Lời nói đầu
Với nền kinh tế Việt Nam cũng nh nền kinh tế các nớc trên thế
giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNVVN) đang ngày càng khẳng định vai
trò quan trọng của mình trong nền kinh tế - xã hội. Theo thống kê, đội
ngũ này chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp trong cả nớc, đóng góp
30% GDP và thu hút đợc một lực lợng lao động đáng kể, tạo nhiều việc
làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác những tiềm năng
trong dân chúng. Tuy nhiên, các DNVVN vẫn phải đối mặt với nhiều
khó khăn, vớng mắc cần giải quyết. Một trong những khó khăn lớn nhất
đó là vốn.
Để thành lập và đi vào sản xuất kinh doanh các DN nói chung,
DNVVN nói riêng cần có một lợng vốn nhất định. Nguồn vốn này có thể
đợc hình thành bằng nhiều cách, nh: huy động nguồn vốn nhàn rỗi của
bạn bè, của gia đình. Nhng có một nguồn vốn mà bất cứ một DN nào
cũng muốn tiếp cận, đó là vốn vay của các NHTM. Các NHTM có thể
cung cấp cho các DN một lợng vốn lớn, rẻ và quan trọng là họ có thể đáp
ứng ngay khi các DN có nhu cầu và có đủ điều kiện cho vay Các NHTM
có vai trò hêt sức quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn của các
DNVVN. Nhng bên cạnh việc ngân hàng cho các DN vay ngày càng
tăng là việc nâng cao chất lợng của các khoản vay để công tác tín dụng
tại ngân hàng ngày một hiệu quả.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng của tín dụng đối với các DNVVN
và sau một thời gian thực tập, khảo sát thực tế tình hình cho vay của ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội, em đã mạnh dạn
chọn đề tài cho chuyên đề của mình là Nâng cao chất lợng tín dụng
đối với các DNVVN tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Nam Hà Nội .
* Mục đích nghiên cứu của đề tài:
1
doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một nhiệm vụ quan trọng trong
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nớc. Nhà nớc ta khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho
DNVVN phát huy tính chủ động sáng tạo vốn có, nâng cao năng lực
quản lý, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các
mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh
doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trờng, tạo việc làm và nâng cao đời
sống cho ngời lao động.
Trên thế giới có rất nhiều quan điểm cũng nh tiêu thức khác nhau dể định
nghĩa và phân biệt DNVVN với các loại hình doanh nghiệp khác. Trong đó có
hai tiêu thức đợc sử dụng phổ biến nhất là: tổng số vốn sản xuất kinh doanh và
số lợng lao động của doanh nghiệp (DN).
Đối với Việt Nam, văn bản đầu tiên đa ra tiêu chí xác định DNVVN là
công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/06/1998. Theo đó, DNVVN đợc
tạm thời quy định là Những DN có vốn điều lệ dới 5 tỷ đồng và có số lao
động trung bình hàng năm dới 200 ngời. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển
chung của nền kinh tế đất nớc, các DN mới ra đời ngày một nhiều, có không ít
DN có số vốn vợt quá 5 tỷ đồng nhng vẫn cha đủ mạnh để đợc coi là một DN
lớn. Để đáp ứng đợc đòi hỏi của thực tế, ngày 23/11/2003, Chính phủ đã ban
hành Nghị định 90/NĐ-CP đa ra tiêu chí mới để xác định DNVVN của Việt
Nam. Theo Nghị đinh:
3
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không
quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
ngời.
Vì tình hình kinh tế của mỗi địa phơng là khác nhau nên trong khi
phân loại các DN có thể áp dụng cả hai chỉ tiêu hoặc chỉ sử dụng một
quy mô sản xuất là rất hiếm hoi. Vì vậy, muốn mở rộng quy mô cho các
DNVVN nhà nớc và đặc biệt là các NHTM có những chính sách u đãi
đối với họ.
c, Sức cạnh tranh của các DNVVN thấp, chịu nhiều ảnh h ởng của môi tr -
ờng kinh doanh bên ngoài.
Do nguồn vốn có hạn, quy mô sản xuất nhỏ bé, công nghệ lạc hậu
nên các sản phẩm làm ra có sức cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm của
các DN lớn, doanh nghiệp quốc doanh và đặc biệt là các doanh nghiệp
liên doanh với nớc ngoài. Thêm nữa, do sức cạnh tranh thấp nên các
DNVVN ít có khả năng chống lại những biến động lớn của thị trờng, và
thờng thì các DN này hay gặp rủi ro khi có những biến động bất lợi của
thị trờng.
1.1.3- Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế
1.1.3.1- Tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho ngời lao động
Mục đích chính của các nhà doanh nghiệp là lợi ích kinh tế mà họ
thu đợc. Nhng vô hình chung, sự ra đời của các DN lại giải quyết vấn đề
việc làm cho không ít ngời lao động. ở Việt Nam hàng năm có khoảng
16 triệu ngời đến độ tuổi lao động, ngoài ra còn một số lợng lớn những
ngời bán thất nghiệp ở nông thôn và thành thị. Với nhu cầu về việc làm
lớn nh vậy, chỉ các DN lớn hay các DNNN không thể đáp ứng nổi. Các
DNVVN ra đời đã phần nào giảm bớt gánh nặng thất nghiệp cho xã hội.
Vì hoạt động trong nhiều lĩnh vực nên các DN này có thể sử dụng ngời
lao động ở mọi trình độ, vì vậy những ngời có trình độ chuyên môn
không cao vẫn có thể tìm đợc việc làm thích hợp với khả năng của mình.
5
Theo số liệu của bộ lao động thơng binh và xã hội, tỷ lệ thất nghiệp ở
khu vực thành thị đã giảm từ 13% năm 1989 xuống còn 6,2% năm 1994
và hàng năm có khoảng gần 1 triệu lao động tìm đợc việc làm trong các
chính là nguồn chi trả cho lợi ích chung của xã hội. Do đó, sản xuất kinh
doanh phát triển tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nớc. Trong những
năm vừa qua, do có sự quan tâm tạo diều kiện của nhà nớc và với khả
năng sáng tạo của mình các DNVVN đã từng bớc khẳng định vị trí của
mình. Hàng năm khu vực này đã đóng góp trên 30% ngân sách nhà nớc,
góp phần giảm sự mất cân đối của cán cân ngân sách, phát huy vai trò
quản lý vĩ mô của Nhà nớc.
1.1.4- Nhu cầu về vốn của các DNVVN
Vốn có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh. Ngay từ khi mới thành lập một doanh nghiệp, một công ty hay bất
kỳ một loại hình kinh tế nào khác cũng cần phải có một số vốn nhất
định. Trong mọi DN, vốn đều bao gồm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu và
nợ.Vốn chủ sở hữu của DN bao gồm vốn góp ban đầu, nguồn vốn từ lợi
nhuận không chia và phát hành cổ phiếu. Nguồn vốn còn lại đợc hình
thành từ các khoản vay ngân hàng , phát hành trái phiếu công ty.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tình trạng thừa thiếu vốn
luôn là điều không thể tránh khỏi đối với một doanh nghiệp. Để giải
quyết sự thiếu hụt vốn, trớc hết, bản thân doanh nghiệp huy động vốn
trên thị trờng thông qua con đờng phát hành cổ phiếu, trái phiếu đòi hỏi
doanh nghiệp phải có qui mô lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có
uy tín trên thị trờng, hơn nữa phải có một thị trờng vốn hoàn chỉnh với
một hệ thống tổ chức tài chính trung gian đủ mạnh có khả năng đảm đ-
ơng việc bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu của công ty và nó còn
phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí thói quen kinh doanh và sự sôi
động của thị trờng thứ cấp.
7
ở nớc ta hiện nay, phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty ra ngoài
thị trờng vẫn là một cái gì đó cha đợc nhiều ngời biết đến, việc phát hành
dụng mà là hoạt động huy động vốn do bộ phận Nguồn vốn thực hiện.
Bộ phận tín dụng chuyên làm nhiệm vụ cho vay. Nh vậy định nghĩa:
"Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mợn bằng tiền tệ, trong đó ngân
hàng là ngời cho vay, còn ngời đi vay là các tổ chức, cá nhân trong xã
hội, trên nguyên tắc ngời đi vay sẽ hoàn trả cả vốn lẫn lãi vào một thời
điểm xác định trong tơng lai nh hai bên đã thoả thuận" sẽ phù hợp với
hoạt động thực tế của các ngân hàng .
1.2.2- Bản chất của tín dụng ngân hàng
Bản chất của tín dụng ngân hàng là sự vận động của vốn tiền tệ
thông qua các ngân hàng . Ngân hàng bằng các nghiệp vụ và các hình
thức huy động vốn khác nhau huy động lợng tiền nhàn rỗi trong lu thông,
tạo thành nguồn vốn lớn. Đồng thời, ngân hàng sử dụng chính nguồn vốn
này để đem cho vay với lãi suất lớn hơn lãi suất tiền gửi. Là trung gian
nên ngân hàng là cầu nối giữa ngời có vốn và ngời cần vốn hay nói cách
khác việc sử dụng nguồn vốn trong các doanh nghiệp nói riêng và trong
nền kinh tế nói chung đợc ngân hàng điều hoà sao cho phù hợp và đạt
hiệu quả cao. Nh vậy, ngân hàng bằng hoạt động của mình đã góp phần
vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong xã hội, thông qua chức
năng tạo tiền ngân hàng có thể nhận nguồn tiền gửi tăng trởng theo bội
số tạo tiền. Qua đó, ngân hàng sẽ đợc hởng phần chênh lệch giữa lãi suất
cho vay và lãi suất huy động.
1.2.3- Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
1.2.3.1- Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn hợp lý
cho DNVVN
Nguồn vốn của một DN luôn bao gồm hai phần: Vốn tự có và vốn
vay. Sự kết hợp nhất định giữa hai nguồn này chỉ ra chi phí vốn tối u cho
doanh nghiệp. Cơ cấu vốn tối u là sự kết hợp hợp lý nhất các nguồn tài
9
10
Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động của mình thông qua việc huy
động vốn tạm thời nhàn rỗi trong toàn bộ nền kinh tế để tài trợ cho các
thành phần kinh tế nói chung và DNVVN nói riêng. Để đảm bảo cho các
DNVVN không chỉ duy trì sản xuất mà còn mở rộng tái sản xuất, tín
dụng ngân hàng tài trợ vốn cho DN không chỉ với các khoản vay ngắn
hạn mà còn có trung và dài hạn. Muốn mở rộng sản xuất kinh doanh,
ngoài thị trờng tiềm năng trong nớc các DN còn phải chú trọng tới thị tr-
ờng nớc ngoài. Tín dụng ngân hàng thông qua nghiệp vụ bảo lãnh, tài trợ
cho nghiệp vụ xuất nhập khẩu giúp cho DN đạt đợc mục đích này. Nói
chung với các nghiệp vụ của mình ngân hàng đã giúp các DN nói chung
và DNVVN nói riêng mở rộng đợc thị phần của mình, mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh.
1.2.3.4- Tín dụng ngân hàng giúp các DNVVN sử dụng đồng vốn tiết
kiệm và có hiệu quả
Nhằm giảm thiểu rủi ro cho hoạt động của mình, các ngân hàng
không chỉ tiến hành thẩm đinh, phân tích rồi giải ngân mà còn có nhiều
biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của DN và tình hình
sử dụng vốn vay của họ. Do đó, không chỉ thu hồi vốn là đủ mà các DN
còn phải tìm kiếm các biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng
nhanh vòng quay của vốn đảm bảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất của
ngân hàng thì DN mới trả đợc nợ và kinh doanh có lãi.
Hơn nữa, bằng việc kiểm tra trớc, trong và sau khi cho vay, giám sát
chặt chẽ tiến độ và mục đích sử dụng vốn của DN ngân hàng không chỉ
kiểm soát đợc đồng vốn của mình mà còn đa ra những t vấn, giúp đỡ
trong phạm vi cho phép giúp DN tháo gỡ khó khăn trớc mắt và gây dựng
đợc mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng.
11
sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản
12
xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời
gian thu hồi vốn nhanh. Ngoài ra nguồn vốn trung hạn này còn đợc
các doanh nghiệp dùng để đổi mới sản phẩm
- Cho vay dài hạn : Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời gian
tối đa có thể lên đến 20-30 năm, một số trờng hợp cá biệt có thể
lên tới 40 năm. Tín dụng dài hạn đợc cung cấp để đáp ứng các nhu
cầu về xây dựng cơ bản.
1.2.4.3- Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo căn cứ này, cho vay đợc chia làm hai loại chính, đó là:
- Cho vay không bảo đảm : Là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngời thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa
vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt,
có khả năng tài chính mạnh ngân hàng có thể cung cấp tín dụng
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn
thu nợ thứ hai bổ sung.
- Cho vay có bảo đảm : Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm nh
thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phảI có sự bảo lãnh của ngời thứ ba.
Đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng khi
vay vốn đồi hỏi phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý
để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu
nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Trong những năm 90 các ngân hàng chỉ đợc phép cho vay có bảo
đảm trừ các doanh nghiệp nhà nớc kinh doanh có hiệu qủ và cho
vay hộ nông dân, từ 5 triệu đồng trở xuống. Ngày 29/12/1999
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/ NĐ-CP về bảo
đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng ; theo đó mà việc cho vay
Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhng không có kỳ hạn nợ cụ thể, mà
việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của ngời đi vay. Hoặc
cho vay này đợc áp dụng theo kỹ thuật thấu chi.
14
Đối với loại cho vay có thời hạn khách hàng có thể trả nợ trớc hạn
nhng ngân hàng vẫn có quyền thu lãi toàn bộ kỳ hạn trả nợ theo hợp
đồng, trừ trờng hợp có những thoả thuận khác.
- Cho vay không có thời hạn: Đối với loại cho vay không có thời
hạn thì ngân hàng có thể yêu cầu hoặc ngời đi vay tự nguyện trả nợ
bất kỳ lúc nào, nhng phải báo trớc một thời gian hợp lý, thời gian này
có thể đợc thoả thuận trong hợp đồng.
1.2.4.5- Phân loại theo xuất xứ tín dụng
Dựa vào căn cứ này, cho vay đợc chia làm hai loại:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngời có nhu cầu,
đồng thời ngời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay đợc thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ớc hoặc chứng từ nợ đã phat sinh và còn trong thời hạn thanh
toán. Các NHTM cho vay gián tiếp theo các loại sau:
Chiết khấu thơng mại(discount): Ngời hởng thụ hối phiếu hoặc lệnh
phiếu còn trong thời hạn thanh toán có thể nhợng lại cho ngân hàng.
Trong trờng hợp này ngân hàng cấp cho khách hàng một khoản tiền bằng
mệnh giá trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí. Khi các chứng từ này
đến hạn thanh toán ngời thụ lệnh hối phiếu hoặc ngời phát hành lệnh
phiếu có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng. Cần lu ý, trong nghiệp
vụ chiết khấu thơng mại ngời đợc cấp tín dụng và ngời chịu trách nhiệm
thanh toán cho ngân hàng là hai ngời khác nhau.
Mua các phiếu bán hàng(dealer paper) tiêu dùng và máy móc nông
nghiệp trả góp.
1.3.1- Khái niệm chất lợng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Tín dụng là hoạt động truyền thống và là tiền thân của hoạt động ngân
hàng. Đó là hoạt động mang lại những nguồn thu chính cho các NHTM, tuy
nhiên theo những số liệu thống kê đây là lĩnh vực ẩn chứa nhiều rủi ro nhất trng
hoạt động của các NHTM. Vậy để đánh giá đợc hoạt động tín dụng của một
ngân hàng có hiệu quả hay không chúng ta phải tìm hiểu thế nào là chất lợng
16