù hợp để quản lý
các KCN theo hướng phát triển bền vững.

Keywords: Hưng Yên; Khu công nghiệp; Kinh tế; Phát triển kinh tế Content
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất được ở Việt Nam được bắt đầu đặt ra
từ năm 1986. Đây là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ Đại hội lần thứ VII của Đảng, tiếp đến Đại hội
VIII và IX, định hướng chiến lược xây dựng và phát triển các khu công nghiệp đã được triển
khai trong cả nước, từng bước được bổ sung, hoàn thiện và chứng tỏ tính đúng đắn qua sự kiểm

Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Ngọc Hưng, với đề tài “Các giải pháp hoàn thiện và phát
triển khu công nghiệp ở Việt nam”;
Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Tuyển Cử (thực hiện năm 2004), với đề tài “Những biện
pháp phát triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp ở Việt nam”;
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Xuân Hinh (thực hiện năm 2003), với đề tài “Quy
hoạch và phát triển khu công nghiệp Việt nam trong thời kỳ đổi mới”;
Sách chuyên khảo “Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực pháp lý quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất” của Trương Thị Minh Sâm,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004;
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Thu Hương về đề tài “Hoàn thiện công tác xúc tiến đầu
tư nhằm phát triển các khu công nghiệp ở Việt nam”;
Các bài viết “Khu chế xuất, khu công nghiệp với cơ hội đầu tư ở Việt Nam”, đăng trên
Tạp chí Kinh tế và Dự báo của TS Phạm Quang Châu; và “Đầu tư vào Hưng Yên - tiềm năng và
cơ hội”, đăng trên Tạp chí Kinh tế - Hội nhập của tác giả Hà Thuỷ; v.v…
Các công trình nói trên có giá trị tham khảo rất bổ ích đối với tác giả luận văn, tuy nhiên chưa
đi sâu vào việc đánh giá, phân tích tác động của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh Hưng Yên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ tác động của các khu công nghiệp hiện có ở tỉnh Hưng Yên đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy và nâng cao tác dụng của các khu công
nghiệp của tỉnh Hưng Yên theo hướng có hiệu quả hơn trong giai đoạn sắp tới.
Để đạt được mục đích trên, luận văn đã tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về khu công nghiệp và một số kinh nghiệm thực
tiễn trong nước về việc hình thành, phát triển các khu công nghiệp;
- Tập hợp, xử lý, phân tích các tài liệu, các số liệu thống kê để làm rõ những tác động chủ
yếu của các khu công nghiệp hiện có ở tỉnh Hưng Yên đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,
những mặt được, chưa được và các nguyên nhân tương ứng.
- Làm rõ căn cứ khoa học và thực tiễn trong việc xây dựng các giải pháp.


Hưng Yên trong giai đoạn 2006 - 2010 và đến năm 2020. Chương 1
khu công nghiệp: một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong nước
1.1. Khu công nghiệp nhìn dưới góc độ lý luận
1.1.1. Một số khái niệm có liên quan
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II vào những năm của thập kỷ 60, từ những thay đổi
trong môi trường kinh tế, kỹ thuật của nền kinh tế toàn cầu, xu hướng toàn cầu hóa diễn ra với
quy mô và tốc độ ngày càng lớn, đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư.
Với mục đích chuyển mạnh nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài,
tạo công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý tại các nước
đang phát triển; mô hình khu chế xuất được thành lập nhằm tạo ra một khu vực chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của nước sở tại. Đây chính là điểm
gặp nhau về nhu cầu phát triển kinh tế của các nước phát triển và các nước đang phát triển. Tuy
nhiên, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, không phải tất cả các khu chế xuất tại các
nước đều hoạt động thành công. Nhận thức được những hạn chế của mô hình khu chế xuất và để khắc phục, nhiều nước đã chuyển sang xây dựng một loại hình khác năng động và uyển chuyển
hơn - đó là khu công nghiệp (KCN). Với mô hình này, thị trường trong nước được tính đến như
là một yếu tố hấp dẫn; đây là yếu tố kích thích cạnh tranh, nâng cao khả năng sản xuất, cùng với
những điều kiện kinh doanh dễ dàng hơn nên mô hình kinh tế KCN cũng được các nhà đầu tư
trong nước đặc biệt quan tâm.
Đối với Việt Nam, chủ trương xây dựng và phát triển KCN, khu chế xuất đã được Đảng
và Nhà nước ta đề ra trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng lý luận chung, kinh nghiệm của các nước
trong khu vực và xuất phát từ thực tiễn nước ta. Về khái niệm KCN và một số thuật ngữ có liên
quan, đã được quy định tại Nghị định số 36/NĐ-CP; theo đó: "Khu công nghiệp là khu tập trung
các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho
sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ

biệt, là điều kiện, tiền đề tiên quyết đối với việc hình thành và phát triển các hoạt động, các mối
quan hệ ở trong KCN và ngoài vùng. Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các nhóm chức năng như
hành chính, chính trị, thương nghiệp, dịch vụ các loại, văn hóa xã hội, giáo dục đào tạo, dạy
nghề, các cơ sở nghỉ ngơi giải trí, với mục đích đảm bảo cho nguồn lao động được cung ứng
dồi dào, có chất lượng và bền vững. Đặc biệt, rất cần những thiết chế văn hóa, để đáp ứng nhu cầu đa dạng cho cuộc sống của những lao động, đồng thời giải quyết tốt những vấn đề xã hội. Do
vậy, quy hoạch xây dựng KCN, phải đồng bộ với quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng
nhu cầu phục vụ hiện tại và tính đến tương lai.
Chất lượng của các nguồn lực bên trong khu công nghiệp
Trình độ khoa học công nghệ: Thực tiễn, việc tiếp nhận những thành tựu khoa học - công
nghệ trong các KCN, có nhiều ưu thế hơn so với các đơn vị sản xuất, kinh doanh khác. Do vậy,
các KCN phải là nơi tiếp nhận và ứng dụng có hiệu quả thành tựu của khoa học - công nghệ,
kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản lý của quốc tế vào quá trình sản xuất. KCN phải là nơi tiếp
nhận công nghệ mới, tập trung ngành nghề mới; những lĩnh vực mà các nước đang phát triển rất
yếu kém cần khuyến khích phát triển. Đây là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện hội nhập
kinh tế quốc tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ công nghệ, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trình độ, cơ cấu nguồn nhân lực: Khi lựa chọn đầu tư tại KCN, các nhà đầu tư đặc biệt
quan tâm đến khả năng cung cấp lao động. Họ thường xem xét trên các khía cạnh như: số lượng,
chất lượng, giá cả và các quy định của nhà nước về lao động, Tuy nhiên, việc sử dụng lao động
của các doanh nghiệp KCN hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ công nghệ, ngành nghề sản xuất,
của bản thân các doanh nghiệp đó. Trong quá trình phát triển, khi các lợi thế so sánh dần mất đi,
các doanh nghiệp KCN sẽ áp dụng những công nghệ tiên tiến, sử dụng lao động có trình độ cao.
Điều này đặt ra cho hệ thống đào tạo, yêu cầu phải nâng cao chất lượng, cung ứng kịp thời nguồn
nhân lực chất lượng cao phù hợp với sự phát triển của các doanh nghiệp.
Cơ chế quản lý, những chính sách đầu tư, ưu đãi
Cơ chế quản lý các khu công nghiệp: Một trong những điểm được các nhà đầu tư trông
chờ tại các KCN là độ thông thoáng, linh hoạt về các thủ tục hành chính so với khu vực khác

nước ngoài và công nghiệp phụ trợ trong nước có tính tương hỗ hai chiều và chỉ có thể phát triển
bền vững trên nguyên tắc "đôi bên cùng có lợi". Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, dù đặt cơ
sở sản xuất ở đâu, cũng đều cần một lượng lớn các yếu tố đầu vào. Rõ ràng là, nếu có thể sử
dụng các yếu tố này ở ngay nền kinh tế nước sở tại, thì họ sẽ giảm được đáng kể chi phí sản xuất.
Đối với lợi ích của nước chủ nhà: trước hết, mối liên kết với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
làm tăng sản lượng và việc làm của các nhà cung ứng địa phương. Thêm vào đó, những ảnh
hưởng gián tiếp có thể còn quan trọng hơn. Các liên kết có thể trở thành những kênh có sức
mạnh cho việc nhân rộng tri thức và kỹ năng giữa các công ty; đồng thời có thể kích thích hiệu
quả, tăng năng suất, năng lực công nghệ và quản lý, đa dạng hoá thị trường cho nhà cung ứng.
1.2.2. Tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực: Khu công nghiệp là môi trường tốt
nhất để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ lâu dài cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do
áp lực phải sản xuất ra các mặt hàng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, các nhà đầu tư buộc phải quan tâm
đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, đội ngũ cán bộ quản lý. Vì thế, người lao động sẽ
có cơ hội để tiếp thu tốt nhất công nghệ sản xuất hiện đại, công nghệ quản trị tiên tiến. ở đó,
nguời lao động biết cần phải tự giác tham gia vào quá trình đào tạo, tự đào tạo lại để luôn thích
ứng với yêu cầu phát triển của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, đây là địa điểm thuận lợi để đào tạo
nguồn nhân lực mới có chất lượng cao; là tác động cơ bản, động lực mạnh mẽ, góp phần thực
hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2.3. Tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn: Các khu
công nghiệp góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, đóng góp ngày càng lớn cho ngân
sách nhà nước. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu, sang cơ cấu kinh
tế công nghiệp và dịch vụ, với tỷ trọng các ngành công nghiệp và xây dựng ngày càng tăng. Góp
phần làm chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
các doanh nghiệp tư nhân tại các KCN với sự tăng trưởng mạnh, năng động, hiệu quả đã tạo nên
sức cạnh tranh mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự mở rộng thị trường, tạo thế và lực mới cho nền kinh
tế, Góp phần quan trọng vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, với kết cấu hạ tầng kỹ
thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, các KCN thường có khả năng chuyển nhanh các khu vực thuần
nông, trở thành một thành phố công nghiệp với kết cấu hạ tầng phát triển nhanh và ổn định.
1.2.4. Tác động đến môi trường: Khu công nghiệp là nơi tập trung các doanh nghiệp
công nghiệp, do đó có điều kiện tập trung các chất thải để xử lý, góp phần khắc phục tình trạng

trong phối hợp. Tám là: Cần kết hợp giữa khâu cấp phép và thanh tra, giám sát KCN theo hướng
giải quyết việc cấp phép nhanh gọn, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các nhà đầu tư; đồng thời tăng
cường công tác thanh tra, giám sát nhằm đảm bảo hoạt động của các doanh nghiệp lành mạnh,
đúng pháp luật. Chín là: Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, gồm cả cán bộ
quản lý KCN và cho người lao động.
Từ những vấn đề đã trình bày, phân tích ở chương 1, có thể đi tới kết luận: Vấn đề xây
dựng và phát triển các KCN ở nước ta được đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Trong giai đoạn 1991 - 2006, các KCN trong cả nước đã đạt được những thành tựu
quan trọng, có tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Bên cạnh
những thành công, thực tiễn phát triển các KCN thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế. Để
đảm bảo tính hiệu quả, bền vững của các KCN, hạn chế những tác động tiêu cực đến sự phát
triển kinh tế - xã hội, trong thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, rút kinh
nghiệm, tìm được những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển năng động của mô hình kinh tế
này, phát huy những ảnh hưởng tích cực của nó đến phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chương 2
Các khu công nghiệp hiện có tại tỉnh hưng Yên - lịch sử hình thành, phát triển
và những tác động chủ yếu của chúng
2.1. Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp tại tỉnh Hưng Yên
2.1.1. Tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hưng Yên - môi trường đầu tư của các khu công
nghiệp
Tỉnh Hưng Yên được thành lập năm 1831 (năm Minh Mạng thứ 12). Năm 1968, Hưng
Yên và Hải Dương được hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng; sau đó lại được tách ra, và tái lập vào
ngày 01 tháng 01 năm 1997. Nằm ở giữa vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, Hưng Yên là cửa
ngõ phía đông của Hà Nội, có 23 km quốc lộ 5A và trên 20 km tuyến đường sắt Hải Nội - Hải
Phòng chạy qua; ngoài ra còn có quốc lộ 39A, quốc lộ 38 nối từ quốc lộ 5 qua thị xã đến quốc lộ


XV và Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh hợp tác đầu tư giai đoạn 2001 - 2005 tiếp tục khẳng
định đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh ngoài là nguồn vốn quan trọng để phát triển sản xuất, tạo
việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo điều kiện để chủ động hội nhập. Tỉnh đã dành các vị
trí thuận lợi nhất để quy hoạch 6 KCN: Như Quỳnh A, B; Phố Nối A, B; Minh Đức, Thị xã
Hưng Yên.
2.2. Tác động của các khu công nghiệp trên thực tế đến phát triển kinh tế - xã hội ở
tỉnh Hưng Yên trong những năm gần đây
2.2.1. Thực trạng của các khu công nghiệp hiện có
2.2.1.1. Về quy hoạch, địa điểm, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội
a) Quy hoạch, địa điểm các khu công nghiệp: Dựa trên những điều kiện thuận lợi chung
về địa lý, các KCN của tỉnh nhìn chung được quy hoạch tương đối hợp lý, đặt ở vị trí thuận lợi;
đa số các KCN hiện có được đặt trên trục quốc lộ 5, có vị trí cách Hà Nội tối đa không quá 40
km; cách các cảng Biển, sân bay lớn của khu vực không quá 100km. Có quy hoạch gắn liền với
ngành nghề được phép đầu tư và thực hiện quy hoạch khá chặt chẽ. Bên cạnh những thành công
ban đầu các KCN hiện có hiện đang tồn tại một số mặt còn hạn chế. Trong quy hoạch chưa chú
trọng đến bảo vệ môi trường và cơ sở hạ tầng xã hội; cũng như đấu nối cơ sở hạ tầng kỹ thuật
bên trong với bên ngoài hàng rào. Về tổng thể 5/6 các KCN chủ yếu tập trung trên địa bàn các
4/10 huyện thị; thể hiện sự thiếu cân đối, hài hòa. Hiện vẫn tồn tại tình trạng sử dụng đất trồng
lúa, có khả năng sản xuất nông nghiệp vào xây dựng KCN. Đặc biệt, tình trạng "quy hoạch chạy
theo doanh nghiệp" là một trong những nguyên nhân chính, gây nên sự thiếu đồng bộ trong việc
bố trí các KCN gắn với quy hoạch kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội và bảo vệ môi trường. b) Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Hưng Yên hiện được đánh giá cao bởi chính sách phát triển
cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp, nông nghiệp, theo mô hình liên kết và tương tác chặt chẽ.
Sau gần 10 năm tái lập và phát triển mô hình kinh tế các KCN, cơ sở hạ tầng các KCN đã có
những bước cải thiện đáng kể.
Quy hoạch đường trong các khu công nghiệp: Hệ thống đường giao thông đầy đủ bao
gồm hệ thống đường nội bộ và đường trục chính vào KCN đảm bảo giao thông an toàn và thuận
tiện.

- 02 KCN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: Khu công nghiệp Phố Nối A, quy mô
390ha, đã cho thuê 169.2 ha; tỷ lệ lấp đầy đạt 62%. Khu công nghiệp Phố Nối B, quy mô 95ha;
giai đoạn I diện tích 20ha, đã cho thuê 15 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 75%; hiện đang chuẩn bị đầu tư
giai đoạn II. Bên cạnh đó KCN Phố Nối B - Thăng Long II, đang được tiến hành với 200ha, vốn
đầu tư 51 triệu USD, do chủ đầu tư trong nước liên doanh với tập đoàn Sumitomo - Nhật Bản,
hứa hẹn sẽ thu hút được các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với quy mô lớn.
- 02 KCN trực thuộc tỉnh: Khu công nghiệp Như Quỳnh A với diện tích 50ha, Như Quỳnh
B với diện tích 45ha, đã được tỉnh quy hoạch, tuy chưa có quy hoạch chi tiết và chưa có chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; nhưng do có nhiều lợi thế, từ năm 1996 đến năm 2003 đã cơ bản lấp
đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê với tỷ lệ 97%.
- Các KCN Minh Đức đã tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng và đã chính thức cho thuê với
tổng số diện tích 61 ha; KCN thị xã Hưng Yên đang tiến hành đền bù, giải phóng mặt bằng, thiết
kế, xây dựng.
Khi xem xét tỷ lệ lấp đầy các KCN hiện có tỉnh Hưng Yên, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ lấp
đầy của các KCN tỉnh Hưng Yên đạt tỷ lệ trung bình 64% so với tỷ lệ 50% của cả nước là tương
đối cao.
b) Tình hình thu hút đầu tư, của các khu công nghiệp hiện có
Về số lượng dự án đầu tư trong các khu công nghiệp: Tính đến hết ngày 31/12/2006, toàn
tỉnh hiện có 508 dự án có vốn đầu tư trong nước, trực tiếp từ nước ngoài với tổng số vốn đầu tư
đã đăng ký là 20.359 tỷ đồng và 435 triệu USD. Số dự án đăng ký đầu tư tại các KCN là 135 dự
án với 44 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm tỷ lệ 37,6% số dự án toàn tỉnh, thấp hơn so với
khu vực ngoài KCN.
Về tổng số vốn đăng ký đầu tư, tổng vốn đầu tư đã thực hiện trong các khu công nghiệp:
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước đạt 7.140 tỷ đồng, chiếm 35,1%; tổng vốn đầu
tư thực hiện đến hết năm 2006 đạt 4.558 tỷ đồng, chiếm 49,7%; tỷ lệ tổng số vốn đăng ký đầu
tư/tổng vốn đầu tư đã thực hiện đạt 63,8% (so với khu vực ngoài KCN đạt 34,9%). Khu vực
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 283,4 triệu USD, chiếm 65,1%; tổng vốn đầu
tư thực hiện đến hết năm 2006 đạt 153,8 triệu USD, chiếm 81,1%; tỷ lệ tổng số vốn đăng ký đầu

đã phát huy tốt chức năng là những hạt nhân thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp tỉnh
Hưng Yên.
2.2.1.4. Cơ chế quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên: Ban quản lý các khu công
nghiệp tỉnh Hưng Yên được thành lập theo Quyết định số 183/2003/QĐ-TTg ngày 08/9/2003 của
Thủ tướng Chính phủ. Dựa trên các văn bản luật và dưới luật được ban hành tỉnh Hưng Yên đã
xây dựng cơ cấu quản lý và phân cấp quản lý các KCN và quy định rõ nhiệm vụ, chức năng của
Ban Quản lý các khu công nghiệp cụ thể như sau: Thực hiện các chức năng nhiệm vụ theo quy
định của Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và theo ủy quyền của các
Bộ và Uỷ ban nhân dân tỉnh. Ban Quản lý các khu công nghiệp là cơ quan chịu trách nhiệm trực
tiếp quản lý đối với các KCN tập trung trên địa bàn tỉnh được thành lập và quản lý theo Quy chế
Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao. Tiếp nhận dự án và tổ chức thẩm định,
cấp, điều chỉnh và thu hồi các loại giấy phép chứng chỉ theo nguyên tắc "một cửa, tại chỗ", theo
ủy quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh, của các Bộ, Ngành trung ương tạo điều kiện thuận lợi nhất
để nhà đầu tư triển khai dự án và sản xuất kinh doanh tại các KCN trên địa bàn tỉnh.
2.2.1.5. Về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên: Ngày 03 tháng 11 năm 2004 Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã Ban hành
kèm theo quyết định số 88/2004/QĐ-UB ngày 03/11/2004, của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên
quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Tại quy
định này đã nêu rõ: Uỷ ban nhân dân tỉnh khuyến khích và dành ưu đãi đối với các dự án đầu tư
phát triển hạ tầng KCN và các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh vào các KCN trên địa bàn tỉnh.
Quy định này áp dụng đối với các dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, được
thành lập và hoạt động theo Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã ban
hành kèm. Đối tượng áp dụng của quy định này gồm các tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư vào
các KCN trên địa bàn tỉnh, theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam.
2.2.2. Những tác động chủ yếu của các khu công nghiệp đến sự phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương
2.2.2.1. Tác động đến sự tăng trưởng GDP của tỉnh, thu nhập bình quân đầu người và
nguồn thu ngân sách qua các năm
Số liệu thống kê năm 2006 cho thấy, tỷ trọng nông nghiệp của Hưng Yên đã giảm từ 60%

đại trước năm 2020. Từ xuất phát điểm rất thấp, công nghiệp Hưng Yên đã vượt lên đứng thứ 16
trong số 64 tỉnh, thành phố trong cả nước.
2.2.2.3. Tác động đến tốc độ phát triển ngành công nghiệp, cơ cấu ngành công nghiệp
của địa phương
a) Về giá trị, tốc độ phát triển ngành công nghiệp: Công nghiệp Hưng Yên ở thời điểm
tái lập quy mô nhỏ và lạc hậu. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh của Tỉnh ủy về phát
triển công nghiệp, bằng những cơ chế, chính sách về đầu tư phát triển các KCN, toàn bộ ngành
công nghiệp Hưng Yên đã từng bước ổn định và phát triển. Cụ thể: Công nghiệp trên địa bàn
trong giai đoạn 1997 - 2000 có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân đạt 60%/năm(công nghiệp cả
nước tăng bình quân 13,5/% năm). Năm 2000, giá trị sản xuất đạt 1.806,4 tỷ đồng, tăng gấp 5,6
lần năm 1996, tỷ trọng trong GDP đạt 27,8% (năm 1996 là 14,71%), giá trị sản xuất từ vị trí thứ
41 năm 1996 đã vượt lên xếp hạng thứ 19/61 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đến năm 2005, toàn
tỉnh có 20.178 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; trong đó có 295 doanh nghiệp
công nghiệp; đã tạo việc làm cho trên 5 vạn người; giá trị xuất khẩu bình quân thời kỳ 1997 -
2000 là 27,5 triệu USD (năm 2000 là 28,36 triệu USD, chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu
toàn tỉnh, tăng 2,04 lần so với năm 1996).
Tuy nhiên, các thành phần kinh tế tham gia đóng góp vào tổng sản phẩm ngành công
nghiệp Hưng Yên không đồng đều, thể hiện sự phát triển chưa thực sự vững chắc. Bên cạnh sự
phát triển vượt bậc của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế ngoài nhà nước (kinh tế tư
nhân); kinh tế nhà nước do Trung ương và địa phương lại không thực sự ổn định cả về giá trị và
tốc độ phát triển.
b) Về quy mô, cơ cấu ngành công nghiệp, những ngành công nghiệp chủ đạo của tỉnh
Hưng Yên: Theo tiêu chí ngành cấp I, công nghiệp Hưng Yên có 3 ngành với ngành chủ đạo là
công nghiệp chế biến luôn chiếm tỷ trọng tuyệt đối. Sau gần 10 năm tái lập tỉnh Hưng Yên từ
một nền kinh tế với cơ cấu nông nghiệp chiếm 51,9%, hiện nay theo tiêu chí phân ngành cấp II,
công nghiệp Hưng Yên có 22 ngành sản xuất.
Về quy mô của các ngành công nghiệp: Đã hình thành được một số nhóm ngành chủ lực
ở quy mô tương đối lớn: Chế biến nông sản thực phẩm; Dệt, may, da, giầy; Cơ khí; Điện, điện
tử; Sản xuất phụ tùng và lắp ráp ô tô - xe máy. Các ngành này đều sự tăng trưởng mạnh mẽ, quy


nông nghiệp thường xuyên giữ tỷ trọng lớn; trong khi đó, trước thời điểm tái lập tỉnh, công
nghiệp Hưng Yên không được quan tâm đúng mức, bởi vậy từ khi tái lập đến nay mặc dù đã có
nhiều cố gắng, nhưng vấn đề giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực là cả một quá trình lâu
dài.
Khi nghiên cứu cơ cấu lao động, chúng tôi nhận thấy đang tồn tại sự dịch chuyển lao
động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Số chỗ làm việc mới được tạo ra trong thời
gian qua chủ yếu là hai khu vực này, tuy nhiên chưa thật sự mạnh mẽ. Bên cạnh đó, tốc độ tăng
lên về quy mô nguồn vốn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn, doanh thu là rất nhanh, trung bình từ
28% đến 42%. Nguyên nhân, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là khá cao,
đang trong giai đoạn phát triển mở rộng quy mô, tăng sản lượng. Hiện tại nhiều doanh nghiệp
KCN vẫn đang tiếp tục đầu tư, mua sắm trang thiết bị chuẩn bị đi vào sản xuất kinh doanh.
Trong năm 2006 tỉnh đã giải quyết được 23.574 chỗ làm việc mới. Vì vậy, số lượng việc làm
mới sẽ gia tăng trong các năm tiếp theo. Điều này đang đặt ra thách thức rất lớn cho hệ thống đào
tạo nguồn nhân lực tỉnh Hưng Yên.
Hưng Yên hiện đang có hệ thống các trường đại học, trung học chuyên nghiệp dạy nghề
trong toàn tỉnh tương đối đầy đủ. Trên địa bàn tỉnh hiện có 10 trường đào tạo nguồn nhân lực và
16 trung tâm, cơ sở trên địa bàn tỉnh có tham gia dạy nghề, hàng năm đào tạo được khoảng 15.000 công nhân và kỹ sư, Tuy nhiên trang thiết bị, cơ sở thực tập còn thiếu, lạc hậu, chưa
bắt kịp với sự thay đổi của tình hình thực tế. Hệ thống các cơ sở đào tạo, dạy nghề vẫn hoạt động
chưa thật sự gắn kết chặt chẽ với nơi sẽ trực tiếp sử dụng. Do vậy, sinh viên tốt nghiệp, khi trực
tiếp làm việc tại các cơ sở sản xuất đã không thực sự đáp ứng được yêu cầu; dẫn đến thực trạng
tình trạng thừa lao động đã qua đào tạo, thiếu lao động có khả năng để trực tiếp sản xuất, kinh
doanh. Tuy nhiên, đòi hỏi của các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động đã tác động tích
cực đến hệ thống đào tạo và dạy nghề của tỉnh thúc đẩy các cơ sở đào tạo và dạy nghề điều chỉnh
lại mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo phù hợp với thực tiễn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của doanh nghiệp và xã hội.

b. Nâng cao mức thu nhập cho người lao động

công nghệ cao. Nguyên nhân, do sự thiếu ổn định của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
từ nước ngoài. Vì vậy trong thời gian tới cần có những chính sách khuyến khích, ưu đãi cụ thể
hơn nữa để đẩy mạnh đầu tư, nâng cao trình độ công nghệ của các khu vực kinh tế tạo sự ổn định
chung cho sự phát triển của công nghiệp tỉnh Hưng Yên.
2.2.2.7. Tác động đến môi trường Bên cạnh những tác động tích cực của các KCN, ô nhiễm môi trường ở các KCN tỉnh
Hưng Yên là tương đối trầm trọng. Hầu hết các KCN đều chưa xây dựng nơi đổ rác thải và xử lý
rác thải. Các dự án đầu tư tập trung tại các KCN Hưng Yên, trong quá trình sản xuất đã làm ô
nhiễm môi trường dẫn đến bức xúc của người dân sinh sống gần khu vực có dự án. Rác thải được
đưa đến bãi rác là bãi đổ tự nhiên, nước rác chưa được xử lý gây ra tình trạng mất vệ sinh. Ô
nhiễm về nước thải công nghiệp trong các KCN ngày càng trở nên nghiêm trọng. Đặc biệt là ở
KCN dệt may, thuộc da, hóa chất lượng nước thải đổ ra môi trường có tính độc hại cao, không
được xử lý, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Mức độ ảnh hưởng còn đáng ngại hơn do các KCN ở
Hưng Yên đều gần đường giao thông và gần khu dân cư.
Trong các KCN của tỉnh tình trạng ô nhiễm môi trường của KCN Như Quỳnh đã đến mức
báo động. Bên cạnh đó, các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc nói chung và các KCN tỉnh
Hưng Yên nói riêng còn có một loại ô nhiễm khó kiểm soát và giải quyết, là ô nhiễm không khí,
bụi và tiếng ồn
2.3. Đánh giá chung về tác động của các khu công nghiệp
2.3.1. Những tác động tích cực của các khu công nghiệp hiện có đối với phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên
Tác động đến thu hút đầu tư và phát triển của toàn ngành công nghiệp tỉnh Hưng Yên.
Tác động đến sự tăng trưởng GDP, tăng thu nhập bình quân đầu người và nguồn thu ngân
sách, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành của
nền kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ - thương mại, giảm
dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP của tỉnh, và dần đạt tới cơ cấu chung của
cả nước.
Tác động đến tốc độ phát triển của toàn bộ ngành công nghiệp trong tỉnh về giá trị, quy
Chương 3
Quan điểm, định hướng và giải pháp phát huy tác động của các khu công nghiệp
ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2006 - 2010 và đến năm 2020
3.1. Bối cảnh quan điểm và định hướng phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam
nói chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng
3.1.1. Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Thuận lợi: Thứ nhất, những thay đổi trong quan hệ cạnh tranh theo diễn biến mới của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang tác động mạnh đến sự phát triển của hầu hết các nước
trên thế giới trong đó có Việt Nam. Thứ hai, toàn cầu hóa tiếp tục diễn ra sôi động hơn, tạo ra
một sự dịch chuyển mạnh mẽ dòng FDI sang các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam với
vị thế mới - thành viên thứ 150 của WTO. Thứ ba, sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức,
trước hết ở các nước phát triển, đang ngày càng được khẳng định như là một xu thế tất yếu của
thời đại ngày nay. Bên cạnh những thuận lợi trên, những khó khăn mà các KCN Việt Nam sẽ
phải đối mặt, cụ thể: Một là, cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng tăng; Hai là, yêu cầu
ngày càng cao của các chủ thể đầu tư; Ba là, nguy cơ trở thành bãi thải công nghiệp và tụt hậu
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu.
3.1.2. Quan điểm chủ yếu về phát triển khu công nghiệp trong điều kiện hội nhập Tổ
chức thương mại thế giới
Trong điều kiện hội nhập WTO, Việt Nam phải đổi mới một cách triệt để về khu công
nghiệp, chấn chỉnh thật sự nghiêm túc và khoa học vấn đề quy hoạch, đặt các KCN hiện có và
sắp ra đời trong thế chủ động hội nhập và cạnh tranh với khu vực và toàn cầu. Khai thác triệt để
các cơ hội thuận lợi trong quá trình hội nhập WTO để đẩy mạnh phát triển các KCN tập trung
thật sự hiệu quả, bền vững. Cần có cả một hệ thống giải pháp tổng thể cả về phía ngành, vùng và
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong chiến lược phát triển dài hạn để phát triển các KCN, trên
cơ sở đánh giá đúng vai trò có tính chất quá độ của các KCN trong quá trình thực hiện các
nguyên tắc và các cam kết hội nhập WTO.
3.1.3. Mục tiêu phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định
hướng đến năm 2020 - cơ sở cho việc tiếp tục quy hoạch các khu công nghiệp trên địa bàn

của quốc gia, nhất là vấn đề môi trường. Từ những kết quả nghiên cứu thực trạng các KCN, phân
tích những tác động tích cực, tiêu cực của chúng và các nguyên nhân tương ứng, chúng tôi đã đề
xuất hệ quan điểm, một số định hướng và 8 nhóm giải pháp lớn như trên đã trình bày, nhằm khắc
phục hạn chế, tác động tiêu cực phát huy tốt hơn những tác động tích cực của các KCN đến công
cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên trong những năm tới. Kết luận
Phát triển các KCN tập trung theo các tiêu chí hiệu quả và bền vững là một trong những
hướng đi quan trọng, nhằm góp phần tạo nền tảng để "đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại" như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng đã xác định. Và như vậy, có thể khẳng định đây là một trong những nhiệm vụ chiến lược
then chốt của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong khoảng hơn một thập kỷ
gần đây, các KCN trong cả nước nói chung và ở Hưng Yên nói riêng đã đạt được những thành
tựu quan trọng, có tác động tích cực tới tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương
và của đất nước. Các KCN sử dụng ngày càng hiệu quả cơ sở hạ tầng và đẩy mạnh hợp tác sản
xuất, tăng cường mối liên kết ngành trong phát triển kinh tế; có tác động tích cực vào quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hoá ngành nghề,
nâng cao trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, góp phần tăng trưởng, mở
rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế. Là nhân tố quan trọng trong giải quyết việc làm, nâng cao dân
trí và thực hiện các chính sách xã hội; góp phần nhất định bảo vệ môi trường; có tác động lan toả
tích cực tới trình độ phát triển và mở rộng mối liên kết của các vùng, ngành. Chính sách về KCN
và mô hình quản lý - theo cơ chế "một cửa, tại chỗ" cùng với cơ chế ủy quyền trong thời gian
qua đã đạt được những chuyển biến tích cực.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các KCN trên địa bàn cả nước cũng như ở Hưng
Yên cũng còn không ít khó khăn, vướng mắc, hạn chế. Qua số liệu và phân tích thực trạng tác
động của các KCN tỉnh Hưng Yên đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh tại Chương 2, chúng
tôi đã đặc biệt nhấn mạnh hàng loạt vấn đề cần phải tập trung giải quyết, tháo gỡ. Sau khi nghiên
cứu có chọn lọc các định hướng, chính sách phát triển các KCN trên phạm vi cả nước, ở chương


Cục thống kê tỉnh Hưng Yên (2006), Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều
tra năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005.
7.
Mai Ngọc Cường (1993), Các khu chế xuất châu á-Thái Bình Dương, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
8.
Trần Thị Mỹ Diệu, Nguyễn Trung Việt (2003), "Khu công nghiệp sinh thái,
những khái niệm cơ bản", Tạp chí Bảo vệ môi trường, (11).
9.
Nguyễn Hữu Dũng (2006), "Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động và
việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Lao động và Xã hội, (291), tr.42-43.
10.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12.
Nguyễn Minh Đức (2003), "Chủ động và năng động Bình Dương", Trang tin
điện tử Tạp chí cộng sản, địa chỉ , (33).
13.
Đỗ Hữu Hào (2006), "Vai trò của khu công nghiệp, khu chế xuất đối với việc nâng cao trình độ công nghệ, quản lý doanh nghiệp và hiện đại hóa hệ thống kết
cấu hạ tầng", Trang tin điện tử Tạp chí khu công nghiệp, địa chỉ

14.
Lê Văn Học (2006), "Thành tựu và những bài học kinh nghiệm qua 15 năm xây
dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam", Trang tin

22.
Trúc Lâm (2006), Vai trò của các khu công nghiệp trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, Trang tin điện tử Tạp chí khu công nghiệp, địa chỉ

23.
Nguyễn Công Liêm (2006), "Khu công nghiệp và tác động lan tỏa đối với
doanh nghiệp Việt Nam", Trang tin điện tử Tạp chí khu công nghiệp, địa chỉ

24.
Hồ Nga (2006), "Thực trạng về môi trường các khu công nghiệp, khu chế xuất các tỉnh phía Bắc và bài học kinh nghiệm", Tạp chí Công nghiệp, Kỳ 1 tháng
8/2006, tr.12-14.
25.
Sở Công nghiệp tỉnh Hưng Yên (2005), "Những thành tựu công nghiệp Hưng
Yên", Công nghiệp Hưng Yên trên đường phát triển, Đặc san chào mừng kỷ
niệm 60 năm ngày truyền thống ngành công nghiệp (28/8/1945 - 28/8/2005),
tr.5.
26.
Chu Thành Thái (2006), "Khu công nghiệp, khu chế xuất với vấn đề bảo vệ môi
trường và các tác động về mặt xã hội", Trang tin điện tử Tạp chí khu công
nghiệp, địa chỉ
27.
Diệu Thúy-Hoàng Giang (2003), "Hưng Yên, điểm sáng phát triển các khu
công nghiệp", Tạp chí Công nghiệp, (12), tr.36.
28.
Bùi Sĩ Tiếu (2007), "Phát triển khoa học, công nghệ thúc đẩy quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế", Tạp chí Cộng sản, (7/127), tr.43, 47.
29.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status