BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ngành : Chính trị học
Mã số : 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Cần Thơ - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung được trình bày trong luận văn là kết
quả nghiên cứu của chính bản thân tôi. Các số liệu và trích dẫn có nguồn gốc
rõ ràng và chính xác. Các kết quả nghiên cứu luận văn không trùng với bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
VHTT
: Văn hóa thông tin
VH-XH
: Văn hóa- xã hội
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
"Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức..." [34, tr.13]. Đó là tuyên bố trịnh trọng tại Điều 2,
Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Nhà nước pháp
quyền XHCN có vai trò to lớn trong xây dựng, tổ chức xã hội mới. Xây dựng
chế độ mới, nền kinh tế mới và con người mới là những nhiệm vụ hết sức khó
khăn, phức tạp đối với đất nước ta hiện nay. Nhà nước không đổi mới tổ chức
hoạt động, nâng cao hiệu lực quản lý của mình thì không thể hoàn thành
định. Chất lượng hoạt động của HĐND phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả bên
trong và bên ngoài. Các yếu tố bên trong như: chất lượng của đại biểu, hoạt
động của đại biểu; chất lượng các kỳ họp; chất lượng hoạt động của Thường
trực, các ban của HĐND và kết tinh lại chất lượng hoạt động thực hiện chức
năng, vai trò của HĐND, đó là chức năng ban hành nghị quyết, chất lượng
hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh. Các yếu tố bên ngoài gồm:
pháp luật về HĐND; phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng; vai trò giám sát
và phản biện xã hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành viên của Mặt trận
và nhân dân; công tác giám sát và kiểm tra của Chính phủ đối với hoạt động
của HĐND dân cấp tỉnh. Đây cũng chính là những vấn đề mà hiện nay chúng
ta vẫn còn lúng túng, bất cập về lý luận và thực tiễn.
Do đó, trước yêu cầu khách quan, cấp bách của sự nghiệp đổi mới hiện
nay, xuất phát từ tình hình hoạt động trong những hoàn cảnh, điều kiện chính
trị, kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ của thế giới khác trước rất
nhiều, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới tư duy, tổ chức, nhất là phương thức hoạt
động của nhà nước, trong đó phải đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của
3
HĐND theo hướng xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân,
bảo đảm thực hiện đầy đủ nền dân chủ XHCN; cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt
động của nhà nước phải bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, bảo đảm quyền làm chủ nhà nước và xã hội của nhân dân, tất cả vì hạnh
phúc của nhân dân; phải nhận thức đúng vai trò, chức năng, quyền hạn của cơ
quan dân cử; cải tiến tổ chức bộ máy và hoạt động của Quốc hội và HĐND để
các cơ quan này thực hiện đúng chức năng mà Hiến pháp và pháp luật đã quy
định. Tiếp tục kiện toàn và củng cố HĐND, UBND các cấp để bảo đảm tốt
nhiệm vụ và thẩm quyền đã được phân cấp... Xây dựng HĐND các cấp có
thực quyền để thực hiện đầy đủ vai trò cơ quan đại diện của nhân dân, cơ
quan hành chính cấp trên. Để HĐND thực sự là cơ quan quyền lực, cần
thiết HĐND phải đổi mới cả về tổ chức và nội dung hoạt động trong điều
kiện cải cách hành chính hiện nay.
- Phạm Thị Hương (2004), Bầu cử Hội đồng nhân dân, bàn về quan hệ
nhà nước và nhân dân, Tạp chí Lập pháp, số 4. Bài viết nêu khá rõ những tồn
tại của phương thức bầu cử đại biểu HĐND ở nước ta hiện nay, nhất là vấn đề
chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng đại biểu, còn nặng về cơ cấu. Theo
tác giả muốn nâng cao chất lượng đại biểu HĐND, nhất thiết phải thực hiện
tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; nhà nước thực sự phải đại diện quyền, lợi ích hợp
pháp của nhân dân.
- Đàm Bích Liên (2006), Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động
của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
số 10. Bài viết đã nêu khá đầy đủ thực trạng chính quyền cấp xã ở nước ta
hiện nay, trong đó đưa ra một số nội dung không còn phù hợp ở chính quyền
cấp xã như: chưa quan tâm công tác cán bộ, hệ thống chính quyền chưa mạnh.
Đặc biệt bài viết đưa ra những quan điểm nhằm nâng cao hiệu lực hoạt động
của chính quyền cấp xã, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động
của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Ngoài ra, còn có một số cuốn sách, bài viết của một số tác giả như:
5
- Lê Minh Thông, Nguyễn Như Phát (2002), Những vấn đề lý luận và
thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam”, Nxb CCTQG, H.,
- Đinh Ngọc Giang (2003), Hoạt động giám sát của HĐND cấp xã, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp, số 3.
- Thái Vĩnh Thắng (2003), Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính
quyền cấp xã, phường, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4.
- Nguyễn Đăng Dung (2003), Bàn về cải cách chính quyền nhà nước ở
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1. Vị trí, chức năng của Hội đồng nhân dân tỉnh
trong hệ thống chính trị cấp tỉnh
1.1.1. Vị trí của Hội đồng nhân dân tỉnh
Theo quy định của pháp luật, HĐND nói chung, HĐND cấp tỉnh nói
riêng, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra,
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên;
có quyền quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương.
Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho
nhân dân địa phương, HĐND có khả năng đoàn kết tập hợp và thống nhất ý
chí, hành động của nhân dân; là cầu nối giữa chính quyền trung ương với
chính quyền địa phương, vừa đảm bảo sự tập trung thống nhất trong hoạt
động của bộ máy chính quyền trung ương và bộ máy chính quyền địa phương.
Theo các quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức HĐND và UBND
năm 2003 HĐND có vị trí, vai trò, tính chất, đặc điểm như sau:
- Một là, HĐND quan hệ chặt chẽ với UBND, cùng với UBND hợp
thành cấu trúc của chính quyền địa phương
Trong hệ thống chính trị có tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc và tổ chức thành
viên. Trong hệ thống cơ quan nhà nước có hệ thống cơ quan quyền lực; cơ
quan hành pháp; cơ quan tư pháp. Chính quyền Trung ương gồm các cơ quan
nhà nước trung ương; chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND các
cấp. Theo quy định của pháp luật HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
10
+ Căn cứ vào pháp luật, bầu, miễn nhiệm, bãi miễn chủ tịch, phó chủ tịch,
uỷ viên thường trực HĐND, thành viên các ban HĐND; bầu, miễn nhiệm các
chức danh của UBND. Các đại biểu HĐND hợp thành cơ quan HĐND thể hiện
quyền lực của nhân dân, để thực hiện quyền lực của mình HĐND tổ chức ra bộ
máy của mình gồm thường trực HĐND và các ban của HĐND. Thường trực
HĐND gồm chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên thường trực HĐND (đối với cấp
tỉnh); chủ tịch, phó chủ tịch (đối với cấp xã). Các ban của HĐND gồm trưởng,
phó và thành viên ban. Khi đại biểu đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật
thì HĐND tiến hành bầu đại biểu đó vào các chức danh trên. Nếu đại biểu
HĐND vi phạm pháp luật hoặc không đủ tín nhiệm đối với nhân dân, đi ngược
lại lợi ích của nhân dân thì nhân dân thông qua cơ quan đại diện của mình có
quyền miễn nhiệm các chức danh đó, thể hiện quyền lực của nhân dân.
Để giúp HĐND quản lý, điều hành, phát triển KT-XH ở địa phương đảm
bảo quyền lực của nhân dân, HĐND bầu ra cơ quan chấp hành của mình có
nhiệm vụ thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đó là UBND, UBND
gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và các thành viên. UBND có trách nhiệm thực
hiện sự chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng
cấp. Theo quy định của pháp luật, chủ tịch UBND nhất thiết phải là đại biểu
HĐND, còn các thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu HĐND.
Nếu các thành viên UBND vi phạm pháp luật hoặc không đáp ứng được yêu
cầu công tác, đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân thì HĐND có
quyền bãi miễn các thành viên đó.
Để thực hiện quyền lực của mình, HĐND căn cứ vào Hiến pháp, pháp
luật có quyền ban hành nghị quyết triển khai các mặt công tác ở địa phương.
Nghị quyết của HĐND chính là ý chí quyền lực của nhân dân địa phương, khi
nghị quyết của HĐND được ban hành thì các cơ quan, đơn vị và cá nhân ở địa
quan chấp hành của cơ quan nhà nước cấp trên trong việc thực hiện Hiến pháp
và pháp luật. Nguyên tắc hoạt động nhà nước ta là nhà nước thống nhất quản
12
lý trên toàn lãnh thổ, chính quyền địa phương cấp dưới phải phục tùng sự
hướng dẫn chỉ đạo của chính quyền nhà nước cấp trên: chính quyền cấp xã
phục tùng, chịu sự chỉ đạo của chính quyền cấp huyện; chính quyền cấp
huyện phục tùng, chịu sự chỉ đạo của chính quyền cấp tỉnh; chính quyền cấp
tỉnh phục tùng, chịu sự chỉ đạo của chính quyền trung ương. Đồng thời
HĐND khi ban hành nghị quyết không được trái Hiến pháp, pháp luật và các
văn bản của cấp trên (tính hợp hiến): Nghị quyết HĐND cấp xã không trái với
Hiến pháp, văn bản của UBND cấp huyện; nghị quyết HĐND cấp huyện
không trái Hiến pháp và văn bản của UBND cấp tỉnh; nghị quyết của HĐND
cấp tỉnh không trái Hiếp pháp và văn bản của các cơ quan Trung ương. Khi
các cơ quan Trung ương ban hành các văn bản mang tính chỉ đạo, quản lý,
điều hành thì HĐND các cấp có trách nhiệm triển khai thực hiện. Trong quá
trình triển khai thực hiện phải phù hợp điều kiện kinh tế-xã hội ở địa phương,
đồng thời không được trái văn bản cấp trên.
Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) Thủ tướng có
quyền đình chỉ việc thi hành các nghị quyết trái pháp luật của HĐND tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương và đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội huỷ
bỏ nghị quyết đó; chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có
quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai trái của HĐND cấp huyện, quận,
thành phố thuộc tỉnh và đề nghị HĐND cùng cấp bãi bỏ. Điều 120 Hiến pháp
năm 1992 còn quy định: Căn cứ vào Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên, HĐND ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi
hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương. Như vậy HĐND chỉ
được ban hành nghị quyết trên cơ sở quy định của pháp luật và văn bản của
thống chính quyền nhà nước.
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: "HĐND quyết định
những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa
phương, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh,
không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa
phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước" [35, tr.6].
14
Mỗi địa phương có ví trí địa lý, điều kiện tự nhiên, môi trường văn hoá
khác nhau, điều kiện phát triển KT-XH cũng khác nhau. Để phát huy tiềm
năng, lợi thế điều kiện tự nhiên, xã hội của mỗi vùng, miền cả nước, Hiến
pháp, pháp luật có hành lang pháp lý để HĐND mỗi địa phương có điều kiện
cụ thể hoá chính sách của nhà nước căn cứ vào điều kiện của địa phương.
Nhưng việc phát triển đó không thoát ly sự phát triển chung của đất nước,
tránh tình trạng cát cứ, cục bộ địa phương. Như vậy HĐND vừa là khâu trong
hệ thống cơ quan nhà nước, vừa là chủ thể quyền lực, đại diện cho nhân dân
địa phương, đồng thời bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng.
Với các tính chất như trên, HĐND cấp tỉnh có vị trí và ý nghĩa quan trọng
trong đời sống xã hội ở địa phương. Là cơ quan quyền lực ở địa phương, quyết
định những vấn đề đời sống vật chất, tinh thần, quyền làm chủ của nhân dân
địa phương. Quyền lực của nhân dân có được đảm bảo hay không căn cứ hiệu
quả hoạt động của HĐND. Với hai chức năng quan trọng là quyết định chính
sách ở địa phương và giám sát việc tuân theo pháp luật và nghị quyết của
HĐND. Nếu HĐND thực hiện hiệu quả chức năng của mình thì quyền lực của
nhân dân được đảm bảo, là cơ sở quan trọng cho việc phát triển KT-XH ở địa
phương, nâng cao đời sống nhân dân, giũ vững ổn định chính trị xã hội. Việc
giám sát của HĐND hiệu lực, hiệu quả sẽ đảm bảo tăng cường pháp chế ở địa
viên của thường trực HĐND, thành viên UBND tỉnh cấp mình thì Thủ tướng
Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn kết quả bầu cử các chức
danh đó, chứ không phải là Quốc hội, và như vậy HĐND không phải là cơ
quan cấp dưới của Quốc hội. Hiện nay Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có chức
năng hướng dẫn hoạt động của HĐND các cấp đảm bảo đúng quy định của
pháp luật thông qua việc ra nghị quyết ban hành Quy chế hoạt động của
HĐND các cấp.
HĐND các cấp do cử tri ở địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước cử
tri và cơ quan nhà nước cấp trên. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
16
của HĐND thì HĐND không phải là cơ quan cấp dưới của Quốc hội. Tuy
HĐND nằm trong hệ thống cơ quan quyền lực nhưng HĐND không được ban
hành Hiến pháp, luật mà chỉ được ban hành nghị quyết về những vấn đề phát
triển kinh tế-xã hội ở địa phương. HĐND chịu trách nhiệm trước cử tri và nếu
các đại biểu HĐND không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật thì bị
nhân dân địa phương thông qua cơ quan đại diện bãi miễn, bãi nhiệm. Do đó
HĐND không phải là cơ quan cấp dưới của Quốc hội.
Tương tự như vậy, HĐND cấp tỉnh không phải là cơ quan cấp trên của
HĐND cấp huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện);
HĐND cấp huyện không phải là cơ quan cấp trên của HĐND xã, phường, thị
trấn (sau đây gọi là cấp xã). Theo quy định của pháp luật, đại biểu HĐND cấp
nào do cử tri cấp đó bầu và hợp thành HĐND.
Đối với mối quan hệ giữa HĐND cấp tỉnh với HĐND cấp huyện, mặc dù
HĐND cấp tỉnh và cấp huyện cùng được quyết định những vấn đề quan trọng
ở địa phương nhưng HĐND cấp tỉnh không phải là cấp trên của HĐND cấp
huyện. HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết để điều chính các quan hệ xã hội
trên địa bàn tỉnh; HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết điều chỉnh quan hệ
phủ có quyền đình chỉ việc thi hành. Nếu các văn bản của UBND tỉnh trái
pháp luật thì Chính phủ có quyền huỷ bỏ. Mặc dù HĐND tỉnh ban hành quyết
định phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, nhưng Chính phủ có quyền phê
duyệt quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội cấp tỉnh cho phù hợp với việc phát
triển chung của toàn quốc.
Chủ tịch và các thành viên của UBND tỉnh do HĐND tỉnh bầu, nhưng
Thủ tướng Chính phủ có quyền phê chuẩn kết quả bầu cử đó và khi Thủ
tướng chưa phê chuẩn thì các chức danh bầu chưa được công nhận.
Đối với chính quyền cấp huyện phải có trách nhiệm thực hiện sự chỉ
đạo điều hành của chính quyền cấp tỉnh, đảm bảo phát huy tính sáng tạo, lợi
thế ở mỗi địa bàn huyện nhưng vẫn phải đảm bảo phát triển chung trên địa
18
bàn tỉnh. Tuy HĐND cấp huyện có tính độc lập tương đối với cấp tỉnh
nhưng HĐND và UBND huyện chịu sự quản lý điều hành về phát triển kinh
tế-xã hội, về tổ chức bộ máy, con người, đầu tư xây dựng cơ bản. Chủ tịch
và các thành viên UBND huyện do HĐND huyện bầu nhưng phê chuẩn kết
quả bầu cử lại do Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện. Nếu chủ tịch UBND tỉnh
không phê chuẩn thì các chức danh trên chưa được công nhận. Cũng như
vậy các thành viên thường trực HĐND huyện phải do thường trực HĐND
tỉnh phê chuẩn, lúc đó mới có hiệu lực. UBND tỉnh có chức năng phê duyệt
quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của cấp huyện phù hợp với quy hoạch
tổng thể của tỉnh. Trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng, cấp huyện có
trách nhiệm thực hiện nghiêm những chỉ tiêu, giải pháp do tỉnh đề ra. Khi
HĐND ban hành nghị quyết và UBND tỉnh ban hành văn bản cụ thể hoá
nghị quyết của HĐND và Hiến pháp, pháp luật thì HĐND, UBND cấp
huyện phải có trách nhiệm thực hiện.
Đối với mối quan hệ giữa chính quyền cấp huyện với cấp xã cũng tương
dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính.
Như vậy nội dung thực hiện chức năng quyết định của HĐND rất rộng,
toàn diện bao gồm mọi mặt của đời sống KT-XH, văn hoá, khoa học, quốc
phòng, an ninh... Điều này một lần nữa xác định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm
quan trọng của HĐND cấp tỉnh trong chính quyền địa phương với tư cách là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Mặt khác đây cũng là căn cứ pháp
lý tạo ra môi trường thuận lợi để chính quyền địa phương khai thác hết tiềm
năng, nội lực sẵn có ở địa phương, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần
của nhân dân địa phương.
Căn cứ quy định của Hiến pháp và pháp luật, HĐND thực hiện chức
năng này trên từng lĩnh vực. HĐND nghe UBND trình bày định hướng phát
triển, biện pháp tổ chức thực hiện, xem chủ trương, chính sách đó có phù hợp
với Hiến pháp, pháp luật, với tình hình KT-XH và có bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của nhân dân địa phương hay không, trên cơ sở đó HĐND quyết
20
định ban hành hay không ban hành. Để đảm bảo các quyết định của HĐND
hợp hiến, hợp pháp, mỗi đại biểu HĐND và HĐND cần nắm bắt, am hiểu tình
hình KT-XH và chính sách pháp luật của nhà nước, tránh tình trạng hiện nay
quyết định của HĐND là bản sao của của UBND.
+ Giám sát:
HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực
HĐND, UBND, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát
việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND ; giám sát việc tuân theo Pháp luật
của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ
trang nhân dân và của công dân ở địa phương. (được quy định tại Điều 12, 13,
14, 15, 16, 17 và 18 của Luật Tổ chức HĐND và UBND)
Chức năng giám sát của HĐND luôn gắn liền chức năng quyết định
kinh tế-xã hội ở địa phương, nhưng để đảm bảo cho biện pháp đó được thực
hiện nghiêm thì HĐND được giao nhiệm vụ giám sát các cơ quan nhà nước,
cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện quy định của pháp luật và
nghị quyết của HĐND. Quyền hạn, trách nhiệm giám sát của HĐND được
pháp luật quy định cụ thể, trong đó có giám sát thường xuyên và giám sát theo
chương trình.
1.1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh
Là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, HĐND tỉnh có quyền quyết
định những vấn đề liên quan đến quản lý Nhà nước ở tỉnh mà các vấn đề đó
không thuộc thẩm quyền quyết định của các cơ quan Trung ương hoặc của địa
phương khác.
Luật tổ chức HĐND và UBND (2003) đã quy định cụ thể nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐND trên từng lĩnh vực hoạt động của địa phương:
- Trong lĩnh vực kinh tế: Quyết định các chủ trương, biện pháp phát triển
kinh tế - xã hội; phân bổ lao động và dân cư; quản lý, sử dụng đất đai, phân
bổ thu- chi ngân sách, chính sách tiết kiệm trong hoạt động quản lý sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, chống tham nhũng, chống buôn lậu... (Điều 11).