Nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNVVN tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368

Lời nói đầu
Với nền kinh tế Việt Nam cũng như nền kinh tế các nước trên thế
giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đang ngày càng khẳng định
vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế - xã hội. Theo thống kê,
đội ngũ này chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp trong cả nước, đóng
góp 30% GDP và thu hút được một lực lượng lao động đáng kể, tạo
nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác những
tiềm năng trong dân chúng. Tuy nhiên, các DNVVN vẫn phải đối mặt
với nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết. Một trong những khó
khăn lớn nhất đó là vốn.
Để thành lập và đi vào sản xuất kinh doanh các DN nói chung,
DNVVN nói riêng cần có một lượng vốn nhất định. Nguồn vốn này có
thể được hình thành bằng nhiều cách, như: huy động nguồn vốn nhàn
rỗi của bạn bè, của gia đình. Nhưng có một nguồn vốn mà bất cứ một
DN nào cũng muốn tiếp cận, đó là vốn vay của các NHTM. Các
NHTM có thể cung cấp cho các DN một lượng vốn lớn, rẻ và quan
trọng là họ có thể đáp ứng ngay khi các DN có nhu cầu và có đủ điều
kiện cho vay Các NHTM có vai trò hêt sức quan trọng trong việc đáp
ứng nhu cầu về vốn của các DNVVN. Nhưng bên cạnh việc ngân hàng
cho các DN vay ngày càng tăng là việc nâng cao chất lượng của các
khoản vay để công tác tín dụng tại ngân hàng ngày một hiệu quả.
Nhận thức được vai trò quan trọng của tín dụng đối với các
DNVVN và sau một thời gian thực tập, khảo sát thực tế tình hình cho
vay của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội,
em đã mạnh dạn chọn đề tài cho chuyên đề của mình là “Nâng cao
chất lượng tín dụng đối với các DNVVN tại chi nhánh ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội ”.

1

trọng
1.1.1- Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc gần đây đã khẳng định: Phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một nhiệm vụ quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước. Nhà nước ta khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho
DNVVN phát huy tính chủ động sáng tạo vốn có, nâng cao năng lực
quản lý, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các
mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh
doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường, tạo việc làm và nâng cao
đời sống cho người lao động.
Trên thế giới có rất nhiều quan điểm cũng như tiêu thức khác nhau dể
định nghĩa và phân biệt DNVVN với các loại hình doanh nghiệp khác. Trong
đó có hai tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là: tổng số vốn sản xuất kinh
doanh và số lượng lao động của doanh nghiệp (DN).
Đối với Việt Nam, văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định DNVVN là
công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/06/1998. Theo đó, DNVVN được
tạm thời quy định là “Những DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao
động trung bình hàng năm dưới 200 người”. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển
chung của nền kinh tế đất nước, các DN mới ra đời ngày một nhiều, có không
ít DN có số vốn vượt quá 5 tỷ đồng nhưng vẫn chưa đủ mạnh để được coi là

3
Website: Email : Tel : 0918.775.368

một DN lớn. Để đáp ứng được đòi hỏi của thực tế, ngày 23/11/2003, Chính
phủ đã ban hành Nghị định 90/NĐ-CP đưa ra tiêu chí mới để xác định
DNVVN của Việt Nam. Theo Nghị đinh:
“Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không

b, DNVVN có quy mô hoạt động nhỏ bé
Do nguồn vốn tự có ban đầu nhỏ bé lại thêm khó khăn trong việc
tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng
nên quy mô hoạt động của các DN này ngay từ đầu đã rất nhỏ bé, mang
tính tự phát. Hơn nữa, trong quá trình hoạt động, các DNVVN ít khi
tiếp cận được những khách hàng lớn và những nguồn vốn rẻ nên cơ hội
để mở rộng quy mô sản xuất là rất hiếm hoi. Vì vậy, muốn mở rộng
quy mô cho các DNVVN nhà nước và đặc biệt là các NHTM có những
chính sách ưu đãi đối với họ.
c, Sức cạnh tranh của các DNVVN thấp, chịu nhiều ảnh hưởng của môi
trường kinh doanh bên ngoài.
Do nguồn vốn có hạn, quy mô sản xuất nhỏ bé, công nghệ lạc
hậu nên các sản phẩm làm ra có sức cạnh tranh thấp hơn so với sản
phẩm của các DN lớn, doanh nghiệp quốc doanh và đặc biệt là các
doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Thêm nữa, do sức cạnh tranh
thấp nên các DNVVN ít có khả năng chống lại những biến động lớn
của thị trường, và thường thì các DN này hay gặp rủi ro khi có những
biến động bất lợi của thị trường.
1.1.3- Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế
1.1.3.1- Tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Mục đích chính của các nhà doanh nghiệp là lợi ích kinh tế mà họ
thu được. Nhưng vô hình chung, sự ra đời của các DN lại giải quyết
vấn đề việc làm cho không ít người lao động. ở Việt Nam hàng năm có

5
Website: Email : Tel : 0918.775.368

khoảng 16 triệu người đến độ tuổi lao động, ngoài ra còn một số lượng
lớn những người bán thất nghiệp ở nông thôn và thành thị. Với nhu cầu
về việc làm lớn như vậy, chỉ các DN lớn hay các DNNN không thể đáp

đời thì tính cạnh tranh của thị trường càng được tăng lên. Một thị trường có
tính cạnh tranh cao sẽ thúc đẩy các DN tự hoàn thiện và nâng cao vị thế của
mình. Và với vai trò là các đơn vị vệ tinh cho các DN lớn, DN quốc doanh các
DNVVN cũng góp phần không nhỏ vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho
phù hợp với định hướng phát triển của từng giai đoạn.
1.1.3.4- DNVVN phát triển góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà
nước
Đóng thuế là trách nhiệm của mọi công dân, mọi tổ chức, và như
chúng ta đã biết thuế là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước. Đây
chính là nguồn chi trả cho lợi ích chung của xã hội. Do đó, sản xuất
kinh doanh phát triển tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong
những năm vừa qua, do có sự quan tâm tạo diều kiện của nhà nước và
với khả năng sáng tạo của mình các DNVVN đã từng bước khẳng định
vị trí của mình. Hàng năm khu vực này đã đóng góp trên 30% ngân
sách nhà nước, góp phần giảm sự mất cân đối của cán cân ngân sách,
phát huy vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước.
1.1.4- Nhu cầu về vốn của các DNVVN
Vốn có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh. Ngay từ khi mới thành lập một doanh nghiệp, một công ty hay
bất kỳ một loại hình kinh tế nào khác cũng cần phải có một số vốn nhất
định. Trong mọi DN, vốn đều bao gồm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu và
nợ.Vốn chủ sở hữu của DN bao gồm vốn góp ban đầu, nguồn vốn từ
lợi nhuận không chia và phát hành cổ phiếu. Nguồn vốn còn lại được
hình thành từ các khoản vay ngân hàng, phát hành trái phiếu công ty.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tình trạng thừa thiếu vốn

7
Website: Email : Tel : 0918.775.368

luôn là điều không thể tránh khỏi đối với một doanh nghiệp. Để giải

thời, nó cũng giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động của mỗi ngân hàng.
Chúng ta có thể nói: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng
bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng - một tổ chức chuyên kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ - với một bên là các tổ chức, cá nhân trong
xã hội, trong đó ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho
vay”
Nói đến tín dụng ngân hàng ta vẫn cho rằng nó bao gồm cả hoạt
động “đi vay” và hoạt động “cho vay” của ngân hàng .Tuy nhiên, trên
thực tế, do tính chất phức tạp của hoạt động ngân hàng mà các nhà
quản lý đã tách riêng hoạt động nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, do
hai bộ phận chuyên môn độc lập nhau đảm nhận: bộ phận Nguồn vốn
và bộ phận Tín dụng. Hoạt động nhận tiền gửi không được gọi là hoạt
động tín dụng mà là hoạt động “huy động vốn” do bộ phận Nguồn vốn
thực hiện. Bộ phận tín dụng chuyên làm nhiệm vụ cho vay. Như vậy
định nghĩa: "Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ,
trong đó ngân hàng là người cho vay, còn người đi vay là các tổ chức,
cá nhân trong xã hội, trên nguyên tắc người đi vay sẽ hoàn trả cả vốn
lẫn lãi vào một thời điểm xác định trong tương lai như hai bên đã
thoả thuận" sẽ phù hợp với hoạt động thực tế của các ngân hàng .
1.2.2- Bản chất của tín dụng ngân hàng
“Bản chất của tín dụng ngân hàng là sự vận động của vốn tiền tệ
thông qua các ngân hàng”. Ngân hàng bằng các nghiệp vụ và các hình
thức huy động vốn khác nhau huy động lượng tiền nhàn rỗi trong lưu
thông, tạo thành nguồn vốn lớn. Đồng thời, ngân hàng sử dụng chính
nguồn vốn này để đem cho vay với lãi suất lớn hơn lãi suất tiền gửi. Là
trung gian nên ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn và người cần

9
Website: Email : Tel : 0918.775.368



giữa vốn vay và vốn chủ trong cơ cấu vốn sao cho hợp lý để vừa đáp
ứng được nhu cầu về vốn, vừa đảm bảo được nguồn thu và mang lại sự
an toàn cho hoạt động kinh doanh.
1.2.3.2- Tín dụng ngân hàng tác động vào xu thế chuyển dịch cơ cấu
sản xuất của DNVVN
Nhà nước ta đang có chủ trương chuyển dịch cơ cấu các ngành
kinh tế theo hướng nâng cao tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ
trong tổng thu nhập quốc nội. Như vậy các DN hoạt động trong các
lĩnh vực nãy sẽ được hưởng sự ưu đãi khi muốn quan hệ với các
NHTM. Cụ thể như khi muốn lập hồ sơ vay vốn, các DN này được sự
ủng hộ của chính quyền địa phương nên thủ tục giấy tờ được giải quyết
nhanh chóng, về phía ngân hàng sẽ có những chính sách ưu đãi về lãi
suất, về xét duyệt hạn mức tín dụng, điều kiện cho vay cũng dễ dàng
hơn các DN khác…
1.2.3.3- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho DNVVN mở rộng sản
xuất
Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động của mình thông qua việc
huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong toàn bộ nền kinh tế để tài trợ cho
các thành phần kinh tế nói chung và DNVVN nói riêng. Để đảm bảo
cho các DNVVN không chỉ duy trì sản xuất mà còn mở rộng tái sản
xuất, tín dụng ngân hàng tài trợ vốn cho DN không chỉ với các khoản
vay ngắn hạn mà còn có trung và dài hạn. Muốn mở rộng sản xuất kinh
doanh, ngoài thị trường tiềm năng trong nước các DN còn phải chú
trọng tới thị trường nước ngoài. Tín dụng ngân hàng thông qua nghiệp
vụ bảo lãnh, tài trợ cho nghiệp vụ xuất nhập khẩu giúp cho DN đạt
được mục đích này. Nói chung với các nghiệp vụ của mình ngân hàng

11
Website: Email : Tel : 0918.775.368

- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để
bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản
xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia
súc…
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các
ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty
bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
như mua sắm các vât dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để
trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát
hành thẻ tín dụng.
1.2.4.2- Phân loại theo thời hạn cho vay
Theo căn cứ này cho vay được chia làm 3 loại sau:
- Cho vay ngắn hạn : Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và
được sủ dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh
nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân
- Cho vay trung hạn : theo quy định hiện nay của ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến
5 năm.Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua
sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở
rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô
nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Ngoài ra nguồn vốn trung
hạn này còn được các doanh nghiệp dùng để đổi mới sản phẩm
- Cho vay dài hạn : Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời
gian tối đa có thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt

13
Website: Email : Tel : 0918.775.368

14
Website: Email : Tel : 0918.775.368

+ Có dự án đầu tư, hoặ phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
khả thi có khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án phương án phục
vụ đới sống khả thi phù hợp với quy định của pháp luật
+ Có khả năng tài chính để thực hịên nghĩa vụ trả nợ
+ Cam kết thực hiện biện pháp đảm bảo bằng tài chính theo yêu
cầu của tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam
kết trong trường hợp đồng tín dụng; cam kết trả nợ trước hạn nếu
không thục hiện được các biện phấp bảo đảm bằng tài sản
Mức vay tối đa không bảo đảm của mỗi loại hình tổ chức tín
dụng do Ngân hàng Nhà nước quy định trong mỗi thời kỳ.
1.2.4.4- Phân loại theo phương pháp hoàn trả
Cho vay của ngân hàng được chia làm hai loại:
- Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả
nợ cụ thể theo hợp đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
 Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả
góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãI
theo định kỳ. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay
bất động sản nhà ở thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với
những người kinh doanh nhỏ (cho vay chợ), cho vay để mua sắm
thiềt bị.
 Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp) là
loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thoả thuận.
 Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể,
mà việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay.
Hoặc cho vay này được áp dụng theo kỹ thuật thấu chi.

15


16
Website: Email : Tel : 0918.775.368

pháp đã cạnh tranh trong việc tiêu thụ hàng hoá, trong đó bán chịu hàn
hoá được coi là biện pháp để mở rộng tiêu thụ hàng hoá có hiệu quả
nhất. Tuy nhiên nguồn vốn của các DN có hạn, vì vậy cần phải có
nguồn tài trợ của ngân hàng thông qua nhượng lại các phiếu bán hàng
trả góp.
Một số điểm cần lưu ý trong việc thực hiện cho vay gián tiếp:
 Trước khi thực hiện hợp đồng mua lại các phiếu bán hàng trả góp,
ngân hàng phải thoả thuận với người bán các điều kiện bắt buộc khi
thực hiện việc bán hàn trả góp và ngân hàng chỉ mua những hồ sơ bán
hàng theo đúng các điều kiện đã thoả thuận.
 Ngân hàng phải giữ lại từ 10% - 30% so với số tiền phải thanh toán
cho người bán và sẽ hoàn lại cho người bán khi người mua thanh toán
hết nợ. Quy định này là cần thiết để nâng cao trách nhiệm của người
bán trong việc giám định các hồ sơ bán chịu.
 Hợp đồng mua lại các phiếu bán hàng trả góp là các hợp đồng được
phép truy đòi, có nghĩa là khi người mua không thanh toán được nợ thì
người bán có trách nhiệm phải thanh toán cho ngân hàng.
 Phần lớn lãi thu được từ khoản tín dụng này ngân hàng được hưởng
và chỉ dành cho người bán một mức hoa hồng nhất định.
 Nghiệp vụ thanh tín (nghiệp vụ factoring): là nghiệp vụ mua các
khoản nợ thương mại (các khoản phải thu), trong đó bên mua (factor)
nhận việc thu nợ và chấp nhận rủi ro tín dụng. Factoring, thực chất là
hình thức tài trợ vốn lưu động cho các DN
1.3- Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với các DNVVN
1.3.1- Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Tín dụng là hoạt động truyền thống và là tiền thân của hoạt động ngân

tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu
nguồn vốn giữa ngắn, trung và dài hạn trong nền kinh tếngân hàng

18

Trích đoạn Phòng Nguồn vốn Phòng Kiểm tra, kiểm toán nội bộ Phòng Hành chính nhân sự
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status