ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐẶNG MINH
THÔNG LỆ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA TỔ
CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ OECD NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VÀO CễNG TY C PHN
VIT NAM
luận văn thạc sĩ luật häc
Hµ néi - 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐẶNG MINH
THÔNG LỆ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA TỔ
CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ OECD NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa
1.1.3.3.
1.2.
1.2.1.
1.2.1.1.
1.2.1.2.
1.2.2.
1.2.3.
Một số vấn đề lý luận về áp dụng thông lệ tốt về quản
trị công ty
Một số khái niệm và định nghĩa
Bản chất của việc áp dụng các thông lệ tốt về quản trị
công ty
Cơ sở của việc áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công ty
Sự tự nguyện và thích nghi áp dụng thơng lệ tốt
Cơ chế luật hóa các thơng lệ tốt vào hệ thống pháp luật
Các cơ chế bổ trợ khác
Các thông lệ tốt về quản trị cơng ty của OECD
Sự hình thành các thông lệ tốt về quản trị công ty
của OECD
Giới thiệu chung về OECD
Giới thiệu chung về các nguyên tắc quản trị cơng ty
của OECD
Tính khơng bắt buộc, tính thích nghi và ý nghĩa của
các thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD
Một số thông lệ tốt về quản trị công ty của các tổ
chức khác
Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG
TY CỔ PHẦN VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC
30
39
47
Cơ sở của việc áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công
ty cổ phần
Thực tiễn du nhập và áp dụng thông lệ tốt vào quản
trị công ty cổ phần ở Việt Nam
Các cơ chế áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công ty
cổ phần ở Việt Nam
Đề xuất các biện pháp và cơ chế
Nghiên cứu tình huống áp dụng thơng lệ quản trị
cơng ty: trường hợp Công ty cổ phần Cho thuê Máy
bay Việt Nam
Giới thiệu Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay Việt Nam
Cơ cấu quản trị Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay
Việt Nam
Yêu cầu và thực tiễn áp dụng các chuẩn mực quốc tế
trong quản trị và điều hành hoạt động kinh doanh của
Cơng ty
Sự thể chế hóa các thơng lệ tốt về quản trị công ty
trong các văn bản quản lý nội bộ của Công ty cổ phần
Cho thuê Máy bay Việt Nam
47
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
49
51
51
72
73
74
75
79
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ngày nay, các thông lệ tốt về quản trị công ty (QTCT) ngày càng
được đề cập đến nhiều trong quá trình hội nhập. Bên cạnh các yếu tố lợi
nhuận, tốc độ tăng trưởng, các vấn đề về hành xử của doanh nghiệp,
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các yêu cầu về mơi trường, v.v...
địi hỏi mức độ cao trong việc áp dụng thông lệ kinh doanh chuẩn mực để
phát triển trong một môi trường đầy thách thức. Quản trị cơng ty với các
thơng lệ tốt của nó dần du nhập vào Việt Nam như một tất yếu. Trước
thực tế đó, việc tìm hiểu các thơng lệ quốc tế tốt về quản trị công ty và
việc nghiên cứu áp dụng các thông lệ này vào các công ty ở Việt Nam là
rất cần thiết.
Sự hiện diện của một hệ thống quản trị công ty hiệu quả với việc áp
dụng các thông lệ tốt, trong phạm vi một công ty đơn lẻ và cao hơn nữa
trong cả nền kinh tế như một tổng thể, giúp cho sự thúc đẩy phát triển
cho cả nền kinh tế quốc gia.
Áp dụng thông lệ tốt về QTCT, đặc biệt đối với công ty cổ phần
(CTCP) ở giai đoạn ban đầu, vừa là hoạt động mang tính thử nghiệm, mở
Nam đã được cơng bố nhằm đặt ra một số yêu cầu về xây dựng và cải
thiện môi trường pháp lý cho việc áp dụng thơng lệ tốt trong loại hình
CTCP ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trong bối cảnh luật pháp Việt Nam đang có
nhiều biến chuyển, sự ra đời và áp dụng của Luật Doanh nghiệp "thống
nhất" 2005 với sự giới thiệu nhiều quy định và chuẩn mực mới về quản
trị công ty theo thông lệ quốc tế. Việc áp dụng các thông lệ và chuẩn mực
quản trị công ty là xu hướng tất yếu khách quan. Nghiên cứu cơ chế áp
dụng các thông lệ có tính quốc tế này là mục đích của luận văn. Để thực
hiện mục đích và ý tưởng này, tác giả sử dụng một số tư liệu từ báo chí,
một vài vụ việc đã được đưa ra giải quyết bằng con đường tố tụng Tịa
án, những thơng tin này sẽ làm sáng tỏ cho các nội dung nghiên cứu của
đề tài. Cụ thể, đề tài nhắm đến các mục đích sau:
4
- Nêu ra và làm rõ một số vấn đề về thông lệ tốt về QTCT theo tiêu
chuẩn quốc tế, đặc biệt chú trọng đến thông lệ tốt về QTCT của OECD;
- Đánh giá các vấn đề như tính quả hiệu quả, cách thức tổ chức,
những khó khăn, trở ngại, những bảo đảm pháp lý và những đề xuất, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng thông lệ tốt trong quản trị
công ty của CTCP ở Việt Nam;
- Góp một phần nhỏ trong cung cấp thơng tin mang tính tham khảo
cho cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty niêm yết về những
nguyên tắc, kinh nghiệm áp dụng những chuẩn mực và thông lệ quốc tế
tiên tiến về QTCT;
- Phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng thông lệ tốt qua việc làm rõ
các quy định liên quan trong Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Chứng
Khoán 2006; các luật và quy định liên quan.
VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ CÁC THÔNG LỆ TỐT
VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY THEO OECD
1.1. Một số vấn đề lý luận về áp dụng thông lệ tốt về quản trị
công ty
1.1.1. Một số khái niệm và định nghĩa
Khái niệm "quản trị công ty"
Khái niệm "quản trị công ty" trong luận văn này được tác giả lấy từ
chữ "corporate governace". Đã có rất nhiều định nghĩa về QTCT, theo
đó, QTCT được hiểu như tổng hợp các thiết chế và phương pháp để định
hướng cho công ty trong một khuôn khổ hoạt động nhằm hướng tới việc
tạo ra tài sản thặng dư và hài hịa hóa lợi ích nội bộ cũng như đảm bảo
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Theo OECD, QTCT là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý.
Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa các cổ đông,
Hội đồng quản trị (HĐQT), các chức danh quản lý và những người có lợi ích
liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách
này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương
6
tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó. QTCT khơng
phải là một khái niệm tĩnh, ngay cả trong OECD, khái niệm này cũng có
sự biến chuyển theo thời gian. Nhìn chung, theo OECD, QTCT "là hệ
thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp. Cấu
trúc QTCT chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số
những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp như HĐQT,
Giám đốc, cổ đơng, và những chủ thể khác có liên quan. Quản trị cơng ty
cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận
hành doanh nghiệp. Bằng cách này, QTCT cũng đưa ra cấu trúc thơng
qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt
như từ ngữ nó phản ánh là các khuyến cáo, là tập quán của thương nhân,
nhưng theo nghĩa nào đó thì được, buộc phải, được khuyến cáo hay được
khuyến khích áp dụng… tức là nó có giá trị về mặt thực tiễn rất cao. Giá
trị thực tiễn của thông lệ được phản ánh ở mức độ phổ biến trong việc áp
dụng của nó. Khơng phải ngẫu nhiên mà Incoterm - Các điều khoản
thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên tồn thế
giới; các thơng lệ quản trị công ty của OECD được khuyến cáo áp dụng
và được rất nhiều công ty sử dụng
Thông lệ tốt về QTCT có thể được đưa vào các quy định pháp luật
một cách trực tiếp (quy định thành các điều luật trong văn bản) hoặc dựa
trên các khuyến nghị của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, của các cơ
quan quản lý nhà nước. Điều đáng chú ý ở đây là, dù theo cơ chế nào:
khuyến nghị hay bắt buộc áp dụng, dưới hình thức nào: quy định pháp
luật hay khuyến nghị thì các thơng lệ tốt về QTCT đang ngày càng được
hiện hữu rõ ràng trong các công ty đại chúng.
Việc luật hóa các thơng lệ tốt về QTCT đã được áp dụng rất đa dạng
ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Việc thể
chế hóa các thơng lệ này vào hệ thống luật quốc gia tạo cho thông lệ một
vỏ bọc pháp lý và tính khả dụng cao hơn cho việc ứng dụng các thông lệ
vào thực tiễn, đặc biệt đối với các công ty đại chúng.
1.1.3.3. Các cơ chế bổ trợ khác
Các nguyên tắc QTCT đã được phát triển ở nhiều quốc gia khác nhau
và được áp dụng ở các thị trường chứng khốn, các cơng ty, các nhà đầu tư
tổ chức và các hiệp hội với sự hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức liên quan.
Như một quy luật bất thành văn, các nguyên tắc này phù hợp với các kiến
nghị áp dụng này không được quy định một cách rõ ràng bởi luật mặc dù các
quy tắc này, trong một số trường hợp, có thể có liên kết chặt chẽ với các
quy định về niêm yết cổ phiếu, và do đó, có ý nghĩa bắt buộc áp dụng với
cùng nhau bàn bạc giải quyết các vấn đề kinh tế của bản thân họ và của
thế giới. Hiện OECD có ba mươi thành viên, 24 trong số đó được Nhóm
Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm các quốc gia có thu nhập cao, 6 quốc
gia khác được xếp vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao.
9
10
1.2. Các thơng lệ tốt về quản trị cơng ty của OECD
1.2.1. Sự hình thành các thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD
1.2.1.1. Giới thiệu chung về OECD
1.2.1.2. Giới thiệu chung về các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
Các thông lệ QTCT của OECD được xem là một trong các thơng lệ
QTCT có tầm ảnh hưởng lớn nhất. Đầu tiên, các nguyên tắc QTCT của được
xác nhận bởi các Bộ trưởng OECD vào năm 1999 và sau đó được cập nhật,
bổ sung và hồn thiện vào năm 2004, từ đó đã trở thành một chuẩn quốc tế
cho các nhà lập chính sách, nhà đầu tư, các cơng ty và các đối tượng có liên
quan khác trên toàn thế giới. OECD vẫn đang tiếp tục đưa ra các đề xuất và
khuyến nghị áp dụng của các ngun tắc QTCT trên tồn thế giới.
Theo OECD, các thơng lệ hay nguyên tắc QTCT bao gồm 06 vấn đề
chính (mỗi một thông lệ lại được hỗ trợ bởi một số các nguyên tắc phụ
hay "nguyên tắc bổ trợ"). Tác giả xin được trích dẫn nội dung các thơng
lệ về QTCT của tổ chức này tại Phụ lục 1 của luận văn.
1.2.2. Tính khơng bắt buộc, tính thích nghi và ý nghĩa của các
thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD
Khơng có một mơ hình đơn nhất nào cho QTCT. Tuy nhiên, các nghiên
cứu được tiến hành ở các quốc gia OECD và cả các quốc gia ngoài OECD
số 60/2005/QH11
Nghị định
05/9/2007 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của
139/2007/NĐ-CP
Luật Doanh nghiệp
Luật Chứng khoán 29/6/2006 Quy định về chứng khoán và thị trường
số 70/2006/QH11
chứng khoán.
Quyết định số
13/03/2007 Quy chế Quản trị công ty áp dụng cho các
12/2007/QĐ-BTC
công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Quyết định số
19/03/2007 Ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các
15/2007/QĐ-BTC
cơng ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khốn/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Nghị định số
19/01/2007 Quy định chi tiết thi hành một số điều của
14/2007/NĐ-CP
Luật chứng khốn
Thơng tư số
18/04/2007 Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên
38/2007/TT-BTC
thị trường chứng khoán
Quyết định
15/5/2007 Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của
35/2007/QĐ-BTC
công ty quản lý quỹ
quản lý cấp cao; (vi) chế độ công bố thông tin kịp thời đối với các thơng
tin đáng tin cậy có liên quan đến tình hình tài chính và hoạt động của
cơng ty; (vii) các biện pháp khuyến khích gắn liền với hiệu quả hoạt
động nhằm tạo ra nỗ lực làm việc cao nhất từ phía các thành viên HĐQT
và các nhà quản lý cấp cao.
Trong các văn bản pháp luật liên quan đến QTCT, có thể nói Luật
Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khốn 2006 và các văn bản hướng dẫn
là các luật xương sống điều chỉnh tổ chức và hoạt động công ty, có các
quy định trực tiếp về các nguyên tắc QTCT.
2.2. Sự cần thiết và các tác động của việc áp dụng thông lệ tốt
vào quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam
2.2.1. Hiện trạng về quản trị công ty trong công ty cổ phần ở Việt Nam
Các thông lệ tốt, trên thực tế, gần như chỉ được áp dụng ở các công
ty niêm yết mà thôi, ở các quốc gia phát triển có tỷ lệ cơng ty niêm yết
rất cao nhưng con số này ở Việt Nam còn rất ít. Tuy nhiên, các thơng lệ
lại có vai trị thực tiễn rất cao đối với các công ty cổ phần nói chung ở
Việt Nam, đặc biệt đối với các cơng ty chưa niêm yết nhưng số lượng cổ
đông lên đến hàng nghìn; các cơng ty chịu tác động của các quỹ đầu tư,
13
các công ty nhận nguồn vốn đầu tư gián tiếp. Từ sự áp dụng, các thơng lệ
có giá trị như "luật" ("by laws"). CTCP niêm yết hiện nay được coi là
hình thức cơng ty hồn bị nhất với nhiều lý thuyết hiện đại về nó. Có thể
nói sự áp dụng các thông lệ tốt về QTCT được thể hiện rõ ràng nhất ở
CTCP niêm yết.
QTCT
áp dụng các lý thuyết quản trị vào
hoạt động của
doanh nghiệp
áp dụng các thông lệ tốt, các quy chuẩn quản trị tiên tiến là việc làm cần
người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định. Các vấn đề
cần đặt ra trong vụ việc này là: (i) việc tuân thủ các quy định của Luật
Doanh nghiệp và tính ứng dụng của Điều lệ mẫu được ban hành bởi Bộ
Tài chính; (ii) vấn đề "phê chuẩn" của Đại hội đồng cổ đông đối với các
quyết định của HĐQT phải được hiểu như thế nào.
Chương 3
CƠ CHẾ ÁP DỤNG THÔNG LỆ TỐT
VÀO QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
3.1. Cơ sở lý luận của việc áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công
ty cổ phần
Việc áp dụng thơng lệ tốt về QTCT, ngồi thói quen và khuyến nghị
áp dụng theo cơ chế tự nguyện, cần dựa vào các quy định pháp luật thành
văn. Theo đó, Luật Công ty hay Luật Doanh nghiệp cần được xem như là
nền tảng cơ bản của sự thể chế hóa các thơng lệ QTCT. Nói cách khác,
Luật Cơng ty, hay Luật doanh nghiệp là luật sơ sở để tạo dựng và thể chế
hóa một cách chính thức các thơng lệ về QTCT. Cần phải xây dựng một
Luật Cơng ty hồn bị làm nền tảng cho việc áp dụng các thông lệ QTCT
của chính những thực thể kinh doanh sinh ra từ đạo luật này.
hợp đồng, ví dụ như người cho vay, người lao động, và khách hàng: làm
thế nào bảo đảm việc các cổ đông, thông qua công ty, không hành động
một cách cơ hội chủ nghĩa đối với các bên liên quan kia. Với mục tiêu
quy định tạo ra sự cân bằng pháp lý giữa các thái cực đó, việc áp dụng
các thông lệ tốt về QTCT luôn phải hướng tới mục tiêu chủ đạo này, để
"thúc đẩy phúc lợi xã hội trên bình diện tổng thể… thúc đẩy tổng phúc
lợi của các cổ đông, người lao động, nhà cung ứng, và khách hàng của
cơng ty mà khơng có sự hy sinh phi lý của các đối tác thứ ba như cộng
đồng địa phương và người thụ hưởng môi trường tự nhiên".
3.2. Thực tiễn du nhập và áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công
ty cổ phần ở Việt Nam
qua, dù sao, cũng là tiền đề quan trọng để tăng cường việc áp dụng các
15
16
quy chuẩn quốc tế về vấn đề này vào các doanh nghiệp Việt Nam, trước
hết các công ty niêm yết.
3.3. Các cơ chế áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công ty cổ phần
ở Việt Nam
3.3.1. Đề xuất các biện pháp và cơ chế
Xây dựng các điều kiện áp dụng thông lệ tốt vào quản trị CTCP
Xây dựng các điều kiện áp dụng thông lệ tốt vào quản trị CTCP ở
Việt Nam phải được các nhà lập quy và ban hành chính sách chú trọng.
Tạo ra cơ chế xã hội có tính khuyến nghị áp dụng
Áp dụng thơng lệ tốt về QTCT địi hỏi một cơ chế tổng thể với sự
tác động qua lại của nhiều nhân tố xã hội. Việc tạo ra cơ chế xã hội có
tính khuyến nghị áp dụng qua việc ban hành các điều lệ mẫu, các khuyến
nghị của Chính phủ, của các tổ chức chuyên môn, của các tổ chức nghề
nghiệp, các hiệp hội là rất quan trọng trong một xã hội tơn trọng tơn
trọng tín nghĩa và để ý nhiều đến các tác động xã hội ngoài pháp luật như
Việt Nam. Các bộ quy chuẩn đạo đức - "Code of Ethics" hay Quy chuẩn
Thông lệ - "Code of Practices" cũng nên nghiên cứu để ban hành và gợi ý
cho các doanh nghiệp, trước hết là các CTCP áp dụng.
Áp dụng thơng lệ tốt địi hỏi sự hồn bị của hệ thống và tăng
cường cơ chế giám sát xã hội
QTCT liên quan đến nhiều yếu tố. Do đó, nó địi hỏi sự tiến triển của
cả hệ thống và sự giám sát xã hội đối với hoạt động doanh nghiệp. Trong
môi trường kinh doanh, doanh nghiệp khơng bơi một mình, song hành
QTCT, và rút kinh nghiệm từ các thông lệ tốt nhất và các điều chưa
thành công từ các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Tăng cường quyền tự lập quy của doanh nghiệp
Công ty như một hệ thống hợp đồng với sự tham gia của rất nhiều
chủ thể, cơng ty, hơn nữa bản thân nó có sự phức tạp, đặc biệt về mặt tài
chính, nó khác với các hiệp hội, tổ chức phi lợi nhuận ở đó. Lợi ích của
các chủ thể gắn kết nhưng có thể có sự đối kháng, nhiệm vụ của quản trị
công ty là dung hịa và định hướng cho các lợi ích đó đi đúng quỹ đạo
của công ty và phù hợp với các quy định; quyền tự lập quy của công ty
không nằm ngồi mục đích đó.
18
Sự tham dự tích cực tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
Thực tế cho thấy các CTCP hiện nay, chủ yếu các cổ đông thiểu số
tham gia hoạt động giám sát doanh nghiệp dưới hình thức tham gia cuộc
họp Đại hội đồng cổ đông. Tuy nhiên, cuộc họp của cơ quan có quyết
quyết định cao nhất này thường chỉ là thường niên theo luật định với sự
tham gia rất hãn hữu của các cổ đơng, thậm chí là cổ đông tổ chức.
Vấn đề ủy quyền dự họp Đại hội cổ đông, họp Hội đồng quản trị
và tiêu chuẩn thành viên HĐQT
Với hiện trạng CTCP ở Việt Nam hiện nay, cần có quy định cực kỳ
chặt chẽ và hạn chế trong vấn đề ủy quyền dự họp. Điều này liên quan
đến trách nhiệm của cổ đông và của thành viên Hội đồng quản trị. Những
chủ thể này, hơn ai hết, phải là người trực tiếp quản lý hoạt động của
cơng ty để có chỉ đạo thích hợp. Tình trạng ở một số CTCP với các cổ
đông chi phối là các tập đồn, các Tổng Cơng ty nhà nước đang chứng
minh điều này. Việc này làm giảm bớt nghiêm trọng tính hiệu quả trong
hoạt động của cơng ty và uy tín cũng như khả năng thực hiện nghĩa vụ
của công ty đối với các bên thứ ba.
thăng bằng giữa các yếu tố tác động đến công ty.
Đảm bảo quyền lợi cổ đông thiểu số bằng các quy định thực tế
trong Điều lệ công ty: các tố quyền cần được thực thi
Công tác tuyển chọn và đào tạo lãnh đạo doanh nghiệp cũng cần
được đặc biệt chú trọng, khi trong CTCP rất nhiều chủ sở hữu, không
phải quyền sở hữu quyết định một công ty hoạt động hiệu quả như thế
Quyền lợi, lợi ích hay một cái gì đó tương đương ngày nay khơng
chỉ là các lợi ích vật chất gắn liền với cơm ăn áo mặc của người có
quyền; vấn đề này phải được nhìn nhận ở một góc nhìn tổng quan hơn,
đó là (i) việc hưởng quyền, (ii) cơ chế bảo vệ quyền (bao gồm khả năng
khiếu kiện), (iii) khả năng "chuyển đổi" quyền. Qua góc nhìn này, các
quy định về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số theo Luật Doanh nghiệp
2005 nhiều trường hợp chỉ là mang tính hình thức. Ví dụ như tính khả
nhượng thực tế của cổ phần.
19
20
Đào tạo về QTCT
Tăng cường sự chi tiết và tuân thủ Điều lệ
Hiện nay, các vấn đề cơ bản về QTCT đã được đề cập trong Luật
Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản liên quan. Tuy nhiên,
QTCT không phải là một mơ thức chung có tính tuyệt đối cho bất kỳ
doanh nghiệp nào. Do đó, các vấn đề cụ thể về QTCT cần được xác định
bởi chính các cổ đơng của cơng ty và được thể chế hóa vào Điều lệ "luật" của công ty. Các vấn đề về QTCT, xuất phát từ tính đa dạng và
Một nguyên tắc cơ bản của QTCT theo OECD là các thành viên
không điều hành nên chiếm đa số trong cơ cấu HĐQT nhằm mục đích
tăng cường chức năng giám sát của Hội đồng. Tương tự như vậy, một
nguyên tắc của các thông lệ tốt nhất trong giám sát điều hành công ty
ngày càng được nhiều nước áp dụng là Chủ tịch HĐQT, với vai trò là
người đứng đầu lãnh đạo và điều hành Hội đồng quản trị, không nên
đồng thời là Tổng giám đốc điều hành với nhiệm vụ điều hành hoạt động
hàng ngày của công ty (khoản 1 Điều 1 Luật Doanh nghiệp 2005 quy
định Chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty
nếu Điều lệ cơng ty khơng có quy định khác). Trường hợp kiêm nhiệm
có thể gây ra tình trạng lạm dụng quyền lực và không phân định rõ ràng
hoạt động giám sát với hoạt động điều hành.
Khuyến khích phát triển và tăng cường sử dụng các dịch vụ tư vấn
Hiện nay, cơ cấu tổ chức cốt lõi của mơ hình giám sát điều hành
CTCP theo Luật Doanh nghiệp bao gồm ba bộ phận cấu thành có quyền
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế ngày càng sôi động, một thực tế
cần phải được nhìn nhận một cách đúng mực là từ sự chênh lệch về trình
độ phát triển và trình độ quản lý kinh tế giữa Việt Nam và các nền kinh tế
phát triển trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam, thậm chí các cơ
quan quản lý nhà nước Việt Nam, phải dần làm quen với những khái
niệm dường như còn khá xa lạ, đã và đang du nhập vào Việt Nam với tư
cách là những chuẩn mực được công nhận chung trong "sân chơi tồn
cầu", ví dụ như các khái niệm về "quản trị công ty", "thông lệ tốt nhất"
hay "trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp".... Tăng cường áp dụng thơng
21
22
nghĩa về mặt thực tiễn rất lớn.
Về khía cạnh pháp lý: Hiện nay, xu hướng cải cách pháp luật của các
quốc gia, đặc biệt pháp luật về kinh doanh theo hướng chuẩn hóa theo
thơng lệ quốc tế tốt đang diễn ra như một tất yếu, đặc biệt ở các quốc gia
có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam (tài liệu "Doing Bussiness 2007 How To Reform). Luật Doanh nghiệp thống nhất 2005, Luật Chứng
23
Khốn 2006 có các quy định về quản trị cơng ty theo hướng tiệm cận gần
hơn với các thông lệ tốt về quản trị công ty của quốc tế. Nghiên cứu sự thể
chế và cơ chế pháp lý áp dụng thông lệ tốt vào doanh nghiệp trong các văn
bản pháp luật về cơng ty của Việt Nam, do đó, thực sự cần thiết đối với
người nghiên cứu luật kinh doanh. Nhìn chung, các thơng lệ tốt về QTCT
đang dần du nhập sâu hơn vào QTCT của các doanh nghiệp ở Việt Nam,
tuy nhiên, ở các mơ hình cơng ty đặc thù, sự áp dụng các thông lệ này, dù
dưới cơ chế bắt buộc luật định hay tự nguyện áp dụng đều có sự "thắt
chặt" hơn ở loại hình CTCP, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết và
các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khốn.
Tầm quan trọng của việc áp dụng các thơng lệ tốt vào doanh nghiệp
không thể được đánh giá thấp, bởi sự thành cơng hay thất bại của q
trình này ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh về kinh tế của Việt Nam.
Về mặt thực tế cũng như khía cạnh pháp lý, QTCT cịn rất mới đối
với Việt Nam, các cơng ty cịn chưa quen với ngun tắc QTCT theo
thơng lệ quốc tế. Đề tài nêu ra sự cần thiết đối với doanh nghiệp và chính
phủ trong việc áp dụng và khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn quản trị
chuẩn mực nhằm phát triển xã hội và nền kinh tế Việt Nam. Cùng với sự
phát triển nhanh chóng của khối doanh nghiệp cả về số lượng và quy mô,
đặc biệt là sự hình thành các cơng ty lớn, QTCT, cơng cụ giúp tách biệt
giữa sở hữu và quản lý, đang ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng
đồng doanh nghiệp và các nhà xây dựng pháp luật về doanh nghiệp. Việc
đề xuất các cơ chế và phương thức áp dụng thơng lệ tốt về QTCT vào