BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HÌNH ẢNH
TRONG PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH CỦA CÁC ĐÀI
PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH MIỀN TÂY NAM BỘ
(Khảo sát 03 đài Phát thanh - Truyền hình
tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
CẦN THƠ - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung
thực. Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Học viên
MỤC LỤC
37
2.2. Đánh giá chất lượng nội dung hình ảnh và hiệu quả hình ảnh
65
2.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế
94
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CHẤT LƯỢNG HÌNH ẢNH TRONG
PHÓNG SỰ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH
TRUYỀN HÌNH CÁC TỈNH MIỀN TÂY NAM BỘ
98
3.1. Nhóm các giải pháp chung
98
3.2. Nhóm các giải pháp cụ thể
105
KẾT LUẬN
117
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Truyền hình cáp thành phố Hồ Chí Minh
ITV
:
Truyền hình Online
MegaTV
:
Truyền hình giải trí số
MyTV
:
Truyền hình đa phương tiện
NextTV
:
Truyền hình kỹ thuật số của Viettel
OneTV
:
Truyền hình Vĩnh Long
UBND
:
Ủy ban nhân dân
VTC
:
Truyền hình kỹ thuật số Việt Nam
VTV cáp
:
Truyền hình cáp Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1:
Kết quả khảo sát về việc có nên đổi mới cũng như
nâng cao chất lượng hình ảnh trong phóng sự truyền
Bảng 2.2:
khán giả đối với các đài khu vực Miền Tây Nam Bộ
87
Kết quả khảo sát về những yếu tố cần chú trọng để
nâng cao chất lượng hình ảnh trong phóng sự truyền
Bảng 2.8:
hình của các đài khu vực Miền Tây Nam Bộ
89
Kết quả khảo sát về mức độ quan tâm những yếu tố
trong chương trình thời sự
92
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Báo chí Việt Nam là tiếng nói của Đảng và nhà nước và của các tổ chức
chính trị, đoàn thể, là diễn đàn của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
Sản Việt Nam.
Trong quá trình phát triển nền báo chí Việt Nam đang ngày càng đa dạng
với các loại hình báo chí như: Báo in, Báo phát thanh, Báo truyền hình và Báo
điện tử. Đối với báo chí truyền hình ra đời vào đầu thế kỷ XX, nhanh chóng
trở thành một phần quan trọng trong hệ thống các phương tiện thông tin đại
chúng và là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người dân.
Chúng ta có thể nhận thấy rằng, sự tác động của truyền hình đến đời
sống xã hội bao gồm các khía cạnh: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và khoa
học kỹ thuật…Các khía cạnh này cũng tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển
của truyền hình, mọi sự tác động qua lại này điều nhằm vào mục đích: phục
hình và thông qua hình ảnh động tạo cho người xem sự hồi hộp, liên tưởng,
cảm xúc…Trong đó, tác giả trở thành người bình luận, trình bày diễn biến của
sự thật và qua đó phân tích, chứng minh cho tiến trình phát triển của sự kiện.
Cũng có thể tác giả chỉ là một người phản ánh một cách khách quan và đề
xuất những vấn đề nóng bỏng của hiện thực.
Hình ảnh trong phóng sự được chuyển tải đến người xem có vai trò rất
quan trọng, mỗi hình ảnh, mỗi âm thanh cần phải có nội dung rõ ràng, cụ thể,
hấp dẫn, cuốn hút. Nếu thông tin trong hình ảnh khó hiểu sẽ làm mất đi sự
chú ý và hứng thú của tác giả. Do sự chú ý của người xem phóng sự truyền
hình chỉ trong một thời gian ngắn, vì vậy nội dung chính được thể hiện trong
hình ảnh của phóng sự phải được cô động và ngắn gọn, tránh những hình ảnh,
âm thanh gây nhiễu cho nội dung. Các hình ảnh mở đầu và kết thúc của
phóng sự phải có khả năng tạo ra được sự hình dung chung về tác phẩm.
Do sự kiện trong phóng sự phải được phát đi càng nhanh càng tốt nên
người quay phim phải biết cách thu thập, xử lý những thông tin quan trọng
của chủ đề, thể hiện bằng những hình ảnh động thông qua các cỡ cảnh, góc độ
3
khuôn hình,…cho người xem thấy và cảm nhận được những vấn đề, sự kiện
mà xã hội quan tâm.
Trong phóng sự truyền hình vai trò của người quay phim là hết sức quan
trọng. Người quay phim cũng có thể được xem là một nhà quan sát, bởi vì họ
thể hiện khả năng quan sát của mình về một sự kiện, sự vật, hiện tượng trong
thế giới tự nhiên, xã hội bằng cách đứng sau ống kính máy quay để ghi lại tất
cả những hình ảnh thực của cuộc sống đang xảy ra. Những chi tiết của thông tin
hình ảnh mà người quay phim cho công chúng được nhìn thấy có thể có giá trị
và ý nghĩa hơn vạn lời nói, bởi vì họ được nhìn và cảm nhận. Họ cùng vui, buồn,
căm phẫn hay cảm thông chia sẻ…khi được nhìn và nghe đồng thời.
Như chúng ta đã biết thế mạnh của truyền hình là hình ảnh nó tác động
làm phong phú và hấp dẫn người xem. Song song với sự phát triển của sóng
truyền hình, thì chất lượng hình ảnh ở thể loại phóng sự truyền hình trong
chương trình thời sự của các đài vẫn chưa thật sự thu hút người xem do ít
sáng tạo, thiếu sự liên tưởng, gây cảm giác nhàm chán cho người xem, cách
thể hiện còn thô sơ, xử lý hình ảnh chưa đạt chất lượng, sử dụng nhiều hình
ảnh không phù hợp với nội dung, còn sử dụng nhiều tư liệu cũ chèn vào thay
cho những hình ảnh thiếu trong phóng sự…
Đối với khuôn hình còn có những góc quay không sáng tạo, chưa mang
tính đột phá, không đúng với tiêu chí hình ảnh, có khi hình ảnh vượt trục, bố
cục không theo một trình tự, không phản ánh đúng ý tưởng của bài phóng sự
khó tạo cảm xúc cho người xem.
Vì vậy, để làm cho hình ảnh trong phóng sự truyền hình mang tính chân
thực, khách quan thể hiện đúng quan điểm ý tưởng của tác giả thì hình ảnh
trong phóng sự phải được nâng cao là việc làm hết sức cần thiết. Qua thời gian
được học tập chương trình thạc sỹ bản thân tôi thấy cần chọn đề tài “Nâng cao
chất lượng hình ảnh trong phóng sự truyền hình của các đài Phát thanh Truyền hình Miền Tây Nam Bộ” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Đây là đề tài giúp cho tôi và những người quay phim nhận thức rõ hơn
vai trò của hình ảnh trong phóng sự truyền hình, làm chìa khóa để khai thác
thể loại phóng sự truyền hình một cách sáng tạo, nhằm thực hiện nhiệm vụ
5
tuyên truyền được tốt hơn, đáp ứng hiệu quả nhu cầu thông tin của đông đảo
công chúng hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Cùng với nền báo chí cả nước, báo chí khu vực Miền Tây Nam Bộ có sự
phát triển mạnh mẽ đã và đang có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của khu vực.
Tuy nhiên đến nay, vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu giải pháp nâng cao
chất lượng hình ảnh trong phóng sự truyền hình trong phạm vi cả nước nói
sử dụng hình ảnh và viết lời bình cho tác phẩm,…,cuốn sách còn đi sâu phân
tích các kỹ năng tác nghiệp của nhà báo, phóng viên, biên tập viên truyền
hình,…; giáo trình Báo chí truyền hình của tác giả PGS.TS. Dương Xuân Sơn
(Biên soạn), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009, nội dung tập trung
trình bày các vấn đề của báo chí truyền hình như: vị trí, vai trò, lịch sử ra đời
phát triển của truyền hình, khái niệm, đặc trưng, nguyên lý của truyền hình,
chức năng xã hội của truyền hình, kịch bản và kịch bản truyền hình, quy trình
sản xuất chương trình truyền hình, các thể loại báo chí truyền hình, các thuật
ngữ truyền hình,…; Sách Nghệ thuật quay phim, tác giả A.Golovnhia, dịch:
Ngô Tạo Kim, Trường Đại học sân khấu Điện ảnh Hà Nội năm 2005, nội
dung trình bày một phần trong chương trình của môn nghệ thuật quay phim,
giúp người quay phim cần phải biết thực hiện mọi khâu trong công việc của
mình, từ bố cục khuôn hình, bố trí ánh sáng đến việc bấm máy thu hình, bàn
về vị trí vai trò và ý nghĩa của người quay phim, công việc sáng tạo của
người quay phim trong quá trình xây dựng một bộ phim trên cơ sở những
kinh nghiệm thành công của các nhà quay phim,…; sách Báo chí truyền hình
của tác giả G.V.Cudơnhetxốp X.L.Xvích,A.la.lurốpxki(tập1,2),Nxb Thông tấn
năm 2004, nội dung vừa đề cập tầm quan trọng của truyền hình trong hệ
thống các phương tiện thông tin đại chúng, vừa nêu rõ tính đặc thù của báo
chí truyền hình. Trong đó các tác giả tập trung trình bày vị trí chức năng của
truyền hình trong xã hội; vị trí cũa truyền hình trong hệ thống các phương
7
tiện thông tin đại chúng; bản chất của truyền hình hiện đại; các phương tiện
xây dựng kịch bản truyền hình và những định hướng, triển vọng của truyền
hình trong thời đại bùng nổ thông tin và công nghệ truyền thông phát triển vô
cùng mạnh mẽ,…; sách Phóng sự truyền hình, tác giả Brigitte Besse, Didier
Desormeaux, Nxb Thông Tấn năm 2003, nội dung trình bày khá tỉ mỉ, khoa
học các kỹ năng, phương pháp làm một phóng sự truyền hình: Từ những quy
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trước đây vẫn có đề cập đến
nhiều thể loại báo chí truyền hình, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến
hình ảnh trong phóng sự truyền hình khu vực Miền Tây Nam Bộ hiện nay. Do
đó, tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng hình ảnh trong phóng sự truyền
hình của các đài Phát thanh - Truyền hình Miền Tây Nam Bộ ”, khảo sát 3
đài Truyền hình các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang để làm Luận
văn Thạc sỹ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ đánh giá thực trạng chất lượng hình ảnh trong phóng sự
truyền hình của các đài Phát thanh - Truyền hình Miền Tây Nam Bộ.
Từ đó, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng
hình ảnh trong phóng sự trên sóng truyền hình của các đài Phát thanh Truyền hình Miền Tây Nam Bộ trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ của luận văn cần thực hiện những
nội dung sau:
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận về “Nâng cao chất lượng
hình ảnh trong phóng sự truyền hình”
Những vấn đề lý thiết về hình ảnh trong phóng sự truyền hình, cơ sở thực
tiễn của việc nghiên cứu về hình ảnh trong phóng sự của các đài Truyền hình.
9
Nghiên cứu mối quan hệ giữa hình ảnh trong phóng sự thời sự truyền
hình với các nhóm công chúng khán giả và nhu cầu tiếp nhận thông tin thông
qua hình ảnh trong phóng sự của các nhóm công chúng.
- Đánh giá thực trạng hình ảnh trong phóng sự được phát sóng trong
chương trình thời sự của các đài Phát thanh - Truyền hình miền Tây Nam bộ
hiện nay, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, thuận lợi, khó khăn trong cách thể
hiện hình ảnh trong phóng sự truyền hình.
vấn đề lý luận về quan điểm báo chí nói chung và những tư liệu cần thiết có
liên quan tới đề tài.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu để rút ra được những kết
luận cần thiết từ hiện trạng, qua đó đề ra những giải pháp nhằm phát huy ưu
điểm và hạn chế khuyết điểm, góp phần nâng cao chất lượng hình ảnh trong
phóng sự truyền hình.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện đối với đối tượng là
những nhà quản lý, lãnh đạo các đài Phát thanh - Truyền hình tại các đài được
khảo sát để thu thập những ý kiến bổ sung cho luận văn.
+ Phương pháp bảng hỏi anket được tiến hành với 360 công chúng,
phóng viên, biên tập viên, quay phim và thu về được 302 phiếu từ công chúng
ở 3 tỉnh khảo sát để có được cái nhìn khách quan khi đánh giá chất lượng hình
ảnh, hiệu quả hình ảnh trong phóng sự truyền hình của các đài Phát thanh Truyền hình khu vực Miền Tây Nam Bộ từ đó thu thập những ý kiến thực tế,
cung cấp cho việc triển khai các luận điểm khoa học cần thiết cho luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ thêm về vai trò của hình ảnh trong phóng sự
truyền hình góp phần vào công tác tuyên truyền trên sóng truyền hình của các
đài Phát thanh - Truyền hình Miền Tây Nam Bộ, bổ sung thêm tài liệu cho
những nghiên cứu về nâng cao chất lượng hình ảnh trong phóng sự truyền
hình, từ đó tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
11
Luận văn là tài liệu tham khảo về mặt lý luận báo chí truyền thông, góp
phần nâng cao nhận thức, tư duy sáng tạo mới cho người phóng viên quay
phim trong việc sáng tạo hình ảnh cho phóng sự truyền hình. Luận văn còn rút
ra những bài học kinh nghiệm, đề ra những giải pháp kiến nghị nhằm nâng
cao chất lượng hình ảnh trong phóng sự trên sóng truyền hình địa phương
một biểu hiện trọn vẹn những gì ta cảm nhận sâu xa nhất về sự vật được chụp
ảnh. Và do đó, nó chính là biểu hiện đích thực cảm nhận của ta về toàn bộ
cuộc đời ” [46, tr.10].
Trong quyển Từ máy ảnh đến hình ảnh tác giả viết: Những hình ảnh đầu
tiên được tạo ra khi nào? Không ai biết cả. Chúng bắt nguồn từ thời tiền sử,
nhưng những chứng tích còn lại đã cho thấy rằng: Từ nhiều thế kỷ trước, hình
ảnh đã tiến hóa thành một loại ngôn ngữ dễ hiểu, bắt cầu cho sự cảm thông
giữa các nền văn hóa khác biệt. Các ngôn ngữ hầu hết đều được nói lên hay
viết ra, và sau này được lưu trữ trong cuốn sách.
Với sự ra đời của nghề in ở thế kỷ XV, số lượng sách tăng trưởng rất
nhanh và nhu cầu dùng hình ảnh để minh họa cho sách cũng phát triển nhanh
chóng. Hình ảnh, được phát minh vào đầu thế kỷ XIX, đã biến cuộc tiến hóa
trong lĩnh vực tạo hình trở thành một cuộc cách mạng. Hình ảnh đã thay đổi
cách nhìn của chúng ta đối với sự vật, và vĩnh viễn làm thay đổi nghệ thuật
tạo hình.
13
Vậy hình ảnh là gì? trong phạm trù hạn hẹp nhất thì:
hình ảnh là một phương tiện tạo hình bằng tác dụng của ánh sáng
trên một phương tiện nhạy cảm với ánh sáng đó. Nhưng một định
nghĩa đơn giản như thế không thể mô tả được cái kinh nghiệm sáng
tạo hình ảnh hoặc tác động mạnh mẽ mà bức ảnh tạo ra hầu như
trong mọi khía cạnh của đời sống hiện đại.
Có thể cho rằng, hình ảnh tất nhiên không chỉ là dụng cụ khoa học: nó
còn là một thành phần không thể tách rời khỏi những nghi lễ và sự kiện quan
trọng trong cuộc sống.
Và trong quyển Từ máy ảnh đến hình ảnh tác giả cũng khẳng định:
Những bức ảnh mang lại cho chúng ta những hồi ức hiển hiện về
những con người, nơi chốn, và sự việc đã xảy ra trong cuộc đời.
Theo quyển Cơ sở lý luận báo chí viết:
Truyền hình là kênh truyền thông đại chúng ra đời sau, kế thừa
được các thế mạnh của các kênh trước đó, như điện ảnh, báo in,
phát thanh…và ngày nay đang “tận hưởng” tối đa môi trường
truyền thông số trên mạng internet”. Đồng thời cũng cho
rằng:“Truyền hình là kênh truyền thông truyền tải thông điệp bằng
hình ảnh động với nhiều sắc màu vốn có từ cuộc sống cùng với lời
nói, âm nhạc, tiếng động [12, tr.118].
Chính vì thế mà trong quyển Sản xuất chương trình truyền hình cho rằng:
Chương trình truyền hình đề cập đến các vấn đề của đời sống xã hội
không phải một cách ngẫu nhiên như vẫn diễn ra, mà nó thường
truyền tải thông tin từ ngày này qua ngày khác, nhằm phục vụ một
đối tượng công chúng xác định. Nội dung của chương trình truyền
hình trực tiếp làm sâu sắc đến các tư tưởng, các chủ đề, dần dần tạo
nên ý thức công chúng thế giới quan hiện đại [23, tr.30].
Từ những ý kiến trên, có thể thấy, truyền hình là một loại hình phương
tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm
thanh. Và sự xuất hiện của truyền hình như một điều thần kỳ trong sáng tạo
15
của con người với sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh, truyền hình
mang lại cho con người cảm giác về cuộc sống rất thật đang hiện diện trước
mắt. Đó là cuộc sống thật nhưng đã được cô đọng lại, làm giàu thêm về ý
nghĩa, làm sáng rõ hơn hình thức và làm phong phú hơn về những khía cạnh,
bình diện đường nét sinh động.
Hiện nay, truyền hình phát triển nhanh chóng, ngày càng giữ vai trò quan
trọng trên mọi phương diện, không chỉ làm phong phú sinh hoạt văn hóa,
truyền hình còn được sử dụng rộng rãi trong giáo dục, sản xuất công nghiệp,
quân sự, khoa học công nghệ…. trở thành một bộ phận không thể thiếu trong
Thị Thoa và TS. Đức Dũng đồng chủ biên cho rằng:
Phóng sự truyền hình mang trong mình mối quan hệ sự kiện - nhà
báo - công chúng đối với những cái đang diễn ra. Camera mang lại
dòng hình ảnh thực hiện chức năng thông tin đặc biệt, nhà phóng sự
chuyển sang đánh giá, bình luận sự kiện. Phóng sự là thể loại trinh
sát, và nhà phóng sự luôn luôn phải đứng ở tuyến đầu, ở mũi nhọn
của cuộc sống. Nhà phóng sự cần phải biết lựa chọn từ rất nhiều sự
kiện để lấy ra sự kiện cơ bản nhất, đặc trưng nhất, quan trọng nhất
trong thời điểm đó [51, tr. 215].
Ở một số tài liệu nghiên cứu báo chí khác cũng đề cập đến khái niệm
phóng sự truyền hình, về cơ bản nội dung khái niệm cũng chứa đựng những
yếu tố nói trên.
Và có thể thấy rằng những yếu tố nội dung trong các khái niệm trên là
những yếu tố quan trọng, mang tính đại diện của thể loại phóng sự truyền
hình. Các phương tiện diễn đạt và thể hiện của truyền hình được cấu thành
bởi: Bối cảnh, khuôn hình, cỡ cảnh, những phương pháp bỏ qua, lặp lại,
những thủ pháp dựng hình, những động tác máy quay, những thủ pháp xuống
đen, chồng mờ, những khoảng lặng, những lời nói, tiếng động, âm nhạc…..
Trong phóng sự, các phương tiện diễn đạt và thể hiện này được phóng viên sử
dụng tối đa và đầy sáng tạo trong từng cảnh quay.
17
Nếu trong phóng sự báo in, toàn bộ diễn biến phát sinh, phát triển của sự
kiện được phóng viên miêu tả bằng những con chữ, trong phóng sự phát thanh
miêu tả bằng phát thanh, gồm: lời nói, tiếng động, âm nhạc, thì trong truyền
hình tất cả diễn biến của sự kiện được camera được miêu tả bằng chính những
hình ảnh và âm thanh có thực của chính cuộc sống đang diễn ra trước mắt
phóng viên, những người tham gia sự kiện, thậm chí trước mắt khán giả
truyền hình (nếu là phóng sự truyền thẳng).
cho phóng sự truyền hình phản ánh hiện thực khách quan trung thực, gần gũi,
sinh động, hấp dẫn hơn phóng sự ở các thể loại báo chí khác. Chính khả năng
bằng hình ảnh và âm thanh đã tạo ra “hiệu ứng cùng tham dự” giữa khán giả
và phóng viên, làm cho người xem cảm thấy mình đang cùng phóng viên trực
tiếp tham gia, chứng kiến sự việc chứ không phải được xem những gì mà
phóng viên kể lại.
Ví dụ: Phóng sự “Xóa mù chữ ở Sa Pa” phát trong chương trình thời sự
19 giờ, Đài truyền hình Việt Nam kể một câu chuyện rất ấn tượng xoay quanh
hai nhân vật là bé Pang và Dung, hai học sinh mới của trường bán trú Sa Pa
(Lào Cai). Mục đích của phóng sự là tập trung phản ánh thực trạng và nguyên
nhân của những khó khăn trong việc vận động trẻ em ở vùng cao đi học.
Trong phóng sự có một số cảnh quay và cách dựng tốt như: Cảnh bố
của Pang (nhân vật chính của phóng sự) cười trả lại bút cho cô giáo và điểm
chỉ vào tờ giấy cam kết gửi con đến trường học nội trú tỉnh Lào Cai được thể
hiện trong cấu trúc câu dựng toàn - trung - cận, đã đem đến cho khán giả
nhiều suy nghĩ. Người xem có thể đặt ra các câu hỏi: Những người cha, người
mẹ không biết chữ như vậy thì là sao có thể dạy cho con? Liệu hiện tượng mù
chữ có trở lại các vùng cao? Tương lai trẻ em ở vùng cao sẽ ra sao?
Trong phóng sự cũng có nhiều chi tiết ẩn chứa nhiều thông tin: Cận
cảnh Pang mặt mũi nhem nhuốc, chân đi đất, tay quệt nước mắt cho thấy trẻ ở
vùng cao không được chăm sóc chu đáo và đầy đủ. Trung cảnh một em bé
19
khác đang gào khóc, níu chặt tay mẹ vì không muốn đến trường không chỉ vì
không muốn xa gia đình mà còn vì không có những viên thuốc trắng đó. Nó
cũng cảnh báo tình trạng “ma túy học đường” đối với trẻ em miền núi. Chỉ
trong thời lượng ba phút, toàn bộ câu chuyện khó khăn trong công tác xóa mù
chữ ở Sa Pa hiện ra trước mắt người xem và để lại trong lòng họ nhiều suy tư,
trăn trở. Một sự kiện, vấn đề trong đời sống hiện thực diễn ra trong một
quyết vấn đề. Những sự kiện được nêu trong phóng sự thường là
những sự kiện được dư luận quan tâm tìm hiểu [6, tr.185].
Từ những ý kiến đó, có thể nói phóng sự là thể loại báo chí giàu chất văn
học và có nhiệm vụ thông tin về người thật, việc thật trong một quá trình phát
sinh, phát triển. Và điểm nổi bật nhất của phóng sự so với các thể loại báo chí
khác là khả năng phản ánh hiện thực một cách có bề dày và chiều sâu mang
đậm nét hơi thở của cuộc sống hiện thực. Để làm được như vậy phóng sự luôn
bám sát con người, sự kiện vấn đề nổi bật trong đời sống.
Tuy nhiên để người viết có thể khai thác tốt và một cách chân thật nhất
về thể loại này, thì một số tác giả nghiên cứu về lĩnh vực báo chí, truyền hình
cũng đưa ra những nhận định và phân lực các dạng phóng sự.
Trong đó, theo quyển Viết báo như thế nào? thì tác giả chia phóng sự
thành 5 dạng: [8, tr.178].
a. Phóng sự điều tra: Đây là dạng phóng sự có sự kết hợp hài hòa giữa 2
yếu tố: Phóng sự và điều tra, đồng thời sự kết hợp này luôn tuân thủ theo
nguyên tắc tính chất phóng sự được thể hiện ở hình thức của tác phẩm. Dạng
bài này thường được sử dụng trong trường hợp khi đứng trước những sự kiện,
tình huống, hiện trạng nào đó vẫn đang còn những câu hỏi chưa được trả lời
hoặc có nhiều cách trả lời khác nhau.
b. Phóng sự vấn đề: Đây là dạng phóng sự phản ánh những vấn đề trong
cuộc sống. Những vấn đề phản ánh ở đây luôn tiêu biểu, xác thực và đáp ứng
tốt nhu cầu thông tin thời sự. Tuy không trực tiếp phản ánh những sự kiện