1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các tổ chức nói chung bao giờ cũng có những mục đích nhất định và
đều có tham vọng đạt được mục đích thông qua việc tạo dựng một môi
trường phát triển bền vững. Trong quá trình tìm kiếm và tạo dựng môi
trường đó, văn hoá được nhận diện như một yếu tè ngày càng trở nên bao
trùm và rất quan trọng.
Có thể nói văn hoá là một phần không thể xem nhẹ trong quá trình
phát triển của các tổ chức. Ngày càng có nhiều bằng chứng rõ ràng và
khẳng định rằng văn hoá đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự
thành công của tất cả các tổ chức.
Văn hoá cã ảnh hưởng rất quan trọng đến nhận thức và hành vi của các
thành viên trong mọi tổ chức. Trong bối cảnh hiện nay, các tổ chức (trong
đó có các nhà trường nói chung và trường Trung cấp chuyên nghiệp nói
riêng) đang tìm cho mình một cách ứng xử thích hợp để có thể chủ động
hội nhập với khu vực, quốc gia và thế giới một cách tự tin, có bản lĩnh.
Quá trình giáo dục ở nhà trường là quá trình được tiến hành trong đó
có Thầy và Trò cùng với các hoạt động dạy và học nhằm hướng tới mục
tiêu phát triển tri thức, kỹ năng thực hành và hoàn thiện nhân cách con
người. Quá trình này trong các thời kỳ khác nhau, ở các đối tượng khác
nhau có những đặc thù khác nhau. Nhà trường cho dù không phải là địa chỉ
duy nhất đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ khoa học công nghệ như hiện nay,
nhưng vẫn được coi là môi trường chủ yếu để trang bị kiến thức chuyên
môn nghiệp vụ, bồi dưỡng nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn cho con người.
Mục tiêu hoạt động của nhà trường, nhất là trường chuyên nghiệp là
dạy chữ (chuyên môn), dạy người và dạy nghề. Đối với trường Trung cấp
Y tế Bắc Giang, làm sao đào tạo ra được những người cán bộ y tế “vừa
3
SỐNG VĂN HÓA TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ BẮC GIANG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY” làm luận văn tốt nghiệp cao cấp lý
luận chính trị - hành chính của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, cơ quan, đoàn thể; nâng
cao nhận thức của cán bộ, giáo viên và học sinh về công tác xây dựng đời
sống văn hóa tại trường Trung cấp Y tế Bắc Giang.
- Đánh giá thực trạng về hoạt động xây dựng đời sống văn hóa tại
trường TCYT Bắc Giang. Tiếp tục hoàn thành và nâng cao chất lượng hoạt
động xây dựng môi trường văn hóa ở các phòng ban, bộ môn, các lớp học
sinh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tạo thương hiệu cho nhà trường.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động xây dùng đời
sống văn hóa trong nhà trường.
- Kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức, xây dựng bổ xung nguồn nhân
lực, tăng cường phối hợp giữa các phòng ban, bộ môn, các tổ chức đoàn thể
về công tác xây dựng đời sống văn hóa trong đơn vị.
- Đào tạo và đào tạo liên tục, bồi dưỡng cán bộ giáo viên, học sinh nhà
trường có nhận thức tốt về công tác xây dựng đời sống văn hóa nhà trường.
- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền xây dựng văn
hóa đơn vị tạo động lực, sức mạnh nội sinh phát triển nhà trường lớn
mạnh.
- Tích cực xã hội hóa hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
3. Phương pháp nghiên cứu
4
Trên cơ sở phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CƠ SỞ
1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vai trò của văn hoá và công
tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở
1.1. Vai trò của văn hoá
Quan niệm về văn hoá: Lịch sử phát triển của văn hoá gắn liền với lịch
sử phát triển lâu dài của loài người. Khi con người xuất hiện, tự khẳng định
mình là người thì lịch sử văn hoá cũng bắt đầu từ đó. Trải qua quá trình
hình thành và phát triển, đến năm 1871 E.Taylo lần đầu tiên định nghĩa về
văn hoá:
“Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao
gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục cùng
với những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là
một thành viên của xã hội”.
Trong thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hoá Phederico Mayo - Tổng
giám đốc UNESCO lúc đó đưa ra quan niệm “Văn hoá là tổng thể sống
động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế
kỷ hoạt động sáng tạo Êy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền
thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân
tộc”.
Từ thực tiễn lịch sử lâu dài của dân tộc, trong tác phẩm văn hoá và đổi
mới, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Văn hoá là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
toàn bộ lịch sử dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng các
6
dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sãng gió và thác ghềnh tưởng chừng
không thể vượt qua được để không ngừng phát triển và lớn mạnh, viết lên
Những gì trái với chuẩn mực trên thì không phải là văn hoá.
Theo nghĩa hẹp, quan niệm về văn hoá chỉ ở lĩnh vực sản xuất tinh
thần, lĩnh vực sản xuất vật chất được tách riêng trong lĩnh vực kinh tế.
Văn hoá là toàn bộ các giá trị tinh thần do con người sáng tạo, tích luỹ
qua quá trình lịch sử xã hội.
Trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ năm
(khoá VIII), Đảng ta tiếp cận văn hoá dưới góc độ toàn bộ những giá trị
tinh thần tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội và chia thành 8 lĩnh lực cơ
bản, trong đó tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá được coi là
những lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay. Chóng ta cũng tiếp cận văn hoá
dưới góc độ trên để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
* Vai trò của văn hoá đối với sự phát triển:
Văn hoá có một vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tế cho thấy không có sự tiến bộ nào của kinh tế mà lại không có sự
tham gia của văn hoá. Kinh tế có sự tăng trưởng tất sẽ ảnh hưởng tới văn
hoá theo chiều tích cực hay tiêu cực. Kế thừa kinh nghiệm của dân tộc, tiếp
thu tinh thần thời đại, dựa trên định hướng phát triển đất nước, Đảng và
Nhà nước ta đã sớm đổi mới tư duy về văn hoá, tiến đến nhận thức mới, sâu
sắc, toàn diện về văn hoá và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, đặc biệt từ Đại hội VII đến
nay, trong quan điểm, đời sống và chính sách phát triển, Đảng cộng sản
Việt Nam luôn khẳng định: văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm
của Đảng về vị trí, vai trò của văn hoá hàm chứa nội dung lý luận và thực
8
tiễn sâu sắc. Vừa bổ sung, phát triển lý luận văn hoá mácxít, vừa tiếp cận
với những tư tưởng tiến bộ của thời đại, đồng thời phù hợp với thực tiễn
xây dựng và phát triển đất nước ta trong thời kỳ đổi mới.
mà còn cho các thế hệ mai sau.
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội
phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân
phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội
phát triển và sử dụng năng lực của mình. Đi theo hướng đó, văn hoá phát
triển và sử dụng năng lực của mình, văn hoá phải thực sự trở thành mục
tiêu của sự phát triển. Nghị quyết Hội nghị TW 5 (khoá VIII) của Đảng chỉ
rõ: Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội
công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện.
- Văn hoá là động lực, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế:
Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, tri thức, thông tin,
sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh
thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của cá nhân và cộng đồng.
Việc đề cao yếu tố thông tin và tri thức đã dẫn đến yêu cầu coi trọng chất
lượng và số lượng về tư bản con người (Human-Capital) yêu cầu phát huy
tiềm năng sáng tạo của con người. Trong thời đại ngày nay, thời đại của
cách mạng khoa học và công nghệ, của xu thế toàn cầu hoá, việc nhấn
mạnh vai trò của khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo, giữ gìn và phát
huy văn hoá dân tộc là hợp lý và cần thiết (nhất là đối với các nước đang
phát triển). Với thiên chức hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ, văn hoá
còn khơi dậy tiềm năng sáng tạo vô tận của nguồn lực con người từ đó khai
10
thác tốt nhất các nguồn lực phát triển nội lực và nguồn lực từ bên ngoài
phục vụ cho sự phát triển.
Quá trình xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng
chính là quá trình đưa văn hoá trở thành mục tiêu, động lực cho sự phát
triển kinh tế - xã hội. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta rất chú ý đến giáo dục -
thuần túy tách rời những giá trị nhân bản, đạo đức, vì quyền lợi Ých kỷ
trước mắt của số Ýt bất chấp lợi Ých lâu dài của cộng động.
- Phát triển kinh tế phải thống nhất với việc giải quyết tốt các vấn đề
xã hội: thực hiện từng bước có hiệu quả về bình đẳng, công bằng xã hội. Có
chính sách thiết thực để thực hiện xoá đói, giảm nghèo. Tạo cơ hội để
người dân có việc làm ổn định, thu nhập chính đáng, giải quyết tốt nạn thất
nghiệp và các tệ nạn xã hội khác; kiến tạo một xã hội phồn vinh, giữ vững
ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền của dân tộc trong
xu thế hội nhập và toàn cầu hoá.
- Chính sách văn hoá nhằm phát huy mọi năng lực tinh thần sẵn có của
con người, nhưng cốt lõi vẫn là tạo dựng nhân cách. Chỉ có phát triển trên
cơ sở trí tuệ cao, nhân cách đẹp mới thực sự bền vững. Muốn vậy cần coi
giáo dục - đào tạo và Khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, tạo
nguồn lực con người cho phát triển. Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá
truyền thống của dân tộc phải trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng
và phát triển xã hội, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà nguy cơ đồng
hoá cũng như nguy cơ sa sút đời sống tinh thần của xã hội có nguồn gốc từ
sự mất gốc, từ sự đánh mất nền văn hóa của mình.
Một chính sách phát triển đúng đắn phải là chính sách làm cho văn hoá
thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực hoạt động sáng tạo của con người. Trong
nhận thức cũng như trong hành động phải gắn kinh tế với xã hội, cần có tư
duy mới về kinh tế thị trường; xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng
12
XHCN đảm bảo phúc lợi cho toàn dân, đảm bảo sự cân bằng giữ tăng trưởng
kinh tế với phát triển văn hoá bảo đảm duy trì sự phát triển những giá trị văn
hoá truyền thống đồng thời có tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại.
1.2. Công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở
Tổ chức, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là một trong những chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc
Như vậy, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở đã, đang và sẽ tiếp tục là
nhiệm vụ chiến lược của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời kỳ đổi
mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
* Quan niệm về đời sống văn hoá cơ sở:
“Đời sống văn hoá cơ sở” là thuật ngữ được sử dụng trên cơ sở kết
hợp hai khái niệm đời sống văn hoá và đơn vị cơ sở.
- Đời sống văn hoá là sự hiện diện, tồn tại và phát triển của đời sống
tinh thần trong toàn bộ hoạt động thực tiễn xã hội. Là một bộ phận của đời
sống xã hội, gắn với những giá trị chân - thiện - mỹ, gắn với mọi sản phẩm
vật chất và tinh thần, với mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực
xã hội.
- Đời sống bao gồm một tổng thể những hoạt động văn hoá, những tác
động qua lại trong đời sống cá nhân với cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu
của mỗi con người và thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội.
- Đời sống văn hoá cũng được hiểu như môi trường văn hoá, là cầu nối
giữa văn hóa xã hội và văn hoá cá nhân. Nó là tổng thể những yếu tố văn
hoá vật thể, phi vật thể và nhân cách văn hoá, cảnh quan văn hoá bao quanh
con người gây ra sự tác động lẫn nhau giữa cá nhân trên phạm vi không
gian, thời gian nào đó, trực tiếp lên lối sống và nếp sống của con người.
Trong bất kỳ cộng đồng nào cũng có môi trường văn hoá lớn và môi
trường văn hoá nhỏ. Môi trường văn hoá lớn được hiểu là toàn bộ môi
14
trường văn hoá của cộng đồng nói chung, môi trường văn hoá nhỏ là gia
đình, nhà trường, tổ nhóm lao động và học tập. Nhìn chung môi trường văn
hoá nhỏ là môi trường gần gũi nhất, hoạt động sâu sắc nhất đến đời sống
của mỗi cá nhân. Với ý nghĩa đó, trong môi trường văn hoá nhỏ, nhà
trường, gia đình được đặt ở vị trí một số trong toàn bộ quá trình giáo dục để
hình thành nhân cách con người. Môi trường văn hoá nhỏ không biệt lập
mà là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong môi trường văn hoá lớn.
- Hoạt động xây dựng nếp sống văn hoá
- Hoạt động TDTT, vui chơi giải trí
- Hoạt động xã hội từ thiện
* Phương thức và phương châm xây dựng đời sống văn hoá cơ sở.
- Về phương thức: Xây dựng một đời sống văn hoá cơ sở là nhiệm vụ
của toàn xã hội vì thế Đảng, Nhà nước, nhân dân, tập thể, gia đình, cá nhân,
phải cùng làm văn hoá, đó không chỉ là phương châm mà còn là phương
thức hoạt động văn hoá trong thực tiễn. Nghĩa là, từ việc lớn đến việc nhỏ
thuộc đời sống văn hoá đều phải trở thành việc chung của toàn xã hội ở
phạm vi và mức độ khác nhau.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở không chỉ nhằm mục tiêu thoả mãn
nhu cầu văn hoá và đáp ứng khả năng hưởng thụ văn hoá của nhân dân mà
quan trọng hơn, thông qua việc thoả mãn đó có tác dụng giáo dục nhân
cách toàn diện cho con người. Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là hoạt
động hai chiều kết hợp chặt chẽ. Một chiều là đưa giá trị văn hoá đến nhân
dân ở cơ sở, tạo điều kiện cho họ hưởng thụ những giá trị đó. Chiều khác,
quan trọng hơn cả là đến với dân, cùng họ nghiên cứu, sưu tầm, khai thác,
động viên, đánh thức tiềm năng hoạt động sáng tạo văn hoá trong quần
chúng nhân dân ở cơ sở. Đây là phương thức tiến hành hoạt động văn hoá
cơ sở, đồng thời là quy luật vận động văn hoá trong xã hội.
16
- Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là một quá trình kế thừa, phối hợp,
chọn lọc những tinh hoa, những giá trị, những yếu tố văn hoá nổi trội, thích
hợp. Văn hoá tồn tại ngay trong đời sống ở cơ sở chứ không trong ý muốn
chủ quan của con người. Văn hoá là cả một hành trình dài trong lịch sử chứ
không phải chỉ là một khóc quanh.
- Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở vẫn thực hiện theo phương pháp
phát huy dân chủ xã hội hoá các hoạt động văn hoá. Các hoạt động văn hoá
cơ sở chủ yếu do nhân dân làm ra, giao lưu trong nội bộ nhân dân, cùng
Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá diễn ra ngày càng gay
go, quyết liệt, phức tạp. Các thế lực thù địch sử dụng các sản phẩm văn hoá
để thực hiện “diễn biến hoà bình”, tập trung vào việc hạ thấp và làm phai
nhạt dẫn đến suy thoái về lý tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ
phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta Bên cạnh đó quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nước tất yếu diễn ra những biến động
lớn về văn hoá, xã hội như: đô thị hoá nhanh và tự phát, thay đổi về cơ cấu
dân cư và sự biến đổi của nhu cầu thị hiếu văn hoá, hình thành nhiều nghề
nghiệp mới và sự biến đổi về tập quán, lối sống trong nhân dân
18
Tất cả những biến động đó đã, đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp làm
thay đổi đời sống văn hoá nước ta theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực.
Đời sống văn hoá của đất nước ta cũng không nằm ngoài dòng chảy đó.
2.1. Về mặt tích cực
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, cơ chế hành chính quan
liêu bao cấp được thay thế bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước dẫn đến đời sống kinh tế được nâng cao. Vì vậy đời sống văn hoá
cũng có điều kiện mở rộng và ngày một tốt hơn. Điều này được thể hiện về
nhận thức đó là một trong những thành tựu quan trọng trong tư duy lý luận
của Đảng ta về văn hoá là mô hình cụ thể trong chủ trương xây dựng đời
sống văn hoá cơ sở. Đảng ta nhấn mạnh: nâng cao đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới phải bắt đầu
từ mỗi gia đình. Từ đó, dần dần yếu tố văn hoá đã từng bước gắn bó chặt
chẽ hơn với các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội.
- Tính chủ động, sáng tạo, tích cực xã hội của nhân dân được xác lập
cần được ghi nhận. Việc người dân ngày càng tự nguyện làm văn hoá, tự
quản trong văn hoá là một thành công lớn, là một yếu tố rất quan trọng
trong việc xây dựng, củng cố và phát triển văn hoá.
- Về môi trường văn hoá:
thuận lợi để có được mô hình, biểu dương thành tích, mà chưa chú trọng tới
các địa bàn khó khăn. Môi trường văn hoá bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã
hội, sự tràn lan các sản phẩm và dịch vụ văn hoá độc hại Sự phối kết hợp
giữa các ban, ngành đoàn thể chưa chặt chẽ. Một số cấp uỷ, chính quyền
đoàn thể chưa thật coi trọng vai trò của văn hoá, chưa thấy được những giá
trị bền vững lâu dài và tính cấp bách của công tác văn hoá trong sự nghiệp
đổi mới đất nước. Một số cấp uỷ đảng chưa đổi mới phương thức lãnh đạo
văn hoá. Chưa đi sâu, đi sát chỉ đạo công tác văn hoá. DÔ dãi hoặc cực
đoan, máy móc trong lãnh đạo, quản lý xây dựng đời sống văn hoá.
Đội ngũ cán bộ văn hoá còn nhiều bất cập: vừa thiếu, vừa yếu lại
thường không ổn định, thậm trí không có chuyên môn vẫn làm công tác
quản lý. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự
phát triển không đồng đều của đời sống văn hoá ở cơ sở. Phô trương, chạy
theo thành tích trong các hoạt động văn hoá còn phổ biến. Việc bình bầu
danh hiệu gia đình văn hoá ở nhiều nơi còn qua loa, đại khái, nặng về số
lượng, thành tích nên hiệu quả chưa cao.
Để xây dựng đời sống văn hoá cơ sở nước ta đáp ứng sự nghiệp đổi mới
đất nước, xuất phát từ nhận thức về mục tiêu của sự phát triển là nâng cao chất
lượng cuộc sống con người, tạo sự phát triển hài hoà giữa đời sống vật chất và
đời sống tinh thần - Yếu tố cơ bản làm nên sự phát triển bền vững đất nước.
Việc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá” chính là hiện thực hoá của mục tiêu, chỉ tiêu về xây dựng
đời sống văn hoá. Đảng ta coi đây là giải pháp quan trọng để xây dựng đời
sống văn hoá nói riêng và xây dựng nền văn hoá nói chung.
Phong trào được thể hiện ở 5 nội dung:
- Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xoá đói giảm
nghèo.
- Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh.
21
biệt là cán bộ văn hoá - thông tin - truyền thông ở cơ sở cấp xã, phường).
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và
vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước. Tăng cường đại đoàn kết toàn dân phát huy quyền làm chủ của
dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế ở xã hội, tổ chức cuộc sống
của cộng đồng dân cư. Vì vậy, cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn là lực
lượng nòng cốt, hạt nhân đoàn kết, trực tiếp chỉ đạo hướng dẫn nhân dân
thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, tham gia thực hiện các cuộc vận
động, các phong trào chính trị - xã hội do Đảng, Nhà nước và các ban
ngành, đoàn thể phát động. Ngày 10/10/2003, Chính phủ Ban hành Nghị
định số 114/NĐ-CP về Cán bộ công chức xã, phường, thị trấn, trong đó
Quy định chức danh cán bộ văn hoá- xã hội - đó là một điều kiện thuận lợi.
Nhiệm vụ của người cán bộ làm công tác văn hoá ở cơ sở là quản lý và tổ
chức thực hiện nhiệm vụ. Cụ thể về xây dựng môi trường văn hoá, bảo tồn
và phát triển sự nghiệp văn hoá - thông tin tại cơ sở; đấu tranh bảo vệ
truyền thống tốt đẹp của văn hoá, dân tộc, bài trừ văn hoá độc hại Trong
công tác tổ chức hướng dẫn xây dựng đời sống văn hoá, cán bộ văn hoá cơ
sở còn là người sâu sát thực tế, tham mưu với lãnh đạo địa phương phát
triển công tác về xây dựng gia đình văn hoá; thực hiện Chỉ thị 14/1998/CT-
TTg của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng nếp sống văn minh trong việc
cưới, việc tang, lễ hội, chống các hủ tục, các tệ nạn xã hội. Do vậy, cần
phải quan tâm về chế độ, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đối với
đội ngũ cán bộ văn hoá cơ sở cũng như các hạt nhân nòng cốt khác.
3. Nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là yêu cầu cần
thiết trong giai đoạn hiện nay
23
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là nền tảng, là bước đi ban đầu mang
tính hiện thực, trực tiếp để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến đậm
đà bản sắc dân tộc. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và
phát triển về quy mô và chất lượng: mạng lưới cơ sở giáo dục TCCN rộng
khắp cả nước, đa dạng hóa về loại hình trường (trường công - tư, trung ương -
địa phương, có lịch sử lâu dài - mới được thành lập, về chuyên ngành ).
Trường trung cấp là trường dạy nghề với mục tiêu là trong trường đã
hình thành cách tư duy, năng lực gắn với thực tế để nhanh chóng đáp ứng
và thích ứng yêu cầu khi tốt nghiệp. Do đó, một trong những xu thế quan
trọng trong cải tiến nội dung chương trình giáo dục nói chung là giảm nhẹ
những kiến thức kinh viện, những bài tập kiểm tra mang tính đánh đố làm
tiêu hao năng lực của người học mà có thể không bao giờ có cơ hội sử
dụng.
Mét trong những thách thức lớn nhất đối với trường TCCN là đảm bảo
đầu ra của mình có thể đáp ứng yêu cầu của xã hội mà trước mắt là các
doanh nghiệp, bệnh viện Học viên của trường TCCN là người lao động
trực tiếp, là người thực hiện nghề nghiệp ngay khi ra trường. Chính vì vậy
ngay khi mới vào trường, họ cần có khả năng phân tích, đánh giá được bản
thân và phân tích xu thế của xã hội để định hướng nghề nghiệp một cách
đúng đắn. Khi tốt nghiệp, với những gì được trang bị và học được ở trường,
25
họ cần có khả năng làm việc thành thạo, có phong cách và tư cách thích
ứng với các chuẩn mực nghề nghiệp.
Trong giai đoạn vừa qua, chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền đã
ban hành hàng loạt các chính sách nhằm thúc đẩy giáo dục chuyên nghiệp
phát triển. Tuy nhiên với trường TCCN áp lực lớn nhất là kinh tế, tài chính
và điều kiện cơ sở vật chất. Chính đặc thù nhà trường và những thách thức
trên buộc mỗi nhà trường cần hình thành những giá trị, niềm tin và các
chuẩn mực xử sự thích hợp để có thể thực hiện tốt sứ mệnh của mình.
Tuy nhiên trong khi phải đảm bảo đầu ra của người học như các
trường ngoài khác, phải “cạnh tranh” với các trường Cao đẳng nghề và các
trường Đại học trường trung cấp chuyên nghiệp lại Ýt được đầu tư về kinh