Luận văn thạc sĩ Xây dựng đảng và chính quyền nhà nước Nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở tỉnh bắc giang hiện nay - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NÂNG CAO TÍNH CHUYÊN NGHIỆP CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NÂNG CAO TÍNH CHUYÊN NGHIỆP CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY
Chuyên ngành : Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước
Mã số

: 60310203

hành dân chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Để đạt được điều đó, những
người làm ở các cơ quan Nhà nước chính là nhân tố để đảm bảo thực hiện
những chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời cũng chính là
yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta phải đối mặt với rất nhiều
khó khăn thách thức, vừa phải lãnh đạo xây dựng đất nước theo nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, hội nhập toàn diện, vừa phải đấu tranh chống
thù trong, giặc ngoài bảo vệ sự hưng thịnh của đất nước đòi hỏi phải có nguồn
nhân lực thích ứng. Để tháo gỡ được những khó khăn đó, đội ngũ cán bộ,
công chức ở các cơ quan hành chính Nhà nước là một trong những yếu tố
quan trọng. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc - công việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém, có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”. Cán
bộ công chức trong cơ quan hành chính Nhà nước là những người được sử
dụng quyền lực Nhà nước để thực thi quyền hành pháp, hoàn thành các chức
năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính bằng chính phẩm chất, năng lực và
hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức. Đội ngũ cán bộ, công chức
trong các cơ quan hành chính Nhà nước đã và đang góp phần đáng kể vào


2

công cuộc cải cách hành chính của Nhà nước ta với mục tiêu: Xây dựng nền
hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả. Trong tất cả các mục tiêu đó, tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ
công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước là một trong những mục tiêu
rất quan trọng. Điều này đã được khẳng định trong chiến lược phát triển KTXH giai đoạn 2011 -2020: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên
nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân” . Việc xây dựng tính chuyên nghiệp
cho cán bộ, công chức là một giải pháp quan trọng trong hoàn thiện bộ máy

nhiều nhà nghiên cứu, là đề tài được hội thảo tại nhiều hội nghị trong
nước và quốc tế đề cập.
Cụ thể đã có nhiều cuốn sách như:
- “Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm nước
ta” của PGS.Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
- “Công chức, và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện
nay” của Tô Hữu Hạ, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1998. Trong cuốn
sách này, tác giả đã tập trung phân tích, lý giải làm rõ khái niệm cán bộ,
công chức nhà nước; vai trò của cán bộ, công chức trong xây dựng nền hành
chính quốc gia, định hướng trong xây dựng đội ngũ công chức Nhà nước
Việt Nam.
- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của CNHHĐH đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
- “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” của PGS.TS Nguyễn Phú
Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
Tác phẩm này đã phân tích, xây dựng luận cứ khoa học và nội dung của
CNH- HĐH đất nước, yêu cầu của CNH-HĐH với việc nâng cao chất lượng
cán bộ, công chức nói chung.


4

- “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của TS.Thang Văn
Phúc và TS.Nguyễn Minh Phương, 2004.
- “Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế
giới” của TS. Thang Văn Phúc làm chủ biên, Nxb chính trị Quốc Gia, 2004.
- “Về chế độ công vụ Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Trọng Điều chủ
biên, Nxb Chính trị quốc gia, 2007. Đây là công trình nghiên cứu sâu về công
chức, công vụ và các cơ sở khoa học để hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt

công chức. Cụ thể như:
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều đề cập tới 2 nội dung chủ yếu
là: công vụ và chất lượng, trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ CB, CC,
VC đáp ứng cho sự phát triển của đất nước… nhưng chưa đi sâu vào làm sáng
tỏ tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy hành chính
Nhà nước. Bởi vậy, tác giả luận văn chọn đề tài “Nâng cao tính chuyên
nghiệp của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước
ở tỉnh Bắc Giang hiện nay” để tập trung đi sâu vào việc khai thác một khía
cạnh của cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước, đó là tính
chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy hành chính Nhà
nước. Đây là một yếu tố đảm bảo cho sự phát triển đúng định hướng của
Đảng và Nhà nước trong xu hướng cải cách hành chính hiện nay nói chung và
của tỉnh Bắc Giang nói riêng. Luận văn sẽ là một phần cơ sở cho việc nghiên
cứu và sự phát triển tính chuyên nghiệp của cán bộ công chức trong bộ máy
hành chính Nhà nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Mục đích: Xây dựng lý luận về tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ
công chức trong bộ máy hành chính nhà nước và đưa ra những giải pháp cụ
thể để nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ công chức trong bộ máy hành
chính Nhà nước ở tỉnh Bắc Giang.


6

Nhiệm vụ: Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về tính chuyên nghiệp của đội
ngũ cán bộ công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước. Trên cơ sở đó đưa
ra những tiêu chí tính chuyên nghiệp của cán bộ công chức trong bộ máy hành
chính Nhà nước, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
trong bộ máy hành chính Nhà nước của tỉnh Bắc Giang, tìm ra nguyên nhân
dẫn tới những hạn chế về tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức từ đó đề

chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy hành chính Nhà
nước nói chung và của tỉnh Bắc Giang nói riêng.
Trên cơ sở lý luận, xây dựng những tiêu chí đánh giá tính chuyên
nghiệp của cán bộ công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước, từ đó đưa
ra những định hướng nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ công chức
trong bộ máy hành chính Nhà nước nhằm mục tiêu đạt hiệu lực, hiệu quả
trong công việc đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH và phát triển bền vững của địa
phương trong thời gian tới.
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Những kết quả đạt được của luận văn có thể là cơ sở thực tiễn đáng tin
cậy để các cấp lãnh đạo, các ngành của tỉnh tham khảo trong quá trình hoạch
định chính sách phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của tỉnh Bắc Giang nói chung và nâng cao chất lượng của đội
ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính Nhà nước của tỉnh nói riêng.
Ở những mức độ nhất định những kết quả nghiên cứu của luận văn có
thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
một số vấn đề của chủ nghĩa xã hội, như vấn đề nguồn nhân lực, vấn đề chất
lượng của độ ngũ cán bộ công chức, viên chức, v.v..
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương 9 tiết.


8

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO TÍNH CHUYÊN NGHIỆP
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. Tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ

Cho đến năm 2003, để cụ thể hóa Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Chính
phủ đã ban hành các nghị định số 114/2003/NĐ-CP về cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn; Nghị định số 115/2003/NĐ-CP về chế độ công chức dự bị;
Nghị định 116/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công
chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị- xã hội; Nghị định số 117/2003/CĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và
quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, chúng ta có thể hiểu
“Cán bộ” là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ
trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung
ương, ở cấp tỉnh và cấp huyện.
Trong công cuộc cải cách hành chính ngày nay, Luật cán bộ công chức
được Quốc hội ban hành tháng 11/2008, có hiệu lực từ 01/01/2010 đã có quy
định cụ thể về cán bộ. Đó là “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê
chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương,
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực
thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.[37]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu cán bộ là những người giữ chức vụ, chức
danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam, từ
trung ương đến cấp huyện, quận và tương đương. Tùy từng mục tiêu xem xét
có thể phân biệt đội ngũ cán bộ thành những nhóm khác nhau:
- Xét về loại hình có hể, có thể phân thành: Cán bộ đảng, đoàn thể; cán
bộ nhà nước, cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; cán bộ khoa học , kỹ thuật.
- Theo tính chất và chức năng, nhiệm vụ có thể phân thành; nhóm chính
khách; nhóm lãnh đạo, quản lý; nhóm chuyên gia; nhóm công chức viên chức.


10

+ Nhóm chính khách: chính là những cán bộ lãnh đạo ở tầm vĩ mô của

chuyên nghiệp của đội ngũ này sẽ giúp cho chất lượng công việc sẽ được
hoàn thành một cách nhanh chóng, thúc đẩy sự đi lên của đất nước.
1.1.1.2 Khái niệm công chức
Công chức là một khái niệm được sử sụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên
thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên
trong các cơ quan Nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương. Nhưng do tính
đặc thù của từng quốc qia mà quan niệm công chức ở các nước khác nhau.
Theo luật Công chức của Cộng hoà Pháp, công chức nhà nước được
định nghĩa như sau: Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và
các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương
và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội
đồng địa phương quản lý. [13, tr 15].
Luật công chức của Vương quốc Anh, ngay từ năm 1859, đã quy định
công chức nhà nước bao gồm hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là những người
do nhà Vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Uỷ ban dân sự cấp giấy chứng
nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự. Bộ phận thứ hai là
những người mà toàn bộ tiền lương được cấp từ ngân sách thống nhất của
Vương quốc liên hiệp hoặc từ các khoản được Quốc hội thông qua. [13, tr 16]
Luật công chức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho rằng: “Những nhân
viên trong ngành hành chính của chính phủ được gọi chung là công chức”
[13, tr 16].
Luật công chức Liên bang của Cộng hoà Liên bang Đức quy định cụ
thể về công chức nhà nước như sau: Những người chịu sự chỉ huy, kiểm tra
trực tiếp của Liên bang là công chức Liên bang, những người phục vụ ở các
đoàn thể xã hội, đoàn thể xây dựng vật chất và tài chính theo luật chung, trực
tiếp lệ thuộc Chính phủ Liên bang là công chức gián tiếp. Tất cả các thành
phần trên đây đều gọi là công chức. Ngoài các thành phần thuộc phạm vi trên,




13

Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, gắn liền với sự
phát triển của nền hành chính nhà nước. Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy
định về công chức là Sắc lệnh số số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, quy định: “Những công dân Việt Nam, được
chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ
quan của Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế
này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ định” [13, tr 217].
Thực hiện công cuộc đổi mới,trước yêu cầu khách quan của tiến trình cải
cách hành chính nhà nước và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà
nước, thuật ngũ công chức được sử dụng lại. Tại nghị định số 169/HĐBT ngày
25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, tiếp đó là Nghị định số 95/1988/NĐ-CP
ngày 17/11/1998 của chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ,
công chức trong các cơ quan nhà nước, khái niệm công chức được đề cập một
cách rõ ràng, cụ thể, xong vẫn chưa phân biệt được công chức hành chính với
công chức sự nghiệp.
Đến nay, trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội, sự phát triển
của đời sống chính trị pháp lý Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008 có hiệu lực từ
ngày 01/01/2010 quy định rõ:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh
đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân

thuật, có khả năng nghiên cứu, đề xuất những phương hướng, quan điểm và
thực thi công việc chuyên môn phức tạo, Họ là những người tư vấn cho lãnh


15

đạo, đồng thời cũng là những nhà chuyên môn tác nghiệp những công việc
đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nhất định.
- Công chức chuyên môn, nghiệp vụ: là những người được giao thẩm
quyền nhất định trong phạm vi công tác của mình để thừa hành công việc, thi
hành công vụ nhân danh quyền lực nhà nước. Trên cơ sở chuyên môn nghiệp
vụ và nhiệm vụ được giao, họ tham mưu cho lãnh đạo ra các quyết định quản
lý hành chính và có thể họ là người trực tiếp thực hiện các quyết định hành
chính đó.
- Công chức là nhân viên hành chính: là những người thừa hành nhiệm
vụ do công chức lãnh đạo giao phó. Họ là những người có trình độ chuyên môn
kỹ thuật ở mức thấp nên chủ yếu làm công tác phục vụ trong bộ máy nhà nước.
● Theo trình độ đào tạo
Phân loại công chức theo trình độ đào tạo thì có ba loại:
- Công chức loại A là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu
đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học.
- Công chức loại B là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu
trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục chuyên nghiệp.
- Công chức loại C là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu
trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp.
Cách phân loại này sẽ giúp cho việc khuyến khích công chức phấn đấu
học tập, nâng cao trình độ, thăng tiến theo chức nghiệp.
● Theo ngạch công chức
Ngạch công chức là một khái niệm chỉ trình độ, năng lực, khả năng
chuyên môn và ngành nghề của công chức. Mỗi ngạch thể hiệm một cấp độ

không phải cái gì đó phức tạp, khó thực hiện, mà ngược lại nó được thể hiện,
đánh giá ở những việc đơn giản thường ngày. Chẳng hạn như: không để điện
thoại đổ chuông quá 3 tiếng mà không nhấc máy; không để chuông điện thoại
kêu trong phòng họp; đi làm đúng giờ; không được trễ hẹn, nếu trễ thì phải báo;
không được đi dép lê, guốc, mặc áo thun trong công sở. Đối với ngành nghề,
công việc khác nhau, tính chuyên nghiệp có những yêu cầu khác nhau.


17

Để đạt tới tính chuyên nghiệp của cả một tập thể, một tổ chức thì mỗi
vị trí công việc cần phải được xác định rõ từng nhiệm vụ và mỗi các nhân
phải hiểu rõ, đồng thời có khả năng thực hiện chuyên nghiệp.
Tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính
nhà nước.
Khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá, hội nhập
và mở cửa, đòi hỏi phải có một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp mà ở đó bao
gồm những công chức vững về chuyên môn, năng động và có phẩm chất đạo
đức tốt…
Nói rộng ra, đó phải là những công chức chuyên nghiệp, hiện đại trong
công việc, trong cách tư duy mà vẫn thể hiện được bản chất nhân văn, truyền
thống văn hoá của con người Việt Nam. Tất nhiên, để có được những con
người toàn diện như vậy, không phải là chuyện ngày một ngày hai, mà là một
quá trình tu dưỡng, rèn luyện lâu dài. Ở thời điểm hiện nay, người công chức
của chúng ta có thể chưa đạt “chuẩn” của một công chức chuyên nghiệp như
ở các nước phát triển nhưng dù sao, bộ máy nhà nước của chúng ta vẫn cần có
những con người đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu của người công chức Việt
Nam thời kỳ hội nhập hay chính là phải đạt Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về
chất lượng công chức, vấn đề mà hiện nay vẫn còn nhiều điều phải bàn đến.
Như vậy, về mặt lý thuyết, công chức chuyên nghiệp phải được đào tạo

điều kiện cần thiết để tiến hành thực thi công vụ như: trụ sở, phương tiện,
điều kiện làm việc… Họ được đảm bảo các quyền lợi vất chất và tinh thần
như: hưởng lương từ ngân sách nhà nước, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp bằng
tiền hoặc hiện vật và hưởng lương hưu khi đủ thời gian công hiến cho đất
nước, được khen thưởng theo đúng quy định của nhà nước. Đồng thời họ có
bổn phận phục vụ xã hội, công dân và chịu những rằng buộc nhất định do liên
quan đến chức trách đang đảm nhiệm. Họ có thể phải từ chức, bị truy cứu


19

trách nhiệm hoặc bồi thường thiệt hại nếu không hoàn thành nhiệm vụ, vi
phạm kỷ cương, pháp luật làm ảnh hưởng tới lợi ịch của công dân, tổ chức.
Thứ hai, cán bộ, công chức hành chính nhà nước là một đội ngũ lao
động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn cao.
Bộ máy nhà nước được lập ra như một công cụ của giai cấp cầm quyền
để thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi mặt của đời sống xã hội, đảm
bảo cho xã hội ổn định và phát triển theo đúng ý chí của giai cấp cầm quyền.
Trong khi đó, các vấn đề kinh tế - xã hội không ngừng biến đổi từng ngày,
từng giờ, với mức độ phức tạp ngày càng lớn; điều đó đòi hỏi nhà nước phải
duy trì hoạt động quản lý của mình một cách thường xuyên và liên tục. Hơn
nữa, chức năng cơ bản của cán bộ, công chức hành chính là thực thi công vụ,
thực thi quyền lực nhà nước, thực thi pháp luật nên không cho phép họ có sai
sót, vi phạm. Đồng thời, qua hoạt động thực tiễn, chính họ là những người
tham mưa, sáng tạo, đề xuất những chủ trương, chính sách quản lý và phát
triển xã hội, đất nước. Với tính chất công việc như vậy, đội ngũ cán bộ, công
chức cũng phải là những người làm việc chuyên nghiệp, thường xuyên và ổn
định trong bộ máy nhà nước.
Tính chuyên nghiệp của công chức hành chính được quy định bởi địa vị
pháp lý và được thể hiện qua hai yếu tố: thời gian, thâm niên công tác và trình

ngũ cán bộ, công chức có đầy đủ phẩm chất và năng lực, am hiểu và có khả
năng thực sự giải quyết tốt các quan hệ có yếu tố nước ngoài.
Thứ 5, đội ngũ cán bộ công chức hành chính nhà nước luôn trung thành
với Đảng, với Chính phủ, với tổ quốc và nhân dân. Đây là một đặc trưng cơ
bản của đội ngũ cán bộ công chức Việt Nam. Bởi lẽ, nhà nước ta tồn tại là để
phục vụ lợi ích của nhân dân, đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân.
Do đó, trong hoạt động các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức phải tôn
trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hê chặt chẽ với nhân dân, lắng
nghe và chịu sự giám sát của nhân dân.


21

Trong bối cảnh mở cửa hội nhập với khu vực và quốc tế, hội nhập nền
kinh tế thị trường càng đặt ra yêu cầu cán bộ, công chức phải có bản lĩnh
chính trị vững vàng, rèn luyện phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, tận
tâm, tận trí phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.
1.2. Sự cần thiết nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ,
công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước hiện nay
1.2.1 Vai trò của cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
Như chúng ta đã biết, hiệu lực hiệu quả của bộ máy nhà nước nói riêng
và toàn bộ hệ thống chính trị nói chung được quyết định bởi phẩm chất, năng
lực và hiệu quả công tác của chính đội ngũ cán bộ, công chức. Ngày nay,
trong công cuộc cải cách hành chính, để có một nền hành chính đạt được tiêu
chí của xã hội nhằm phục vụ nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao
dân trí, thực hiện công bằng, dân chủ thì không thể không coi trọng đến chất
lượng, trình độ, tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức.
Vai trò của cán bộ, công chức hành chính thể hiện qua bốn mối quan
hệ. Một là, quan hệ với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; hai là với bộ máy tổ chức lãnh đạo quản lý; ba là với công việc; bốn là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status