1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
TÁC ĐỘNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI
Ở TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2012
5
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI
6
1.1. Khu công nghiệp và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội
6
1.2. Những nhân tố chủ yếu chi phối tác động của khu công nghiệp
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
25
1.3. Kinh nghiệm của một số tỉnh về xử lý tác động tiêu cực trong
phát triển khu công nghiệp
33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH
HẢI DƯƠNG
43
CTCP : Công ty cổ phần
KCN : Khu công nghiệp
KCNC : Khu công nghệ cao
KCX : Khu chế xuất
KH - CN : Khoa học - Công nghệ
KT - XH : Kinh tế - Xã hội
NĐ : Nghị định
NQ : Nghị quyết
TU : Tỉnh ủy
UBND : Ủy ban nhân dân
7 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 1.1: Các KCN tỉnh Đồng Nai
35
Bảng 2.1: Một số khoáng sản chủ yếu của tỉnh Hải Dƣơng
46
Bảng 2.2: Các khu công nghiệp phát triển giai đoạn 2010 - 2020
48
Bảng 2.3: Tổng hợp một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp trong KCN
60
Bảng 2.4: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của KCN
64
Bảng 2.5: Hiện trạng môi trƣờng không khí tại 4 điểm của tỉnh Hải Dƣơng
của vùng kinh tế trọng điểm ở đồng bằng Bắc Bộ với hệ thống giao thông
thuỷ, bộ, đƣờng sắt thuận lợi. Hải Dƣơng trở thành địa bàn cung cấp hàng hoá
quan trọng đồng thời tham gia trung chuyển hàng hoá giữa hệ thống cảng biển
với các tỉnh và thành phố lớn ở phía Bắc. Trong tƣơng lai, Hải Dƣơng là trọng
điểm thu hút, phát triển công nghiệp, du lịch, thƣơng mại và trở thành một
trong các đô thị lớn trong vùng. Trong xu thế phát triển chung của cả nƣớc,
tỉnh Hải Dƣơng đã có 10 khu công nghiệp với diện tich 2.087 ha. Sự phát
triển khu công nghiệp ở Hải Dƣơng trong thời gian qua đã góp phần quan
trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng tiến bộ, giải quyết việc
làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, thu hút vốn và công nghệ hiện đại,
kinh nghiệm quản lý tiến bộ của nhiều nƣớc trên thế giới. Đồng thời, sự phát
triển khu công nghiệp đã tạo điều kiện cho sự ra đời các khu đô thị, nâng cao
chất lƣợng đời sống dân cƣ. Tuy nhiên, trong gần 20 năm qua, sự phát triển
2
các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dƣơng đã bộc lộ những bất cập trong giải
quyết vấn đề môi trƣờng sinh thái, việc làm, thu nhập của ngƣời dân mất đất,
sự quá tải của hệ thống kết cấu hạ tầng Những bất cập đó đang là lực cản
cho việc phát huy vai trò của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội trên địa bàn, gây ra những bức xúc trong xã hội.
Nhằm góp phần vào giải quyết những bức xúc này, đề tài “Tác động
của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hải
Dương” đã đƣợc lựa chọn làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính
trị, đề tài này vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn không
chỉ đối với tỉnh Hải Dƣơng mà còn đối với nhiều tỉnh, vùng trong cả nƣớc.
2. Tình hình nghiên cứu
Kể từ khi Đảng, Nhà nƣớc ta có chủ trƣơng xây dựng và phát triển các
khu công nghiệp đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này,
tiêu biểu là:
các tỉnh phía Bắc)”, Luận án tiến sĩ tại trƣờng Đại học Thƣơng Mại.
- Hà Thị Thúy (2010), “ Các khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế
- xã hội ở Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ kinh tế tại Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh.
- Đinh Hoàng Dũng (2009), “Phát triển khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
theo hướng bền vững”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên tập trung vào những vấn đề chung trên
phạm vi tổng thể cả nƣớc hoặc trên địa bàn một vùng, một tỉnh khác, trong đó
chủ yếu nghiên cứu dƣới góc độ quản lý kinh tế, kinh tế phát triển và có một
số đề tài nghiên cứu kinh tế chính trị nhƣng lại trên địa bàn tỉnh khác. Đến
nay, ở Hải Dƣơng chƣa có công trình khoa học nào dƣới góc độ kinh tế chính
trị nghiên cứu về tác động của khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã
hội của địa phƣơng. Đề tài mà học viên lựa chọn nghiên cứu không trùng với
các công trình khoa học đã công bố.
4
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản, luận văn đánh giá tác
động của khu công nghiệp (bao gồm các khu công nghiệp, khu chế xuất và
cụm công nghiệp) để đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm phát huy mặt
tích cực và ngăn ngừa những tiêu cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội ở tỉnh Hải Dƣơng
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn về tác động của các khu công
nghiệp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn một tỉnh.
+ Đánh giá thực trạng tác động của các khu công nghiệp đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hải Dƣơng.
Hải Dƣơng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn
đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng, 7 tiết.
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tác động của các khu công
nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Chương 2: Thực trạng tác động của các khu công nghiệp đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát huy tác động tích cực và
hạn chế tác động tiêu cực của khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở tỉnh Hải Dương
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. Khu công nghiệp và tác động của nó đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội
1.1.1. Khu công nghiệp
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, KCN đã đƣợc hình thành ở một số
nƣớc tƣ bản phát triển. Năm 1896, xuất hiện KCN đầu tiên ở Traffort Park
thành phố Manchester nƣớc Anh. Sau đó, KCN lần lƣợt đƣợc thành lập ở các
nƣớc khác nhƣ Mỹ năm 1899, Italia năm 1904, và kể từ những năm 50 của
thế kỷ XX thì KCN thực sự bùng nổ, trở thành phổ biến ở các nƣớc. Trong
quá trình phát triển đó, KCN đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực nên nó đƣợc
coi là một công cụ để phát triển kinh tế.
Ngày nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Mặc dù
thì KCN là khu vực tƣơng đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc
gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tƣ vào các ngành công nghiệp hƣớng về xuất
khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về
đầu tƣ mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nƣớc chủ
nhà. Trong đó đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản
xuất để xuất khẩu miễn thuế [43, tr.18].
Tuy những quan niệm trên có một số khác nhau về nội hàm KCN,
KCX, song về cơ bản đều thống nhất ở những đặc trƣng sau:
Thứ nhất, KCN là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và
mục tiêu xác định giữa chủ đầu tƣ và nƣớc chủ nhà. KCN là nơi có môi
trƣờng kinh doanh đặc biệt phù hợp, đƣợc hƣởng những quy chế tự do, các
chính sách ƣu đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng khác ở nội
địa. Chúng là nơi có vị trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, thƣơng mại,
đầu tƣ trên cơ sở chính sách ƣu đãi về kết cấu hạ tầng, cơ chế pháp lý, thủ tục
hải quan, thủ tục hành chính, chính sách tài chính tiền tệ, môi trƣờng đầu tƣ…
8
Thứ hai, KCN là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời trong
sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Nó thƣờng là những khu vực có vị trí
địa lý riêng biệt thích hợp, có hàng rào xung quanh, giới hạn với các vùng
lãnh thổ còn lại của nƣớc sở tại và đƣợc Chính phủ nƣớc đó cho phép hoặc rút
phép xây dựng và phát triển.
Thứ ba, KCN là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về ƣu tiên chính sách
hƣớng ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào phát triển các loại
hình sản xuất kinh doanh phục vụ xuất khẩu. Đây là mô hình thu nhỏ về chính
sách KT - XH mở cửa của một nƣớc.
Ở Việt Nam, khái niệm về KCN đƣợc ghi trong Nghị định 192/CP ngày
15/12/1994 của Chính phủ về quy chế KCN. Các KCN đƣợc định nghĩa là
khu vực công nghiệp tập trung, đƣợc thành lập do quyết định của Chính phủ
Đối với nƣớc sở tại, thì KCX có nhiều mặt lợi hơn so với KCN. Điều
này có thể lý giải bởi các lý do sau đây:
- Doanh nghiệp chế xuất không đƣợc trực tiếp sử dụng thị trƣờng nội
địa nên nhìn chung là không cạnh tranh với sản xuất trong nƣớc.
- Nhà nƣớc không lo cân đối ngoại tệ cho doanh nghiệp mà ngƣợc lại,
nguồn ngoại tệ của xã hội lại tăng lên nhanh chóng nhờ hoạt động của KCX.
- Thúc đẩy việc mở cửa thị trƣờng nội địa nhanh hơn, phù hợp với chủ
trƣơng xây dựng nền kinh tế mở hƣớng mạnh về xuất khẩu.
Tuy nhiên những gì đƣợc coi là có lợi cho nƣớc sở tại thì ngƣợc lại là
bất lợi cho nhà đầu tƣ. Để có thể xuất khẩu đƣợc 100% sản phẩm, việc tổ
chức sản xuất phải đạt chất lƣợng cao, đồng đều, giá cả hợp lý, phù hợp với
điều kiện cạnh tranh của thị trƣờng quốc tế. Do các bất lợi trên mà nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài thƣờng quan tâm đến hình thức KCN, nhằm tận dụng lợi thế về thị
trƣờng nội địa. Điều này nghĩa là việc xây dựng thành công các KCX thƣờng
gặp khó khăn hơn là KCN. Việc các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài coi trọng mô hình
KCN là có căn nguyên riêng của nó, nhƣng cần phải thấy đƣợc một vấn đề là
nếu một quốc gia có quá nhiều KCN hoạt động sẽ có hàng nghìn doanh
10
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng chủ yếu do nƣớc ngoài đầu tƣ. Điều này sẽ tạo
ra hiện tƣợng cạnh tranh gay gắt không cần thiết trên thị trƣờng nội địa.
Để khuyến khích đầu tƣ vào KCX, cần rà soát lại toàn bộ hệ thống
chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nƣớc theo tinh thần khuyến khích mạnh hơn,
ƣu đãi nhiều hơn cho KCX, làm cho nó có sức hấp dẫn cao hơn đối với các
nhà đầu tƣ so với KCN. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng của các KCN và KCX
là không ít khó khăn, nhƣng việc kêu gọi các doanh nghiệp đầu tƣ vào địa bàn
này là khó khăn hơn nhiều. Chất lƣợng của một KCN hay KCX phụ thuộc
nhiều vào chất lƣợng của các dự án đã thu hút đƣợc.
Nhƣ vậy, KCN và KCX có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự
Nói tóm lại, sự ra đời của các KCN nhằm mục đích cung cấp các điều
kiện về kết cấu hạ tầng tốt nhất cho việc xây dựng và vận hành của các cơ sở
sản xuất công nghiệp đặc biệt là hỗ trợ các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khi đầu tƣ
vào nƣớc sở tại sẽ có đƣợc đầy đủ điều kiện mặt bằng, đƣờng sá, hệ thống
cung cấp điện nƣớc, hệ thống xử lý nƣớc thải…để sản xuất kinh doanh mang
lại lợi ích cho cả hai phía.
1.1.2. Tác động của khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã
hội hiện nay
KCN ở Việt Nam ra đời cùng với chính sách đổi mới mở cửa do Đại
hội Đảng lần thứ VI khởi xƣớng. Hoạt động của các KCN trong thời gian qua
đã đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
của đất nƣớc. Đối với những nƣớc thuần nông nhƣ Việt Nam thì việc phát
triển KCN trƣớc hết tạo tiền đề cho đô thị hóa nông thôn, tạo bƣớc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế mới theo hƣớng phát triển công nghiệp, giải quyết việc
làm cho lao động khu vực nông thôn. KCN cũng chính là cầu nối giữa nƣớc ta
với thế giới bên ngoài, đóng vai trò tiên phong trong việc chuyển từ nền kinh
tế khép kín sang nền kinh tế mở cửa.
Tuy nhiên sự phát triển của KCN trong thời gian qua cũng đang phá vỡ
kết cấu xã hội nông thôn truyền thống, bộc lộ những bất cập trong giải quyết
12
vấn đề môi trƣờng sinh thái, việc làm và thu nhập của ngƣời dân mất đất, sự
quá tải của hệ thống kết cấu hạ tầng
1.1.2.1. Những tác động tích cực của các khu công nghiệp đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay
Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh việc thực hiện công cuộc
CNH, HĐH nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho
CNXH. CNH, HĐH đƣợc xác định là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ lên CNXH. Quá trình CNH, HĐH đƣợc thực hiện trên cơ sở giải
trƣờng, các doanh nghiệp tìm mọi cách tối thiểu hóa chi phí để đạt đƣợc giá
thành rẻ nhất. KCN là địa bàn mà doanh nghiệp có thể thực hiện đƣợc điều
đó. KCN đƣợc xây dựng tập trung theo chiều dọc, là nơi có nhiều đất trống,
gần cảng, giao thông thuận lợi cho xe tải trọng lƣợng lớn ra vào, có mạng lƣới
điện để cho nhà đầu tƣ có thể xây dựng và vận hành các nhà máy. KCN còn
đƣợc trang bị kết cấu hạ tầng đầy đủ nên khi đầu tƣ vào thì các nhà đầu tƣ sản
xuất sẽ giảm đƣợc rất nhiều chi phí nhƣ chi phí mua đất xây dựng nhà máy
với giá cao, chi phí xây dựng hệ thống đƣờng dây tải điện, đƣờng giao thông
vận tải vào nhà máy, thiết lập hệ thống thông tin liên lạc Việc bố trí các nhà
máy theo chiều dọc (sản phẩm của nhà máy này là nguyên liệu của nhà máy
khác) và tập trung vào một khu vực nên các doanh nghiệp dễ dàng giải quyết
đầu vào và đầu ra với chi phí thấp nhất. Do đó, các doanh nghiệp KCN có
điều kiện thuận lợi hơn để đạt mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp bên ngoài
KCN nên KCN thƣờng hấp dẫn nhà đầu tƣ.
Thực tế ở nƣớc ta cho thấy, KCN có vai trò tích cực vào việc thu hút
vốn đầu tƣ đặc biệt là vốn FDI. Số dự án đầu tƣ cả trong và ngoài nƣớc vào
các KCN chiếm một tỷ trọng khá lớn. Sự gia tăng vốn đầu tƣ vào các KCN
góp phần quan trọng vào việc tăng tổng vốn đầu tƣ của toàn xã hội, đóng góp
trực tiếp vàp việc tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Mặt
khác còn tác động, kích thích tăng đầu tƣ mới ở các doanh nghiệp ngoài KCN.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, riêng năm 2009, các KCN trên cả nƣớc đã thu
14
hút đƣợc gần 9,4 tỷ USD vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, trong đó có 271 dự án mới
với tổng số vốn đầu tƣ đăng ký đạt gần 7,5 tỷ USD và 236 lƣợt dự án tăng vốn
với số vốn tăng thêm đạt trên 1,6 tỷ USD.
Tính đến nay, các KCN cả nƣớc đã thu hút đƣợc 3325 dự án có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài với tổng vốn đầu tƣ gần 39,3 tỷ USD.
Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của các KCN
hiện đại và các phƣơng pháp quản lý tiên tiến của các nhà đầu tƣ đƣợc thực
hiện tốt thông qua các KCN. Mặc dù trong những giai đoạn đầu hoạt động của
các KCN, đầu tƣ nƣớc ngoài chủ yếu tập trung vào các ngành nhƣ dệt may,
giày da, lắp ráp điện tử, nhƣng càng về sau thì việc đầu tƣ vào các lĩnh vực
công nghệ hiện đại nhƣ đúc chính xác, sản xuất cơ khí, cáp điện, linh kiện
điện tử… ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn cả về sản phẩm và kim ngạch
xuất khẩu. Quá trình chuyển giao diễn ra dƣới nhiều hình thức: đào tạo công
nhân nƣớc chủ nhà để sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ… Bên cạnh đó,
các doanh nghiệp KCN còn thu hút một lƣợng lớn ngƣời lao động Việt Nam
vào các vị trí quản lý doanh nghiệp quan trọng, đội ngũ lao động này đƣợc
tiếp xúc với phƣơng thức quản lý tiên tiến, kỹ năng marketing, quản lý tài
chính, tổ chức nhân sự… Đội ngũ này khi chuyển đi làm việc tại các doanh
nghiệp sẽ vừa áp dụng đƣợc phƣơng pháp quản lý tiên tiến đã tiếp thu đƣợc
vào hoạt động của doanh nghiệp mình, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp và truyền đạt những kiến thức quản lý cho ngƣời lao động Việt
Nam khác.
Bốn là, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, hợp lý và
hiệu quả.
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là một nội dung cơ bản trong quá trình
CNH, HĐH ở nƣớc ta bởi nó tạo điều kiện cho nền kinh tế vận động phù hợp
với các quy luật khách quan, thúc đẩy phân công lao động xã hội, gắn sản
xuất với nhu cầu thị trƣờng trong nƣớc và xu hƣớng toàn cầu hoá, khu vực
hoá, mở cửa và hội nhập kinh tế, giúp khai thác tối đa mọi nguồn lực, tiềm
16
năng của đất nƣớc, của ngành, của doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. Đảng ta xác định xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý theo ngành,
lĩnh vực và lãnh thổ trong đó giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao
động của tất cả các ngành, lĩnh vực nhất là các ngành và lĩnh vực có sức cạnh
Đồng thời, về phiá mình, các doanh nghiệp công nghiệp cũng có điều kiện
phòng chống ô nhiễm môi trƣờng với chi phí ít nhất do sử dụng lại phế thải
của nhau, do có sự liên kết xử lý ô nhiễm và sự hỗ trợ tập trung của nhà nƣớc.
Hơn nữa, KCN đƣợc sử dụng các biện pháp triệt để trong việc xử lý
môi trƣờng ngay từ khâu quy hoạch. Trong KCN, các doanh nghiệp buộc phải
có hệ thống xử lý chất thải cục bộ đạt tiêu chuẩn trƣớc khi thải ra hệ thống
chung. Từng KCN phải có nhà máy xử lý nƣớc thải tập trung và đƣợc đầu tƣ
xây dựng song song với việc đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng KCN. Nhƣ vậy,
việc bảo vệ môi trƣờng trong toàn khu vực KCN đƣợc thực hiện tốt hơn so
với tại các cơ sở công nghiệp nằm rải rác ở nhiều khu vực khác nhau. Đồng
thời, KCN là địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi
trƣờng từ nội thành, từ các vùng dân cƣ, phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển
bền vững. Với tác động này, việc xây dựng các KCN tập trung đƣợc coi là
một giải pháp quan trọng của sự phát triển KT - XH.
Trong vài năm tới ở nƣớc ta sẽ có khoảng 65% KCN đang hoạt động có
hệ thống nƣớc thải đạt tiêu chuẩn môi trƣờng. Tuy nhiên, nó đòi hỏi các cơ
quan quản lý Nhà nƣớc phải có quyết tâm cao kết hợp với các biện pháp cụ
thể. Thời gian qua đã có nhiều dự án xử lý nƣớc thải tập trung trong KCN đi
vào vận hành, tổng số cơ sở xử lý nƣớc thải tập trung trên 60 nàh máy, đạt
gần ½ mục tiêu kế hoạch đến năm 2011. Ngoài ra tại KCN đang xây dựng, có
20 nhà máy xử lý nƣớc thải tập trung đƣợc xây dựng và dự kiến hoàn thành
trong năm nay. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng phối hợp với Bộ Kế
hoạch và Đầu tƣ đã dự thảo quy chế Bảo vệ môi trƣờng KCN. Hy vọng sau
khi ban hành Quy chế này, chúng ta sẽ có cơ sở pháp lý trong triển khai công
tác bảo vệ môi trƣờng KCN.
18
Sáu là, góp phần tăng cung ứng hàng hoá dịch vụ đáp ứng nhu cầu
trong nước và xuất khẩu.
đầu tƣ thiếu tính toán việc thu hút các doanh nghiệp sản xuất nhằm “lấp đầy”
KCN nên dẫn đến tình trạng lãng phí các nguồn lực.
Sự phát triển ồ ạt của các KCN, quy hoạch thiếu đồng bộ, thiếu tầm
nhìn chiến lƣợc đã gây ảnh hƣởng xấu đến chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế làm
cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế không theo kịp. Mặt khác, việc phân
bổ các KCN giữa các vùng còn bất hợp lý, thành lập quá nhiều KCN, KCX
trong cùng một vùng trong khi khả năng thu hút đầu tƣ còn hạn chế không
phát huy đƣợc hiệu quả vốn đầu tƣ hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho KCN. Điều
này dẫn đến tình trạng cạnh tranh gay gắt, tự phát, chạy đua theo phong trào.
Việc thành lập, thu hút đầu tƣ vào KCN không phù hợp với quy hoạch tổng
thể phát triển KT - XH của vùng, quy hoạch phát triển KCN cả nƣớc. Hơn
nữa, do cách thức quản lý các KCN không tốt, không tập trung làm cho các
doanh nghiệp trong KCN làm ăn kém hiệu quả. Mặt khác, việc xây dựng các
KCN tràn lan dẫn đến tình trạng thiếu lao động có tay nghề. Đây là vấn đề hết
sức nan giải mà nhiều địa phƣơng đã vấp phải làm cho các KCN hoạt động
không có hiệu quả cao. Nhƣ vậy, do theo đuổi phong trào xây dựng KCN,
mong muốn lấp đầy KCN dẫn đến tình trạng lãng phí các nguồn lực, làm xáo
trộn tình hình phát triển KT - XH.
Sự phát triển tràn lan các KCN ở các tỉnh hiện nay dẫn đến cạnh tranh
quyết liệt giữa các địa phƣơng trong việc thu hút đầu tƣ làm xuất hiện không
ít tình trạng “vƣợt rào”, “phá luật” gây ra những lộn xộn không đáng có làm
thiệt hại cho lợi ích chung của xã hội và giảm lòng tin của các nhà đầu tƣ về
sự nhất quán trong chính sách ƣu đãi của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, để khuyến khích các doanh nghiệp trong và
ngoài nƣớc đầu tƣ vào các KCN, các cấp, các ngành đã không ngừng nghiên
cứu, hoàn thiện chính sách ƣu đãi, thủ tục đầu tƣ thuận tiện. Tuy vậy, việc xây
dựng ồ ạt các KCN dẫn đến một thực tế các địa phƣơng đang ra sức quyết liệt
20