LUẬN VĂN:
tìm giải pháp để cho DNNN thực hiện
vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển
kinh tế xã hội Lời nói đầu
Trọng tâm của công việc đổi mới kinh tế do Đảng ta đề ra và tổ chức thực hiện
nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do Nhà nước quản lý.
DNNN có tên gọi, có con dấu riêng, và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam
Luật DNNN đề cập đến hai chủ thể đều được coi là doanh nghiệp. Đó là
doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
công ích Nhà nước có chức năng kinh tế và xã hội với tư cách là đại diện chủ sở hứu
đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước có trách nhiệm duy trì và ot khối tài
sản to lớn của Nhà nước nhằm phục vụ các lợi ích chung của toàn xã hội. Doanh
nghiệp Nhà nước do Nhà nước đầu tư vốn và thành lập, được sử dụng như một công
cụ quan trọng của công tác quản lý và điều hành vĩ mô của Nhà nước. Do đó DNNN
vừa phải thực hiện nhiệm vụ xã hội vừa phải đồng thời tổ chức các hoạt động kinh tế
với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
II. đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước
- Thứ nhất: DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư và thành lập.
Trước hế, DNNN là một tổ chức kinh tế nên phải lấy các hoạt động sản xuất
kinh doanh làm chủ yếu. Hoạt động này có tính chất liên tục trong suốt quá trình tồn
tại của doanh nghiệp theo đúng lĩnh vực, ngành nghề đã đăng ký tổ chức kinh tế chịu
trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình với tư cách là một tổ chức kinh tế, DNNN
là một thực thể độc lập với cơ quan công quyền, tổ chức xã hội.
DNNN trước hết phải được Nhà nước đầu tư vốn, nhưng vấn đề ở đây là Nhà
nước đầu tư vốn như thế nào? xét trên khía cạnh hình thành thì doanh nghiệp hay một
công ty mới thành lập, vấn đề sở hữu ban đầu quyết định loại hình của doanh nghiệp
hay của công ty đó, nếu vốn ban đầu của một công ty là vốn cổ phần thì rõ ràng là
công ty cổ phần. Nếu vốn ban đầu là của nhóm người không phải phát hành cổ phiếu
thì doanh nghiệp đó là công ty trách nhiệm hữu hạn.
Vì Nhà nước là người đầu tư toàn bộ vốn điều lệ và không chia sẻ với bất cứ
ai quyền đầu tư vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp, cho nên Nhà nước đương
động nghiên cứu chuyển đổi hướng kinh doanh, tất nhiên phải đăng ký theo quy định
chung. DNNN không phải thực hiện mục tiêu do Nhà nước đề ra theo thiết kế ban
đầu. Nhưng cũng không thể quy định chỉ có các doanh nghiệp công ích hoạt động
trên lĩnh vực công cộng, đảm bảo an ninh, quốc phòng, mới bắt buộc phải theo thiết
kế ban đầu của Nhà nước còn các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có thể tự thay
đổi hướng kinh doanh miễn là kinh doanh có lãi có đóng góp cho ngân sách, tạo làm
việc, thu nhập cho công nhân theo chúng tôi DNNN có thể thay đổi mục tiêu nhưng
không thể tự ý thay đổi mà không có sự cho phép của Nhà nước. Nhà nước là chủ sở
hứu được DNNN, do đó quyền đặt ra mục tiêu và thay đổi mục tiêu là quá trình hoạt
động của doanh nghiệp là quyền của Nhà nước.
- Thứ ba: DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền quản lý vốn và tài sản do
Nhà nước giao, DNNN có tư cách pháp nhân tức là nó có tư cách để trở thành một
chủ thể đầy đủ của các quan hệ pháp luật dân sự, có khả năng hưởng quyền dân sự và
năng lực dân sự, có quyền dân sự và chịu trách nhiệm dân sự.
Nói đến tài sản của pháp nhân là tổ chức kinh tế trước hết là nói đến vốn của
nó, vốn của pháp nhân phải phù hợp với quy định của pháp luật. Pháp nhân phải có
đủ số vốn cần thiết để có đủ tư cách độc lập tham gia vào các quan hệ dân sự. ở đây,
tài sản của doanh nghiệp phải hội tụ hai điều kiện.
- Một: Tài sản của pháp nhân phải độc lập với người đầu tư và do pháp nhân
độc lập chi phối.
- Hai: Tài sản của pháp nhân phải đạt tới mức tối thiểu do pháp luật qui định
(không thấp hơn mức vốn pháp định).
DNNN cũng phải thoả mãn hai điều kiện trên đây, nhưng điều kiện 1 đối với
DNNN là rất đặc thù là vấn đề mấu chố liên quan đến hàng loạt vấn đề về tổ chức và
hoạt động của DNNN.
Một nguyên tắc luôn được đề cao đó là tài sản trong DNNN là tài sản thuộc
sở hữu Nhà nước, doanh nghiệp chỉ có quyền quản lý và sử dụng. Nhưng vấn đề là ở
chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh, tự phát triển tự ràng buộc, DNNN có
quyền tự sản xuất kinh doanh và cốt lõi vật chất của quyền này quyền tự chủ về vốn,
của DNNN được mở rộng. Để hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm lĩnh thị trường,
giành ưu thế trong cạnh trạnh, pháp luật cho phép DNNN được quyền sử dụng tài
sản, thế chấp tài sản (những thiết bị, nhà xưởng, quan trọng phải được cơ quan có
thẩm quyền cho phép) trên cơ sở bảo toàn và phát triển vốn, có quyền dùng tài sản
của doanh nghiệp để đầu tư, liên doanh góp vốn cổ phần theo quy định của pháp luật,
được giữ lại với khấu hao cơ bản để tích luỹ, sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư.
III. Thực trạng DNNN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới, sự ra đời và tồn tại của kinh tế
quốc doanh đều có những nguyên nhân khách quan chi phối. Trong suốt thời kỳ dài,
chúng ta thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lấy việc mở rônghj phát
triển khu vực kinh tế Nhà nước bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân làm mục tiêu
cho việc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy mà khu vực kinh tế quốc
doanh đã phát triển rộng khắp trên mọi lĩnh vực và chiểm tỷ trọng tuyệt đối trong
nền kinh tế quốc dân. Biểu 1: Cơ cấu các khu vực kinh tế - những chỉ tiêu chủ yếu
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu
Kinh tế xã hội chủ nghĩa
Kinh tế tư
nhân cá thể
Tổng
số
Quốc doanh và
công ty hợp danh
Nhà nước ta đã chủ trương đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp, chuyển
sang cơ chế hạch toán kinh doanh mở rộng quyền tự chủ về tài chính cho doanh
nghiệp. Bằng một loạt hệ thống văn bản pháp qui, từ quyết định 217/HĐBT ngày 14
tháng 11 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh
doanh của DNNN, tiếp đó là Nghị định số 500/HĐBT ngày 23 tháng 3 năm 1998 của
Hội đồng Bộ trưởng ban hành điều lệ xí nghiệp quốc doanh. Nghị định số 98/HĐBT
ngày 20 tháng 6 năm 1988 ban hành quy định về quyền làm chủ tập thể lao động tại
xí nghiệp quốc doanh
Do áp dụng các biện pháp sát nhập, giải thể những doanh nghiệp nhỏ làm ăn
thua lỗ, đến nay còn khoảng 5280 DNNN, giảm được hơn 7.000 doanh nghiệp. Kết
quả nâng qui mô vốn bình quân của doanh nghiệp là 3,3, tỷ đồng (1990) đến 11 tỷ
đồng (1996) hơn 18 tỷ đồng (1998) và hơn 20 tỷ đồng (1999). DNNN vẫn giữ được
vai trò chủ đạo trong nhiều ngành kinh tế khác nhau đặc biệt là những ngành quan
trọng, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ quan trọng của nền kinh tế như điện,
nước, than, xi măng, vận tải, hàng không, bưu chính viễn thông, công nghệ thông
tin DNNN chiếm tỷ trọng lớn trong GDP: 1992 là 40,12%, năm 1996 là 39,9%,
năm 1997 là 40,5%, năm 1998 là 40,2%, năm 1999 là 40,12%. Trong 5 năm từ 1991
- 1995 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của doanh nghiệp là 11,7% gần gấp
rưỡi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và gần gấp đôi kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong giai đoạn 1996 đến 1999 tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cũng như của
DNNN giảm do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của DNNN vẫn
cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nói chung tỷ trọng tổng sản phẩm của
DNNN trong cơ cấu tổng sản phẩm. Trong nước tăng từ 40,7% (1995) lên đến
41,23% (1998) DNNN đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Tốc độ tăng
kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm 20%. DNNN là đầu mối xuất khẩu hầu hết
nhuận. Số doanh nghiệp lỗ trong ngành thương mại, dịch vụ, khách sạn chiếm tới
41%. Tỷ lệ DNNN thực sự có hiệu quả giảm dần từ khoảng 50% đầu những năm 90.
Năm 1999, theo đánh giá chung số doanh nghiệp có lãi thực sự còn khoảng 20%, số
doanh nghiệp bị lỗ chiếm 25%. Nếu tính đủ khấu hau giá trị tài sản cố định thì doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ còn lớn hơn số doanh nghiệp còn lại nằm trong tình trạng
không ổn định, khi lỗ khi lãi và lãi cũng không lớn.
Biểu 4: Hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp Nhà nước
Chỉ tiêu 1995 1996 1997
Vốn Nhà nước (tỷ đồng) 76.770 93.816 107.343
Lợi nhuận thực hiện (tỷ đồng) 10.913 13.466 14.072
Tỷ suất lợi nhuận/ vốn (%) 14,2 14,3 13,0
Công nợ trong các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay là quá lớn. Nợ phải thu
chiếm tới trên 60%. Nợ phải trả bằng 124% vốn Nhà nước trong doanh nghiệp. Mặc
dù ngân sách Nhà nước luôn thâm hụt nhưng Nhà nước vẫn giành một tỷ lệ nhất định
để hỗ trợ cho một số doanh nghiệp Nhà nước. Trong 3 năm 1994 - 1997 ngân sách
Nhà nước đã đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp 8.000 tỷ đồng, trong đó 6.428 tỷ đồng
cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp, 1.464,4 tỷ đồng là bù lỗ, hỗ trợ cho các doanh
nghiệp để giảm bớt khó khăn về tài chính.
Ngoài ra, Nhà nước còn miễn giảm thuế 3.392 tỷ đồng, giảm nợ 540 tỷ đồng,
cho vay vốn tín dụng ưu đãi 8.685 tỷ đồng. Tuy nhiên việc hỗ trợ này ở một số doanh
nghiệp không mang lại hiệu quả tương ứng, số nộp vào ngân sách Nhà nước ít hơn
phần mà Nhà nước đã hỗ trợ cho doanh nghiệp loại này.
DNNN nhiều về số lượng nhưng nhỏ về qui mô, về quy mô vốn cho đến năm
nay vẫn còn 2,21% số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, 31,7% doanh nghiệp vốn
từ 1 -> 5 tỷ đồng, 29,49% doanh nghiệp vốn từ 5 -> 10 tỷ đồng. Đến 31 tháng 12 năm
1999 tổng số nợ của các doanh nghiệp là 10.130 tỷ đồng. Tổng số vốn huy động vào
Nhà nước kinh doanh 70,93 tỷ đồng. Khả năng mất vốn ở vật tư hàng hoá kém phẩm
chất, nợ khó đòi, nợ lũy kế là gần 568 tỷ đồng.
hỏi chúng ta phải sắp xếp lại, đổi mới DNNN, chỉ giữ lại những doanh nghiệp Nhà
nước có tính chất mũi nhọn, phục vụ những chức năng của Nhà nước, tập trung đầu
tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý để các doanh nghiệp này đủ sức
cạnh tranh trên thị trường. Các DNNN còn lại phải được chuyển hình thức sở hữu
như tư nhân hoá và cổ phần hoá để một mặt giảm gánh nặng cho Nhà nước, mặt khác
để tạo ra mô hình kinh doanh có hiệu quả hơn. một trong những giải pháp khắc phục
hạn chế DNNN đang được thực hiện có hiệu quả là cổ phần hoá doanh nghiệp lợi ích
của biện pháp này làm cho Nhà nướcgiảm gánh nặng đối với các doanh nghiệp, đồng
thời Nhà nước có một khoản thu khá lớn để có thể tập trung đầu tư vốn, đổi mới công
nghệ, đổi mới quản lý.
Các doanh nghiệp Nhà nước còn lại để chúng có thể đủ sức đứng vững cạnh
tranh trên thị trường, đảm bảo điều kiện Nhà nước thực hiện có hiệu quả chức năng
và nhiệm vụ của mình.
Tạo ra một loạt các doanh nghiệp mới đó là công ty cổ phần là một mô hình
quản lý kinh doanh có hiệu quả nhất. Một mặt huy động được nguồn vốn kinh doanh
trong xã hội, khai thác tối đa có hiệu quả nội lực kinh tế xã hội. Mặt khác là hình
thức liên doanh tốt với sự tham gia đầu tư của nước ngoài, tạo mọi điều kiện để thành
viên trong công ty được trở thành chủ thực sự, phát huy đầy đủ tối đa tính năng động
sáng tạo của họ, học tập nhiều kinh nghiệm quản lý quý báu của nước ngoài, góp
phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và cũng là con đường để đưa nước ta
tăng trưởng và phát triển một cách ổn định và vững chắc.
Kết luận
Đổi mới doanh nghiệp Nhà nước là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
chuyển sang kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước
- Doanh nghiệp Nhà nước nên tiến hành cổ phần hoá chỉ nên giữ lại những
doanh nghiệp chủ chốt trong việc điều hành kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô.
- Cải cách cơ chế quản lý DNNN đồng bộ hơn tránh bộ phận hành chính kồng
kềnh.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm trong thời kỳ hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới hiện nay một số môi trường kinh doanh cạnh tranh gay gắt.
- Về sửa đổi bổ sung các cơ chế chính sách.
* Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
+ Doanh nghiệp tự chủ quyết định kinh doanh theo quan hệ cung cầu
+ Thực hiện chính sách ưu đãi với các ngành vùng sản phẩm và dịch vụ cần
ưu tiên hoặc khuyến khích phát triển, không phân biệt thành phần kinh tế
- Ban hành luật cạnh tranh, tổ chức một số DNNN cạnh tranh bình đẳng.
- Có qui định kiểm soát giá và điều tiết lợi nhuận
- Ban tiêu chí đánh giá hiệu quả
- Ban hành cơ chế giám sát DNNN
- Đổi mới chế độ kế toán, kiểm tra, chế độ báo cáo, thực hiện công khai hoạt
động kinh doanh và tài chính doanh nghiệp.
* Đặc biệt vốn:
- Doanh nghiệp được tiếp cận và thu hút các nguồn vốn trên thị trường, được
chủ động xử lý tài sản dư thừa, vật tư hàng hoá ứ đọng.
- Doanh nghiệp tự chủ trong kinh doanh.
- Chuyển hình thức cấp vốn sang đầu tư vốn.
Mục lục
Trang
Lời nói đầu
1
I. Khái niệm về Doanh nghiệp Nhà nước 2
II. Đặc điểm Doanh nghiệp Nhà nước 3
III. Thực trạng Doanh nghiệp Nhà nước 6
IV. Biện pháp khắc phục thực trạng trên 11
Kết luận
12
Một số ý kiến cá nhân đối với doanh nghiệp Nhà nước
13
Tài liệu tham khảo
14