ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀNỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGÔ ĐÌNH TIẾN CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRONG
QUẢN LÝ TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP TỈNH BẮC
GIANG Nghd :PGS.TS . LÊ NGỌC HÙNG
HÀ NỘI: 2006
MỤC LỤC
1.2.3. Quản lý
11
1.2.4. Quản lý giáo dục
12
1.2.5. Xã hội hoá
13
1.2.6. Xã hội hoá giáo dục
15
1.3. Vai trò của Trường phổ thông ngoài công lập
18
1.3.1. Vị trí trường phổ thông ngoài công lập
18
1.3.2. Vai trò trường phổ thông ngoài công lập
19
1.4. Xã hội hoá giáo dục và quản lý phát triển trường phổ thông ngoài công
lập
20
1.4.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục
20
1.4.2. Vai trò, ý nghĩa xã hội hoá giáo dục
22
1.4.3. Nội dung xã hội hoá giáo dục
26 1.4.4. Nguyên tắc xã hội hoá giáo dục
29
1.4.5. Kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục của một số nước
31
49
2.4.2. Nhận thức về chủ trương xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường
lớp phổ thông ngoài công lập
52
2.4.3. Tình hình huy động các lực lượng xã hội tham gia công tác xã hội
hoá giáo dục phổ thông
56
2.4.4. Phân tích thực trạng phát triển trường phổ thông ngoài công lập
59
Chương 3: Giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý
trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện
nay
3.1. Định hướng phát triển giáo dục tỉnh Bắc Giang thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
67
3.1.1. Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển giáo dục của Đảng và
Nhà nước
67
3.1.2. Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh Bắc Giang đến
năm 2010
68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
95
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hoá giáo dục là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm huy
động, khuyến khích mọi nguồn lực của các lực lượng xã hội tham gia vào
phát triển sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập. Nghị quyết TW 6
khoá IX của Đảng nêu: “Đẩy mạnh XXH giáo dục, xây dựng xã hội học tập,
coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục
phát triển giáo dục. Nhà nước khuyến khích mọi đóng góp, mọi sáng kiến của
xã hội cho giáo dục”
Xã hội hoá để phát triển trường lớp ngoài công lập ở các cấp học, bậc
học của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và của giáo dục phổ thông nói
riêng là một yêu cầu cấp thiết góp phần phát triển giáo dục. Sau gần 10 năm
thực hiện, hoạt động XHHGD đang ngày càng phát triển rộng khắp cả nước,
các loại hình trường lớp với phương thức giáo dục đa dạng hoá. Hệ thống các
trường ngoài công lập phát triển ở mọi bậc học, cấp học. Đã huy động được
nhiều nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục, xây dựng được phong trào
học tập sôi nổi trong nhân dân khắp các vùng miền, công bằng xã hội trong
học tập được đảm bảo, góp phần ổn định xã hội tạo niềm tin của dân đối với
chế độ, với Nhà nước.
Tuy nhiên vẫn còn tình trạng một số cấp, ngành và nhân dân chưa nhận
thức đúng về XHH, còn sự phân biệt giữa trường công lập và ngoài công lập.
Các tổ chức kinh tế, xã hội tham gia vào XHHGD còn hạn chế, tiềm năng
GD&ĐT,Y tế, văn hoá, TDTT Lâu nay XHHGD luôn được Đảng, Nhà
nước các cấp lãnh đạo các địa phương quan tâm nhưng cho đến nay chưa có
đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về việc tăng cường các giải pháp thực
hiện chuyển đổi loại hình trường lớp công lập sang ngoài công lập hay phát
triển loại hình trường dân lập, tư thục ở mầm non, phổ thông để thực hiện chủ
trương của Đảng, Nghị quyết của Chính phủ nhằm phát triển sự nghiệp giáo
dục đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH. 3
Với những lý do trên, tác giả chọn lựa nghiên cứu đề tài: “Các giải
pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ thông ngoài
công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận và thực trạng thực hiện chủ trương xã hội
hoá, phát triển hệ thống trường lớp phổ thông NCL ở Bắc Giang, trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường chất lượng và hiệu quả quản lý
trường phổ thông ngoài công lập đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục ở địa
phương trong giai đoạn hiện nay
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động XHHGD trong xây dựng trường lớp ngoài công lập.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Giải pháp tăng cường phát triển hệ thống trường lớp phổ thông ngoài
công lập tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
4. Giả thuyết khoa học của đề tài
Hiện nay công tác XHHGD trong quản lý trường phổ thông ngoài công
lập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục ở địa phương.
- Nhóm phương pháp bổ trợ: Gồm phương pháp thống kê toán học, so
sánh để xử lý số liệu thu thập được.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xác lập các giải pháp xã hội hoá giáo
dục đối với quản lý các trường phổ thông ngoài công lập
Chương 2: Thực trạng xã hội hoá giáo dục trong quản lý trường phổ
thông ngoài công lập ở tỉnh Bắc Giang 5
Chương 3: Giải pháp tăng cường xã hội hoá giáo dục trong quản lý
trường phổ thông ngoài công lập tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC LẬP CÁC GIẢI PHÁP
XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI QUẢN LÝ CÁC TRƢỜNG PHỔ
THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống của xã hội loài người. Sự tồn tại
và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế
xã hội và ngược lại với chức năng của mình giáo dục lại có vai trò to lớn
trong việc phát triển kinh tế xã hội. Xã hội loài người coi giáo dục là công cụ,
phương tiện để cải biến xã hội. Giáo dục được coi vừa là động lực, vừa là
mục tiêu cho việc phát triển tiếp theo của xã hội. Khi xã hội phát triển lên một
các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã
hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân tạo điều
kiện cho giáo dục phát triển. Sức mạnh tổng hợp của các ngành có liên quan
đến giáo dục được huy động vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục.
Xã hội hoá giáo dục là chủ trương đúng đắn mang tính chiến lược của
Đảng, là một trong những phương diện quan trọng của xã hội hoá hoạt động
quản lý Nhà nước để phát triển giáo dục - đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện
nay.
Chủ trương xã hội hoá giáo dục được đặt ra từ Nghị quyết TW4 khóa
VII, Nghị quyết TW2 khoá VIII. Đặc biệt đến Nghị quyết TW 6 khoá IX
Đảng khẳng định: "Đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục
là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển
giáo dục". 7
Chủ trương XHHGD của Đảng được thể chế hoá vào Hiến pháp 1992,
tại Điều 35, "Phát triển các hình thức trường quốc lập, DL và các hình thức
GD khác". Điều 12 của Luật giáo dục 2005 khẳng định: " Xã hội hoá sự
nghiệp giáo dục để thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình
thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân
tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục".
Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số
90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động
giáo dục nhằm cụ thể hoá chủ trương, nội dung, biện pháp XHH hoạt động
giáo dục - đào tạo.
Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về
đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động GD, văn hoá, y tế, TDTT. Tiếp đó, ngày
24/6/2005, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT
phê duyệt Đề án "Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005 -
tăng cường công tác XHHGD như Luận văn thạc sỹ của tác giả Hoàng Duy
Đỉnh với đề tài Các biện pháp tăng cường quản lý nhằm đẩy mạnh XHH giáo
dục cấp THPT ở Hải Phòng, luận văn Thạc sĩ của Lê Ngọc Quân về một số
giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường chuẩn quốc gia THCS
huyện Lâm Thao, Phú Thọ, đề tài tác động của chính sách xã hội hoá giáo dục
đối với loại hình trường PT ngoài công lập ở Hà Nội của Đinh Thị Minh
Châu…Tuy nhiên đó là những vấn đề cụ thể có tính chuyên sâu, gắn với công
tác quản lý nảy sinh ở từng địa phương và phạm vi công tác, các hoạt động
của xã hội hoá giáo dục là vấn đề rộng lớn, do vậy việc nghiên cứu xã hội hoá
giáo dục vẫn có ý nghĩa thực tiễn lớn lao.
1.2. Các khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt trong lịch sử nhân loại, là
một trong những lĩnh vực hoạt động xã hội nhằm kế thừa, duy trì và phát triển
nền văn hoá xã hội, văn minh nhân loại. Giáo dục là nhân tố cốt lõi và tồn tại
khách quan trong mọi giai đoạn phát triển xã hội.
Theo nghĩa chung nhất: "GD là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những
tri thức, kỹ năng, kỷ xảo và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người
bước vào cuộc sống lao động và sinh hoạt xã hội; là một nhu cầu tất yếu của
xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã
hội" [37, tr.7].
Giáo dục là điều kiện để con người gắn bó và gắn bó với nhau một cách
có hiệu quả theo mục tiêu đổi mới điều kiện sinh tồn, bởi vì hành động của
bất kỳ cá nhân nào cũng bị hạn chế do khả năng và kinh nghiệm của riêng 9
người đó. Chính nhờ giáo dục, kết quả những cố gắng của mỗi thế hệ được
truyền lại cho thế hệ sau rồi cứ thế tích luỹ lại và ngày càng phong phú.
10 Giáo dục được coi là "then chốt" của mọi vấn đề "then chốt". Chiến
lược GD là tiêu điểm của chiến lược kinh tế - xã hội - văn hoá - chính trị
Mọi chiến lược về con người, về nguồn nhân lực, về khoa học kỹ thuật, về
chấn hưng văn hoá về xoá đói nghèo, phát triển kinh tế, quốc phòng an ninh
đều xuất phát từ chiến lược giáo dục.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục - đào tạo là"Ai cũng
được học hành", Người nói "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" và kêu gọi
"Phải biến dân tộc ta thành một dân tộc thông thái". HS phải cố gắng, siêng
năng học tập để làm cho non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp. Điều đó chứng
minh vai trò giáo dục là hết sức quan trọng. Một lần nữa khẳng định "Giáo
dục là cầu nối từ chỗ không có gì đến chỗ cái gì cũng có" (Triết học giáo dục
Australia).
Hội nghị Thượng đỉnh Bộ trưởng Giáo dục các nước G8 họp tại Tokyo
tháng 9/2000 đã khẳng định giáo dục là cốt lõi của sự phát triển và một trong
bốn hướng lớn của giáo dục G8: "Mỗi nước phải là một xã hội học tập và
đảm bảo cho công dân của mình được trang bị kiến thức, kỹ năng tay nghề
cần cho thế kỷ mới"
1.2.2. Trường phổ thông
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, trường phổ thông thuộc bậc giáo
dục phổ thông, Điều 26 Luật giáo dục 2005 quy định "giáo dục phổ thông”
bao gồm:
- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến
lớp năm. Tuổi của HS vào học lớp một là sáu tuổi.
- Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp
chín. HS vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là
nhất định đến sự quản lý. Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc
cá nhân và hình thành những chức năng chung, xuất hiện trong toàn bộ cơ
chế sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó" [36, tr.195].
Trên nhiều bình diện, quan niệm, tư tưởng và thời kỳ lịch sử khác nhau,
có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Có người cho rằng quản lý là cai
quản, điều hành, điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn, trọng tài, cũng có người
quan niệm quản lý là "Nghệ thuật". Frederics Wiliam Taylor - Mỹ (1856-
1915) cho rằng: "Quản lý nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải
làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất" [17, tr.
89]. 12
Các nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ góc độ khác nhau cũng đã
đưa ra những khái niệm quản lý. Hà Thế Ngữ quan niệm: "Quản lý là một quá
trình định hướng " [32, tr.24]. Còn Nguyễn Văn Lê cho rằng: "Quản lý là
khoa học và nghệ thuật" [26, tr.5].
Đặng Quốc Bảo quan niệm: "Quản lý về bản chất bao gồm quá trình
"Quản" và quá trình "lý". Quản là coi sóc, giữ gìn nhằm ổn định hệ thống. Lý
là thanh lý, xử lý, biện lý, sửa sang, chỉnh đốn nhằm làm cho hệ thống phát
triển. Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển
mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.
Như vậy: Quản lý = ổn định + phát triển
Trong quản phải có mầm mống của lý và trong lý phải có hạt nhân của
quản. Điều này tạo ra mối quan hệ hiện thực: ổn định đi tới sự phát triển,
phát triển trong thế ổn định" [10, tr.176].
Tóm lại, mặc dù có những kiến giải khác nhau, nhưng xét trên tổng thể,
phần lớn các nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng: Quản lý là sự tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một
tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả cao bằng cách vận dụng
mối quan hệ quản lý dạy và học trong hoạt động GD, quan hệ giữa các cấp
quản lý, quan hệ giữa nội bộ và bên ngoài; các vấn đề kỹ năng, phong cách,
chiến lược, ưu tiên trong quản lý QLGD có quy mô và cấp độ đa dạng phức
tạp, tầng nấc thứ bậc (trong hệ thống lớn có nhiều hệ thống con), lại nhiều yếu
tố cấu trúc khác nhau và chịu sự tác động của các yếu tố khách quan luôn vận
hành và tương tác trong mối quan hệ đa dạng phức tạp, nhưng lại theo quy
luật cần phải hiểu rõ đặc điểm này để thường xuyên đổi mới, cải tiến tư duy
quản lý giáo dục phù hợp với yêu cầu hiện nay.
1.2.5. Xã hội hoá
Thuật ngữ "xã hội hoá" dùng để chỉ chức năng nguyên thuỷ của giáo
dục (Socialization), được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương
cách, các giá trị, các vai trò mà xã hội đã quy ước, tạo cơ sở cho quá trình
hình thành và phát triển nhân cách con người.
Nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách hiểu, định nghĩa xã hội hoá
khác nhau:
* Xã hội hoá cá nhân: là quá trình biến cá thể người thành cá nhân và
thành nhân cách.
- Xã hội hoá là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội.
- Xã hội hoá là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con
người, của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội. 14
- XHH là quá trình hội nhập, hoà nhập của cá nhân vào xã hội hay một
nhóm của xã hội thông qua quá trình học và các chuẩn mực và các giá trị xã
hội hay nhóm đó.
* Xã hội hoá xã hội:
"Xã hội hoá các mặt hoạt động xã hội của Nhà nước là huy động mọi
tổ chức, mọi cá nhân tham gia công việc Nhà nước theo khả năng của mình"
[32.Tr.12].
tinh thần tự quản, tự chịu trách nhiệm của mọi cá nhân và tổ chức đoàn thể xã
hội. Khắc phục dần tính thụ động, thờ ơ, phó mặc mọi công việc cho cơ quan
chính quyền Nhà nước.
- Xã hội hoá là thu hút mọi tổ chức xã hội, mọi thành phần kinh tế tham
gia thực hiện các dự án phát triển của Nhà nước.
- Quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá được Nhà nước Việt Nam
tiến hành theo các bước phù hợp như sau:
+ Xoá bỏ dần chế độ bao cấp, cơ chế "xin cho".
+ Tách dần hoạt động quản lý kinh doanh khỏi hoạt động quản lý hành
chính của các cơ quan chức năng Nhà nước.
+ Nhà nước không ngừng củng cố các cơ quan dịch vụ công.
+ Nhà nước xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Tất cả những đặc điểm trên thể hiện khá đầy đủ nội dung, vai trò, ý
nghĩa của hoạt động xã hội hoá.
1.2.6. Xã hội hoá giáo dục
Chính nhu cầu lao động để tồn tại và phát triển xã hội mà ra đời giáo
dục, hình thành và hoàn chỉnh hoạt động giáo dục. Lúc bình minh của lịch sử
nhân loại chưa có nền giáo dục dưới hình thức nhà trường mà chỉ có nền giáo
dục từ môi trường gia đình và từ bản thân cuộc sống. Chính nhờ có giáo dục
mà các di sản tư tưởng và kỹ thuật của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau.
Các di sản này được tích lũy ngày càng phong phú, làm cho xã hội không
ngừng đổi mới và phát triển. Chính vì vậy mà giáo dục là hiện tượng đặc biệt,
mang tính phổ biến và vĩnh hằng.
Đặc biệt là vì bất kỳ thời đại nào, giáo dục cũng là điều kiện quyết định
sự tồn tại và phát triển của loài người.
Phổ biến ở chỗ hiện tượng giáo dục có ở mọi lúc, mọi nơi, ở đâu có con
người là ở đó có giáo dục. 16
của giáo dục, chính là tính chất xã hội của giáo dục chứ chưa tạo ra động lực
mới của hoạt động giáo dục trong một xã hội phát triển tiến bộ. 17
Xã hội hoá giáo dục là cách nói gọn của XHH công tác giáo dục với nội
hàm là phương thức, cách thức, phương châm, cách làm giáo dục, tổ chức và
quản lý giáo dục. Đảng ta chủ trương XHHGD là một tư tưởng chiến lược,
một bộ phận trong đường lối giáo dục của Đảng.
Đặc điểm của xã hội hoá giáo dục là mở rộng quy mô, mở rộng trách
nhiệm GD, chuyển hướng từ GD tinh hoa thành GD đại chúng - GD cho mọi
người - xây dựng xã hội học tập; hoạt động GD từ chỗ là trách nhiệm của
ngành GD, do Nhà nước đảm trách, đến mọi cá nhân, tập thể, cộng đồng cùng
chăm lo (tham gia). Điều đó tạo nên động lực mới và sức mạnh tổng hợp, tính
công bằng xã hội của giáo dục - đào tạo.
Như vậy xã hội hoá giáo dục là quá trình tăng cường tính xã hội của
giáo dục lên tầm cao mới, đa phương hoá nguồn lực, đa dạng hoá các loại
hình đào tạo, cộng đồng hoá trách nhiệm. “XHH giáo dục là một quá trình
dân chủ hoá theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân
làm chủ” [29, tr.310].
Phạm Minh Hạc chỉ ra rằng xã hội hoá giáo dục là: "Làm cho xã hội
nhận rõ trách nhiệm đối với giáo dục, giáo dục phục vụ đắc lực cho phát triển
kinh tế - xã hội, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài
nhà trường, tạo điều kiện để giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với
hành; xã hội hoá giáo dục có quan hệ hữu cơ với dân chủ hoá giáo dục" [26,
Tr.17]
Xã hội hoá giáo dục đã được các quốc gia trên thế giới chú trọng và
được đặt ra nhiều thập kỷ nay, hoạt động XHHGD luôn vận động, luôn phát
triển phù hợp với mọi không gian, thời gian càng ngày càng linh hoạt và
phong phú.
chủ trương, kế hoạch phát triển GD của đất nước, địa phương, đảm bảo các
nguyên tắc quản lý về giáo dục và phù hợp pháp luật.
1.3. Vai trò trƣờng phổ thông ngoài công lập
1.3.1. Vị trí trường phổ thông ngoài công lập
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và thực tiễn đổi mới
đất nước, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đã có những tác động
tích cực đến giáo dục, thúc đẩy nhu cầu học của xã hội ngày càng tăng và đòi
hỏi chất lượng giáo dục ngày càng cao, nhưng khả năng đáp ứng của Nhà
nước có hạn. Do vậy, chủ trương đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục,
tăng cường hình thành và phát triển trường ngoài công lập (dân lập, tư thục),
là xu hướng tất yếu phù hợp với sự phát triển xã hội, thích ứng với chủ trương
phát triển kinh tế nhiều thành phần để thúc đẩy sự cạnh tranh nhằm vận hành
và phát triển sự nghiệp giáo dục. 19
Trường ngoài công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, tuỳ theo hình
thức đầu tư tài chính và tư cách pháp nhân mà xác định loại hình trường dân
lập hay tư thục.
+ Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động.
+ Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và đảm bảo kinh
phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách.
Trường phổ thông ngoài công lập bình đẳng với trường công lập về
nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường trong việc tổ chức và hoạt động, thực
hiện mục tiêu giáo dục. Được hưởng quyền lợi, thực hiện nghĩa vụ theo quy
định Nhà nước. Trường phổ thông ngoài công lập chịu sự quản lý trực tiếp
của cơ quan QLGD theo quy chế tổ chức và hoạt động các trường ngoài công
lập; theo quy định điều lệ trường phổ thông.
Mục tiêu cuối cùng là chất lượng và hiệu quả giáo dục.
- Trường phổ thông ngoài công lập là loại hình giáo dục mở, do vậy sẽ
tạo điều kiện, cơ hội để mọi thành phần trong xã hội được tham gia đầu tư
giáo dục và mở rộng cơ sở giáo dục ngoài công lập.
- Trường ngoài công lập, góp phần chia sẻ những khó khăn tài chính
của nhà nước, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân. Khắc
phụ mâu thuẫn gay gắt hiện nay là nhu cầu đào tạo của xã hội ngày càng tăng
mà khả năng đáp ứng của nhà nước còn hạn hẹp. Thực hiện tốt mục tiêu cơ
bản của giáo dục - đào tạo là "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài", phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.4. Xã hội hoá giáo dục và quản lý phát triển trƣờng phổ thông ngoài
công lập
1.4.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục
Xã hội hoá giáo dục là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất xã
hội vốn có của GD. Chủ trương này ra đời nhằm giải quyết các mâu thuẫn cơ
bản, đó là: mâu thuẫn giữa nguồn lực với yêu cầu về quy mô, chất lượng
nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH và sự hội nhập vào nền
kinh tế tri thức; mâu thuẫn giữa tính chất XHH cao của GD với thực trạng
hoạt động đơn độc hiện nay của giáo dục - đào tạo.
Tư tưởng chiến lược của Đảng và Nhà nước về XHHGD được thể hiện
trong các Nghị quyết: NQ Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng (khoá VII),
Nghị quyết Hội nghị lần 2 BCH TW Đảng (Khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội
Đảng khoá IX. Mục tiêu của XHHGD là nhằm "Huy động toàn xã hội làm 21
GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân
dưới sự quản lý của Nhà nước" [2, Tr. 61].
Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành TW khoá VIII, nêu rõ: "Phát triển GD
là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi công cộng, từng gia đình