Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội tốc độ nhanh, bền vững, chất lượng cao ở Việt Nam - Pdf 24

class="bi x0 y0 w1 h1"
class="bi x1 y1 w2 h2"
class="bi x2 y2 w3 h3"
1Ngun: Cun sỏch do TS. inh Vn n ch biờn

Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế,
x hội tốc độ nhanh, bền vững, chất lợng cao
ở Việt nam

Phần mở đầu
Chừng giữa thế kỷ 20 và trong vòng vài thập kỷ qua, quan niệm và thực tiễn
nổi bật trên thế giới là tăng trởng kinh tế. Thời ấy đợc coi là 30 năm vinh
quang hoặc 30 năm vàng ở Âu Mỹ, từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai
đến nửa đầu những năm 1970, khi các nớc Âu Mỹ tăng trởng kinh tế nhanh
và liên tục, thỉnh thoảng chỉ có trục trặc kinh tế hoặc khủng hoảng tình thế nhỏ,
sớm đựoc khắc phục. Lý thuyết tăng trởng kinh tế đợc đề cao, với nhiều tìm
tòi và những phát hiện có giá trị.
Cũng vào thời ấy, ngời ta đ phân chia các nớc trên thế giới thành hai
loại, gồm các nớc phát triển (có khi gọi là các nớc công nghiệp phát triển) và
các nớc đang phát triển (lúc đầu gọi là các nớc kém phát triển, sau đó đổi
thành các nớc đang phát triển); quan niệm và thực tiễn phát triển đ ra đời,
song cha có vị trí hàng đầu và chừng nào còn bị át đi bởi quan niệm và thực
tiễn tăng trởng kinh tế.
Vào 25 năm cuối của thế kỷ thứ 20, quan niệm và thực tiễn phát triển
ngày càng lan rộng và thấm sâu trong khắp các nớc trên thế giới, có tầm phổ
biến toàn hành tinh, đợc nhắc đến hàng ngày trong các diễn văn và tuyên bố
chính thức của các nhà cầm quyền, trong các hội nghị và hội thảo quốc tế và
quốc gia, trong các công trình nghiên cứu của các học giả, trên các phơng tiện

nhu cầu kinh tế là rất cơ bản.
4- Từng quốc gia, từng dân tộc phát huy sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh
thần của mọi thành viên, đoàn kết cùng nhau phấn đấu đạt đến chỗ thoả
mn đợc các nhu cầu mà mình coi là cơ bản và hiện đại.
Một quan niệm về phát triển nh trên đây là khá rõ và dễ đợc chấp
nhận.
Từ khi ra đời cho đến nay, quan niệm và thực tiễn phát triển đ có những
thành tựu và những bớc tiến không ngừng, ngày càng sáng tỏ hơn, cao hơn và
sâu hơn.
Vài thập kỷ cuối thế kỷ 20. một ngành khoa học kinh tế mới, là kinh tế
học phát triển, đ ra đời, đợc giảng dạy tại các trờng đại học của nhiều nớc
trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, kinh tế học phát triển đ có nhiều
chuyên gia nổi tiếng, cả về lý luận và về thực hành.
Nhng không chỉ có riêng kinh tế học phát triển và thực tiễn phát triển về
mặt kinh tế. Từ vài thập kỷ nay, quan niệm và thực tiễn phát triển đ có một số
bớc tiến lớn, theo hớng toàn diện hơn, đáng gọi là bớc đột phá. Đó là thành
tựu của sự hợp lu nhiều sức mạnh có tính thời đại, sức mạnh của nhân dân các
nớc, đặc biệt là những nớc đang phát triển, trong đó có công đầu của những
nớc đ cất cánh thành công, sức mạnh của cộng đồng quốc tế, sức mạnh của
3các lực lợng cánh tả chống những sai trái của chủ nghĩa tự do mới, đấu tranh
cho một sự phát triển dân chủ, nhân văn, công bằng, văn minh và đạo đức,
trong đó có đóng góp lớn của nhiều nhà khoa học tiến bộ và rất nổi tiếng. Bớc
đột phá ấy đ tạo khả năng và gây sức ép cải cách (trong chừng mực nào) chủ
trơng và cách làm của nhiều tổ chức chính trị, kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế,
văn hoá hoạt động trên quy mô toàn cầu hoặc khu vực.
Cuối thế kỷ thứ 20 và đầu thế kỷ thứ 21, mấy hội nghị thợng đỉnh và một
loạt hội nghị chuyên đề của Liên hiệp quốc liên tiếp đa ra và nhấn mạnh quan


vạch ra chiều cạnh văn hoá, và cả chiều cạnh chính trị, của sự phát triển. Đó là
thêm một sự bổ sung rất cơ bản và rất hiện đại cho quan niệm và thực tiễn phát
triển, và một lần nữa, sự bổ sung ấy lại hợp với chủ trơng và việc làm của nớc
ta từ trớc đó.
Trên đây là những nguyên nhân vì sao chúng ta nêu ra chủ đề : Phát
triển kinh tế, xã hội tốc độ nhanh, bền vững, và chất lợng cao ở Việt
Nam. Có thể tóm tắt nh sau :
1- Chúng ta nhấn mạnh tốc độ nhanh, vì đó là điều quyết định và hoàn toàn
có thể làm đợc để không bị tụt hậu xa hơn, mà còn đuổi kịp các nớc
trong khu vực và bắt nhịp cùng thời đại.
2- Chúng ra nhấn mạnh tính chất bền vững của sự phát triển, với ba chiều
cạnh : tăng trởng kinh tế, công bằng x hội, gìn giữ môi trờng, vì đó là
khẩu hiệu và hớng phấn đấu phổ biến trên thế giới ngày nay, hợp với chủ
trơng của Đảng và Nhà nớc ta.
3- Chúng ta nhấn mạnh chất lợng cao, hàm ý một chất lợng toàn diện của
sự phát triển, bổ sung chiều cạnh dân chủ, tự do và chiều cạnh phát triển
con ngời vào ba chiều cạnh đ đợc xác định của quan niệm phát triển
bền vững.
Sự phát triển có chất lợng cao toàn diện nh vậy chính là chủ trơng và
hớng phấn đấu nhất quán của nhân dân ta, với nhận thức rằng đến giai đoạn
hiện nay, chính việc nâng cao chất lợng toàn diện sẽ mang lại tốc độ nhanh cho
sự phát triển của nớc ta.
Sau khi đ trình bày ngắn gọn về chủ đề của đề tài nghiên cứu này, tiếp
theo, xin giới thiệu thêm, một cách sơ lợc, về từng bộ phận của chủ đề:
I- Về tốc độ nhanh của sự phát triển
Trên thế giới, ở khắp các nớc, tốc độ tăng trởng kinh tế về mặt số lợng
đều đợc đánh giá bằng tốc độ tăng tổng GDP và tốc độ tăng GDP đầu ngời
hàng năm hoặc từng thời kỳ nhiều năm.
Từ hàng thập kỷ nay, nền kinh tế nớc ta đ tăng trởng 7% đến 7,5%

nghĩa ấy có vẻ nh chỉ nặng về bảo vệ môi trờng. Tuy nhiên, trong thực tế thì
ngay từ năm 1992, tại Rio de Janeiro, Liên hiệp quốc đ nêu ra rằng bảo vệ môi
trờng, tăng trởng kinh tế và bình đẳng x hội là ba yếu tố cơ bản tơng tác
chặt chẽ với nhau của sự phát triển bền vững.
T tởng ấy đợc phát triển thành nhiều chủ trơng và biện pháp mới tại
Hội nghị thợng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững ở Johannesburg năm 2002.
Hội nghị thợng đỉnh này nhận định rằng các vấn đề về môi trờng trên thế giới
là hậu quả của việc bùng nổ dân số toàn cầu, của việc tiêu thụ ngày càng nhiều
tài nguyên, của các mục tiêu kinh tế ngắn hạn, của việc quá chú trọng lợi nhuận
dẫn đến phí phạm nghiêm trọng các nguồn lực thiên nhiên, và đặc biệt là của
tình trạng bất công x hội, gây ra và khoét sâu khoảng cách giàu nghèo.
II.1. Về bảo vệ môi trờng, các chủ trơng của Liên hiệp quốc bao gồm :
Tiết kiệm năng lợng, bớt dùng các nguồn năng lợng không thể tái
tạo, tăng cờng dùng các nguồn năng lợng có thể tái tạo.
Chống hiệu ứng nhà kính làm khí hậu trái đất nóng lên.
6 Bắt buộc giảm rác thải và phát triển một hệ thống quản lý các chất
liệu trên toàn cầu.
Loại bỏ các sản phẩm hoá học nguy hiểm, độc hại, nhất là chất
Chlorofluorocarbones (CFC) là chất phá huỷ tầng ô-dôn, và các chất
hữu cơ lâu tan, có thể lan toả trong không khí, gây ô nhiễm môi
trờng.
Kiểm kê và bảo vệ sự đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu, chia sẻ
công bằng lợi ích từ việc khai thác sự đa dạng sinh học.
Bảo vệ các nguồn nớc, các mặt đất, các khu rừng, các vừng biển, và
bầu khí quyển của trái đất, chống mọi sự ô nhiễm và phá hoại.
ở nớc ta, từ nhiều thập kỷ nay, cân bằng sinh thái bị xâm phạm và phá
vỡ, môi trờng bị nhiễm độc và huỷ hoại nặng, về mọi mặt vừa đợc nêu ra trên

ngời hiện đang sống trong các khu nhà ổ chuột.
Để thực hiện những mục tiêu cụ thể trên đây, phải xây dựng một quan hệ
đối tác mới giữa các quốc gia, nhằm: thiết lập một hệ thống thơng mại
và tài chính đa phơng mở, cam kết ủng hộ sự phát triển bền vững, đấu
tranh chống nghèo đói; đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của các nớc kém
phát triển nhất; giải quyết vấn đề nợ của các nớc đang phát triển, chủ
yếu bằng giảm nợ và xoá nợ; tạo công ăn việc làm phù hợp và có lợi cho
thanh niên; làm cho các loại dợc phẩm sẵn có và có thể mua đợc ở các
nớc đang phát triển; hợp tác giữa khu vực nhà nớc và khu vực t nhân,
đa những công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ tin học và viễn thông,
sẵn sàng phục vụ tất cả mọi ngời.
Trên đây quả là một chơng trình thực hiện công bằng x hội rộng lớn và
đầy tham vọng, không dễ hoàn thành. Cũng nh hàng trăm nớc khác, chúng ta
đ hội nhập những mục tiêu thiên niên kỷ này vào các chong trình, kế hoạch
phát triển kinh tế, x hội của nớc ta và đang ra sức thực hiện. Thành quả xoá
đói giảm nghèo của nớc ta đ đợc đánh giá cao trên thế giới.
Căn cứ vào thực tế nớc ta, trong việc thực hiện công bằng x hội, chúng ta
chú trọng cả công bằng về cơ hội và công bằng về phân phối thu nhập giữa các
cá nhân, quan tâm tạo sự bình đẳng thực sự trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh giữa các loại hình doanh nghiệp, ra sức xây dựng những mối quan hệ x
hội công bằng trong mọi lĩnh vực. Chúng ta đặc biệt nhấn mạnh việc chống lại
những hành vi làm giàu bất chính và trái luật pháp bằng những thủ đoạn nh
tham nhũng, ăn cắp của dân, gian lận thơng mại, trốn thuế lậu thuế, những
cách làm giàu xấu xa này thờng đi đôi với sự ăn tiêu xa xỉ, hởng lạc, gây sự
bất bình và phẫn nộ của nhân dân. (Cũng cần ghi nhận rằng nạn tham nhũng vốn
có từ xa xa trong lịch sử loài ngời, nhng từ hơn một thập kỷ nay đ nổi lên
nh một vấn đề rất nghiêm trọng có tính chất toàn cầu, ở mọi quốc gia).
Cùng với công bằng x hội, chúng ta đề ra thực hiện tiến bộ x hội. Khái
niệm tiến bộ x hội đang tiếp tục đợc giới nghiên cứu của nớc ta thảo luận để
đi đến xác định rõ và thống nhất với nhau. Tuy nhiên, có thể nói ngắn gọn rằng

chủ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, x hội, ở tất cả các cấp, các ngành, dân chủ
từ Trung ơng, từ cả nớc đến dân chủ trực tiếp ở cơ sở. Chúng ta đang thúc đẩy cải
cách Nhà nớc, gồm cải cách tổ chức và hoạt động của Quốc hội, cải cách nền hành
chính, cải cách nền t pháp, trong đó trung tâm là cải cách hành chính, chủ yếu nhằm
thực hiện dân chủ với dân, với doanh nghiệp. Chúng ta đang phấn đấu nâng cao vai trò
của Mặt trận Tổ quốc, của các đoàn thể chính trị, x hội, của các hội, coi đó là những
tác nhân quan trọng của nền dân chủ. Chúng ta đặc biệt ra sức xây dựng và chỉnh đốn
Đảng, trong đó một điều rất cơ bản là làm cho Đảng lnh đạo trở thành gơng mẫu về
dân chủ đối với toàn x hội.
Dân chủ gắn liền với tự do, dân chủ và tự do tơng tác với nhau, là điều kiện và
phơng tiện của nhau. Cùng với việc phấn đấu thực hiện một cách đích đáng nền dân
chủ, chúng ta phấn đấu thực hiện một cách đich đáng các quyền tự do của ngời công
dân và của con ngời.

1
ICOR: Chỉ số về suất đầu t để tăng thêm một đơn vị GDP
9
Toàn bộ những việc làm đó về dân chủ và tự do là nhân tố then chốt, có tính
chất quyết định nâng cao chất lợng của sự phát triển.
III.3.Về phát triển con ngời, đó chính là mục tiêu cao nhất và động lực mạnh nhất của
sự phát triển, là tiêu chí tổng hợp nhất và chuẩn xác nhất để đánh giá chất lợng phát
triển. Chúng ta đang rất cố gắng để làm cho mục tiêu phát triển con ngời thấm nhuần
một cách thiết thực trong mọi lĩnh vực hoạt động x hội. Đồng thời, chúng ta đặc biệt
đẩy mạnh một số hoạt động trực tiếp nhất tác động đến sự phát triển con ngời, đó là
hiện đại hoá nền giáo dục quốc dân, thực hiện x hội học tập, là đổi mới và tăng cờng
công tác chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khoẻ của nhân dân, là tạo những điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển con ngời một cách toàn diện.

TRấN TH GII
1. Phỏt trin v chớnh sỏch phỏt trin kinh t - xó hi
Cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc, hớng tới sự phát triển toàn
diện của con ngời l mong c ca mi ngi v ca c loi ngi. ú l
nhng mc tiờu m tt c cỏc xó hi u đặt ra cho sự phát triển của mình.
Vo th k 20, khái niệm tăng trởng kinh tế nổi bật lên trong mấy thập
niên; sự tăng trởng kinh tế đợc hiểu nặng về số lợng, do đó c ỏnh giỏ
ch yu thụng qua tổng sản phẩm trong nớc (GDP) hoặc tng sn phm quc
dõn (GNP) v thu nhp u ngi ca mt quc gia. Từ nhiều năm nay, nhng
bn lun v phỏt trin thng gn vi nhng cõu hi nh: ti sao cỏc nc
nghốo b nghốo v cỏc nc giu c giu? Ti sao cỏc nc nghốo li tt
hu? Lm th no cỏc nc nghốo bt kp cỏc nc giu? Nhng cõu hi nh
vy th hin mt cỏch tip cn hp, tp trung vo chiu cnh kinh t ca phỏt
trin.
Trong thp k 1960, s ng nht tng trng kinh t vi phỏt trin ó b
ch trớch d di t nhiu phớa. Nh kinh t hc Dudley Seers
2
(1967) cho rng ớt
nht phi b sung thờm ba ũi hi bt buc vo khỏi nim phỏt trin, ú l gim
úi nghốo v suy dinh dng, gim bt bỡnh ng thu nhp v ci thin iu
kin vic lm. Mt nc cú th tng trng kinh t nhanh, nhng vn trong
tỡnh cnh ti t xột ti cỏc mt nh trỡnh bit c, bit vit ca ngi dõn,
sc khe, tui th v dinh dng (Stiglitz 1989
3
). Cỏc tn hi v mụi trng
gõy ra bi quỏ trỡnh tng trng kinh t cha c lu tõm y (Mishan,
1967)
4
. Tng trng kinh t khụng nht thit lm ngi dõn hnh phỳc. Mc


liệu điều tra xã hội học nghiêm túc được tiến hành vào năm 1993, đã đi đến kết
luận đầy cay đắng rằng: “Tăng trưởng kinh tế ở Mỹ còn có một tên gọi khác, đó
là sự xuống cấp xã hội”. Một số người, trong đó có Harribey
6
(2004), cho rằng
tăng trưởng kinh tế mâu thuẫn với phát triển nếu quan sát từ góc nhìn dài hạn.
Sẽ là ảo tưởng khi cho rằng việc duy trì tăng trưởng kinh tế lâu dài có thể giải
quyết mọi vấn đề xã hội và môi trường, trong khi hầu hết những vấn đề này lại
bị tạo ra hoặc bị làm trầm trọng hơn bởi chính quá trình tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, tới nay, ý kiến chung vẫn cho rằng tăng trưởng là tiền đề chủ
chốt của phát triển, trong khi phát triển bao hàm nhiều chiều cạnh rộng hơn tăng
trưởng.
Gunnar Myrdal, nhà kinh tế được trao giải Nobel về kinh tế năm 1974,
cho rằng có một nhóm các “giá trị phát triển” hoặc các “giá trị hiện đại” dễ
được nhất trí. Khái niệm phát triển do vậy liên quan tới quá trình tiến hoá của
toàn bộ xã hội hướng tới một số giá trị phát triển định trước. Có thể kể ra các
giá trị phát triển như tăng trưởng kinh tế, tăng mức sống, giảm bất bình đẳng xã
hội và kinh tế, độc lập, đoàn kết dân tộc, dân chủ hoá chính trị, những thay đổi
tích cực về cấu trúc gia đình, văn hoá, chuyển dịch của các xã hội nông nghiệp,
công nghiệp hoá và bảo vệ môi trường.
Tuy ý tưởng về việc tồn tại những giá trị hay mục tiêu phát triển phổ quát
là một ý tưởng tốt và hứa hẹn, nhưng thực tế cho thấy không có một định nghĩa

5
Amartya Sen, 1999. Development as freedom. New York: Knopf.
Amartya Sen, đoạt giải Nobel về kinh tế năm 1998, được coi là một chuyên gia hàng đầu hiện nay
trong lĩnh vực kinh tế học nghiên cứu về chống đói nghèo và phát triển.
6
Jean-Marie Harribey, 2004. Do We Really Want Development? Growth, the World's Hard Drug. Le
Monde Diplomatique, August 2004 .

con người được hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khoẻ và sáng tạo. Chân lý đơn
giản nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi
của cải vật chất và tài chính” (UNDP, 1990).
Sự xuất hiện gần đây của “phát triển bền vững” là một bổ sung rất cần
thiết và hữu ích cho khái niệm phát triển. Phát triển phải bảo đảm sự công bằng
giữa các thế hệ, đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hôm nay nhưng không làm tổn
hại đến lợi ích của các thế hệ mai sau. Phát triển bền vững về kinh tế thể hiện ở
sự tăng trưởng ổn định và lâu dài, cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng
cao đời sống người dân, tránh để lại nợ nần cho các thế hệ sau. Phát triển bền
13

vững về xã hội thể hiện ở các mặt như bảo đảm dinh dưỡng và chất lượng
chăm sóc sức khỏe cho người dân, mọi người đều có cơ hội được học hành,
giảm đói nghèo và khoảng cách giàu nghèo, cải thiện mức độ công bằng về
quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên xã hội, duy trì và phát huy tính đa
dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, dân chủ hóa xã hội. Phát triển bền vững về
môi trường thể hiện ở việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên, bảo tồn được sự đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm, cải thiện môi trường.
Tới đây, có thể rút ra một số kết luận về quan niệm phát triển:
- Thứ nhất, cho dù thông qua những con đường, những cách thức lập luận,
chứng minh rất khác nhau, trên thực tế, hầu hết các tác giả nghiên cứu về
phát triển đều đi đến kết luận về một nhóm mục tiêu phát triển khá tương
tự nhau. Sau đó, định nghĩa phát triển là một quá trình hướng tới những
mục tiêu phát triển này.
- Thứ hai, việc gia tăng năng suất và sản lượng tính theo đầu người ở các
nước nghèo là một thành phần thiết yếu trong mọi định nghĩa về phát
triển.
- Thứ ba, việc có những “mục tiêu” hay “giá trị” phát triển không có nghĩa
là mọi xã hội buộc phải phát triển theo cùng cách thức, hoặc họ buộc phải
hội tụ về các tiêu chuẩn chung.

5. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản
6. Kỷ luật tài chính
7. Cải cách chi tiêu công
8. Cải cách thuế
9. Tự do hoá lãi suất
10. Tỷ giá cạnh tranh
11. Quản trị công ty
12. Chống tham nhũng
13. Các thị trường lao động tự do
14. Trung thành với các nguyên
tắc của WTO
15. Tự do hoá tài khoản vốn một
cách thận trọng
16. Ngân hàng TW độc lập
17. Các mạng lưới an toàn xã hội
18. Xoá đói giảm nghèo
19. Đầu tư cho giáo dục
20. Dân chủ hoá
Nguồn: Rodrik, 2004
Cột bên trái của Bảng 1 cho thấy danh sách ban đầu của Đồng thuận
Washington, tập trung vào tính cạnh tranh, kỷ luật tài chính và tư nhân hoá. Về
cuối thập kỷ 1990, danh sách này được bổ sung thêm một loạt những cái gọi là
"cải cách thế hệ thứ hai", có tính chất thể chế nhiều hơn và hướng vào các vấn
đề của "quản lý tốt". Một sự kiểm kê toàn bộ những cải cách bổ sung cho Đồng
thuận Washington khá dài và chưa có sự nhất trí chung. Năm 2004, Dani
Rodrik
7
, giáo sư đại học Harvard, đã tổng kết 10 mục bổ sung cho Đồng thuận
Washington như được trình bày trong cột phải của Bảng 1. Cần nêu rõ rằng một
số điểm bổ sung đã đi ngược hẳn chủ nghĩa tân tự do, phủ định quan điểm cơ

Thực tiễn tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong hai thập kỷ qua đã làm sụp
đổ kỳ vọng của các nhà cố vấn chính sách, những người nghĩ rằng có một bộ
chính sách cố định luôn luôn tốt cho tăng trưởng.
Một kết luận ngày càng được nhất trí trong cộng đồng các nhà kinh tế
cũng như các nhà lập chính sách phát triển: các học thuyết kinh tế mới chỉ đạt
được những thành công rất hạn chế trong việc mô tả thế giới thực vô cùng sinh
động và đa dạng của sự phát triển của loài người. Chưa có học thuyết nào thành
công như hứa hẹn. Việc lặp đi lặp lại những đơn thuốc chung (ví dụ như các
chương trình cải cách cơ cấu tân tự do) cho cả thế giới, trung thành mù quáng
với một học thuyết nào đó trong khi phớt lờ những hiện thực khách quan cá biệt
về xã hội, chính trị và kinh tế ở mỗi quốc gia, là một hành động thường mang
lại hậu quả xấu. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc không thể rập khuôn mù quáng và
máy móc theo bất cứ học thuyết phát triển nào, mà phải chủ động, linh hoạt
quyết định và thực hiện con đường phát triển của riêng mình, hợp với hoàn
cảnh đất nước, hợp với truyền thống lịch sử và bản sắc dân tộc mình, hợp với
xu thế thời đại, chỉ có như vậy mới đạt tới thành công.

16

2. Một số chiều cạnh cơ bản trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tốc
độ nhanh, bền vững và chất lượng cao
Hiện nay đã có rất nhiều định nghĩa về phát triển. Hầu hết những định
nghĩa đó đều rất “mở”, gợi ra nhiều câu hỏi hơn là cung cấp những câu trả lời.
Một trong những định nghĩa đáng chú ý của “phát triển” đã được đưa ra trong
“Phần Mở đầu” của tài liệu nghiên cứu này. Có một sự thống nhất tương đối
rằng phát triển dựa trên 3 cột trụ chính, đó là kinh tế, xã hội và môi trường.
Tuy nhiên, nội dung cụ thể của những cột trụ này lại đang được diễn giải rất
khác nhau, trong đó chiều cạnh “xã hội” được gắn cho nhiều ý nghĩa nhất. Theo
nghĩa rộng, “xã hội” bao gồm cả các khía cạnh như “chính trị” và “phát triển
con người”. Nếu như trước đây nói đến thành quả của sự phát triển kinh tế - xã

tăng trưởng cao dù xét theo tiêu chuẩn nào đi nữa. Để có một tầm nhìn bao quát
hơn, cần lưu ý rằng tăng trưởng GDP thực đầu người của nước Anh chỉ là 1,3%
trong suốt thời kỳ nước này chiếm vị thế thượng phong kinh tế vào giữa thế kỷ
19 (1820-1870) và Mỹ chỉ tăng trưởng 1,8% trong nửa thế kỷ sau Chiến tranh
thế giới thứ nhất, giai đoạn mà Mỹ đã chiếm được vai trò ưu trội từ nước Anh
(Maddison 2001).
Tuy nhiên, bức tranh tổng hợp này đã che giấu những khác biệt khổng lồ
trong thành tích tăng trưởng, cả về địa lý và thời gian. Có những nước tăng
trưởng cao và những nước tăng trưởng thấp; có những nước tăng trưởng cao
trong toàn bộ thời kỳ và những nước tăng trưởng bùng phát trong một hoặc hai
thập kỷ; có những nước đã cất cánh vào thập kỷ 80 (của thế kỷ 20) và những
nước mà tăng trưởng đã đổ sụp trong thập kỷ đó.
Bảng 2: Bức tranh tăng trưởng kinh tế của thế giới 1960-2000

Đóng góp của:
Vùng/khu vực
GDP
(%/năm)
GDP đ
ầu
người
(%/năm)

Vốn vật chất

Giáo dục Năng suất
Th
ế giới (84
nước)


1990-2000 5.7 3.4 2.3 0.5 0.5

Châu Mỹ Latinh
(22 nước)

1960-70 5.5 2.8 0.8 0.3 1.6
1970-80 6.0 2.7 1.2 0.3 1.1
1980-90 1.1 -1.8 0.0 0.5 -2.3
19

1990-2000 3.3 0.9 0.2 0.3 0.4

Nam Á (4 nư
ớc)
1960-70 4.2 2.2 1.2 0.3 0.7
1970-80 3.0 0.7 0.6 0.3 -0.2
1980-90 5.8 3.7 1.0 0.4 2.2
1990-2000 5.3 2.8 1.2 0.4 1.2

Châu Phi (19
nước)

1960-70 5.2 2.8 0.7 0.2 1.9
1970-80 3.6 1.0 1.3 0.1 -0.3
1980-90 1.7 -1.1 -0.1 0.4 -1.4
1990-2000 2.3 -0.2 -0.1 0.4 -0.5

Trung Đông (9
nước)


mức 4,8%; các nước Đông Á đạt khoảng 4,4%.
- Kỷ lục về tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của một quốc gia trong
khoảng thời gian 1 thập kỷ thuộc về các nước Đông Á, khi Nhật Bản,
Trung Quốc và Singapore đều đã từng đạt được một hoặc hai thập kỷ
tăng trưởng “kỳ diệu”, với tốc độ tăng trưởng trung bình trên 10%/năm.
Như vậy các bài học lịch sử có khuynh hướng chỉ ra rằng một quốc gia,
dù ở bất kỳ trình độ phát triển nào, có rất ít khả năng đạt được tốc độ tăng
trưởng GDP đầu người trung bình trên 5% trong một giai đoạn dài (từ 4 thập kỷ
trở lên). Tuy nhiên, trong trung hạn, tức là trong vòng khoảng 1 thập kỷ, khi ở
vào những điều kiện thật sự thuận lợi cả bên trong và bên ngoài, một nền kinh
tế quốc gia có thể đạt tới tốc độ tăng trưởng trung bình xấp xỉ 10%, tức là tỷ lệ
tăng trưởng GDP/đầu người vào khoảng 8%/năm. Tuy nhiên, thành tích này rất
ít khi đạt được. Một tỷ lệ tăng trưởng GDP khoảng 8%/năm (GDP đầu người

8
Bosworth and Collins (2003). “The Empirics of Growth: An Update”
Brookings Panel on Economic Activity, September 4-5, 2003 21

khoảng 6-6,5%/năm) trong vòng 1 thập kỷ có thể được coi là một mục tiêu rất
cao đối với bất kỳ quốc gia nào.

2.1.2. Về “chất lượng” của tăng trưởng
Trong vòng bốn thập kỷ vừa qua, chỉ có một số ít quốc gia, chủ yếu ở
khu vực Đông Á, đã dần hội tụ về mức thu nhập của các nước giàu. Đại đa số
sự bùng nổ tăng trưởng ở các nước đang phát triển có xu hướng bị dừng lại
ngay sau đó. Kinh nghiệm của châu Mỹ Latinh vào đầu thập kỷ 1980 và sự sụp
đổ còn đột ngột hơn của châu Phi cận Xahara đại diện cho hiện tượng này. Tăng

- Tăng trưởng không tương lai, là tăng trưởng trong đó thế hệ hiện nay
phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến.
Một số các phân tích có liên quan của các nhà kinh tế học nổi tiếng
như R. Lucas
9
và J. Stiglitz ngụ ý rằng “chất lượng tăng trưởng” biểu hiện tập
trung ở các tiêu chuẩn chính sau đây:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn và tránh được những
biến động từ bên ngoài;
- Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, được thể hiện ở sự đóng góp của
năng suất nhân tố tổng cao và không ngừng gia tăng;
- Tăng trưởng phải bảo đảm nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế;
- Tăng trưởng đi kèm với phát triển môi trường bền vững;
- Tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt nó thúc
đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn;
- Tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giảm
được đói nghèo.
Cho tới nay, Báo cáo “Chất lượng tăng trưởng kinh tế” (Quality of
Growth
10
) năm 2000 của Ngân hàng thế giới là tài liệu phân tích toàn diện nhất
về chủ đề này. Báo cáo không đưa ra định nghĩa cụ thể về chất lượng tăng
trưởng, nhưng có nhấn mạnh 2 khía cạnh chính của chất lượng tăng trưởng. Đó
là (1) tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn và (2) tăng trưởng
cần phải đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống.
Dựa vào thực tế và một số chỉ tiêu phát triển chủ yếu của các nền kinh tế,
có thể nhận thấy rõ những cách tiếp cận khác nhau đối với chiến lược tăng
trưởng kinh tế của các nước. Đối với các nước đang phát triển ở trong giai đoạn
đầu công nghiệp hoá, việc đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng được đặt lên hàng đầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status