luận văn thạc sĩ triết học - GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 35

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN TRIẾT HỌC

TRƯƠNG VĂN THÀNH

GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số

: 60 22 80

luËn v¨n th¹c sÜ TRIÕT HäC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. Nguyễn Thị Lan Hương

HÀ NỘI - 2012


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Nội dung trích dẫn trong luận văn có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo tính trung thực; nội
dung nghiên cứu khách quan và chưa được công bố trong
bất cứ công trình nào khác.

Sinh viên là một trong những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến môi
trường. Trong đó có một phần không nhỏ là sinh viên. Nhưng ý thức của sinh
viên về trách nhiệm của mình đối với môi trường như thế nào? Sinh viên cần
phải hành động ra sao để bảo vệ môi trường sống xung quanh con người khi
mà hàng ngày, hàng giờ chúng ta đang chứng kiến cảnh môi trường tự nhiên cái nôi cho sự sống của chúng ta - đang bị tàn phá nghiêm trọng.
Đây là lý do thứ nhất thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về vấn đề giáo dục
ý thức môi trường cho sinh viên hiện nay.


2

Lý do thứ hai, kinh tế thị trường đã và đang được thực hiện trên phạm
vi toàn cầu đã ngày càng bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn vốn có của nó
trong đối sách trực tiếp với những định hướng giá trị của chủ nghĩa xã hội.
Tại Việt Nam, việc phát triển các nhà máy, khu công nghiệp, làng nghề đến
chóng mặt, hàng năm thải ra môi trường hàng chục ngàn tấn chất thải chưa
qua xử lý. Các khu dân cư, du lịch, chợ, đường giao thông có những nơi ngập
tràn trong rác thải, môi trường sống ô nhiễm trầm trọng. Bởi vậy, đẩy mạnh
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên sẽ góp phần quan trọng vào
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện
đại hóa, đồng thời khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường.
Lý do thứ ba, thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục ý thức môi
trường cho sinh viên” làm đề tài luận văn là ở chỗ, bấy lâu nay, giáo dục ý thức
môi trường cho sinh viên tuy đã được đề cập đến và công bố trong một số công
trình nghiên cứu trong nước, song nhìn chung vẫn còn tản mạn và dừng ở mức
độ nghiên cứu, mà chưa được ứng dụng và luận giải trong một tình hình cụ thể.
Cuối cùng, hiện trạng về ý thức và giáo dục ý thức môi trường cho sinh
viên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay càng lôi cuốn và hối thúc tác
giả luận giải đúng hiện trạng, xác định rõ nguyên nhân, nhận diện các vấn đề,
các tình huống mới xuất hiện, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đổi mới nội dung

“Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi
trường”, Tạp chí tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2007.
Gần đây trực tiếp bàn đến những vấn đề liên quan đến xây xựng ý thức
môi trường có các công trình: Phạm Thị Ngọc Trầm, Đạo đức sinh thái: từ lý
luận đến thực tiễn, Tạp chí triết học số 2/1999; Phạm Thị Ngọc Trầm, Các
giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá,
Tạp chí triết học số 7/2001; Phạm Thị Ngọc Trầm, Vấn đề xây dựng đạo đức
sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường, Tạp chí triết học số 3/2002; tác
giả Phạm Văn Boong với tác phẩm “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu


4

bền” năm 2002; tác giả Hồ Sỹ Quý, Về đạo đức môi trường, Tạp chí triết học
số 9/2005; Nguyễn Thị Lan Hương, Trách nhiệm môi trường-một phương
diện của trách nhiệm xã hội, tạp chí Triết học số 9/2009; Phạm Thị Ngọc
Trầm, Xây dựng đạo đức sinh thái-một trách nhiệm xã hội của con người đối
với giới tự nhiên, tạp chí Triết học số 6/2009; Nguyễn Văn Phúc, Bảo vệ môi
trường nhìn từ góc độ đạo đức, Tạp chí Triết học số 4/2010.
Trong các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được một số vấn đề sau:
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo ra khối lượng sản phẩm
khổng lồ như hiện nay đang tạo ra mâu thuẫn sâu sắc giữa xã hội và tự nhiên.
Các công trình nghiên cứu trên đã xác định được nội dung của khái niệm
“phát triển lâu bền” và vấn đề ý thức sinh thái cho con người trong quá trình
phát triển. Bởi vì muốn bảo vệ được môi trường thì trước hết phải xây dựng
được ý thức sinh thái đối với toàn xã hội. Giải quyết mâu thuẫn giữa nền sản
xuất vật chất với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của môi trường tự nhiên.
Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho từng cá nhân trong xã hội, cần phải
giáo dục ý thức môi trường, nâng cao trách nhiệm và đạo đức môi trường tự
nhiên cho học sinh, sinh viên.

giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên nói chung và ở địa bàn tỉnh
Bắc Giang nói riêng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung chủ yếu vào vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường tự nhiên với tư cách là nội dung cơ bản của giáo dục ý thức môi
trường nói chung chứ không đi sâu xem xét những vấn đề liên quan đến môi
trường xã hội.


6

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được tiến hành trên cơ sở phép biện chứng duy vật; những tư
tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên; những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam cũng
như những chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam về giáo dục ý thức môi trường.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là logic và lịch
sử, phân tích, tổng hợp, và so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ tầm quan trọng đặc biệt của việc giáo dục ý thức môi
trường cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

Tuy vậy, khái niệm “môi trường” là thuật ngữ dùng để chỉ mọi thứ
xung quanh chúng ta gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và cả môi
trường nhân tạo.


8

Về môi trường tự nhiên, trong cuốn “Môi trường và tài nguyên Việt
Nam” các tác giả quan niệm “Môi trường tự nhiên” bao gồm “các yếu tố tự
nhiên và phi tự nhiên tồn tại vận động và phát triển gắn bó hữu cơ trong một
thể thống nhất, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, xấu hoặc tốt đến con
người; và chính con người cũng là một yếu tố môi trường quan trọng tác động
tới quá trình vận động và phát triển của chủ thể của nó” [52, tr.7].
Tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan trong cuốn “Môi trường tự nhiên trong hoạt
động sống của con người” thì cho rằng: “Môi trường tự nhiên là một tổng hòa
những yếu tố tự nhiên vô cơ và hữu cơ, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại
và phát triển của mọi sinh vật” [38, tr.20]. Tuy cách định nghĩa có khác nhau
nhưng các tác giả đều đã khẳng định môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố
tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các tài nguyên thiên nhiên trong sự thống
nhất với nền sản xuất xã hội. Trong môi trường tự nhiên, giữa các yếu tố tự
nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các tài nguyên thiên nhiên thường xuyên có sự
tác động qua lại với nhau và có những ảnh hưởng nhất định đối với sự tồn tại
và sự phát triển của mọi sinh vật. Nếu một yếu tố nào đó thay đổi sẽ kéo theo
sự thay đổi các yếu tố khác.
Về Môi trường nhân tạo và Môi trường xã hội. Môi trường nhân tạo là
hệ thống môi trường do con người lợi dụng tự nhiên, cải tạo tự nhiên tạo ra.
“Môi trường nhân tạo bao gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội do con
người tạo nên và chịu sự chi phối của con người” [26, tr.15]. Còn môi
trường xã hội là môi trường bao gồm các mối quan hệ giữa người và người
với nhau.

còn quan hệ mật thiết với những vấn đề toàn cầu của thời đại, đặc biệt là các
vấn đề như dân số, sức khỏe và bệnh tật; lương thực và thực phẩm; chiến
tranh hủy diệt, v.v.. mà để giải quyết được chúng cần phải có sự hợp lực của
tất cả các dân tộc, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới [58, tr.32].
Theo chúng tôi, khái niệm sinh thái và những cách hiểu môi trường
như trên về cơ bản đều đề cập đến một nội dung rất quan trọng đó là mối quan


10

hệ giữa con người với môi trường sống xung quanh con người. Bởi vậy, trong
phạm vi luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ môi trường với nội hàm
như đã được định nghĩa trong “Luật bảo vệ môi trường” đã được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua
ngày 27 tháng 12 năm 1993, theo đó thì: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự
nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con
người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và thiên nhiên” [15, tr.5-6].
1.1.2. Ý thức môi trường
Ngày nay, khi những vấn nạn về môi trường như lụt lội, sóng thần, cạn
kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm đất đai, không khí… và hơn
hết là sự biến đổi khí hậu đang diễn ra, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh tồn
của bản thân con người thì những lời kêu gọi con người phải hành động để
bảo vệ môi trường ngày càng trở nên khẩn thiết. Các hoạt động bảo vệ môi
trường, cả ở qui mô quốc gia, khu vực và toàn cầu ngày nay không còn chỉ
dừng lại ở các phong trào vận động, kêu gọi mà đã thực sự trở thành mối quan
tâm, là tiêu chí trong hoạch định chính sách của các quốc gia. Nhưng làm thế
nào để những hoạt động bảo vệ môi trường trở thành hành động thực tiễn
không chỉ của mỗi cá nhân mà còn của cả toàn thể cộng đồng, của toàn xã
hội. Đây là vấn đề đã được không ít các nghiên cứu đơn ngành cũng như liên

ý thức trách nhiệm đối với môi trường của toàn thể cộng đồng và xã hội.
Thứ ba, ý thức môi trường, về cơ bản, được thể hiện qua ý thức pháp
luật đối với môi trường và ý thức đạo đức đối với môi trường. Nói cách khác
đây là hai khía cạnh hay hai phương diện quan trọng nhất của ý thức môi
trường, khía cạnh pháp luật và khía cạnh đạo đức. Hai khía cạnh này là cơ sở
để điều chỉnh hành vi của con người đối với môi trường.
Ngoài ra ý thức môi trường cũng còn được nhìn nhận từ phương diện
thẩm mỹ nữa. Đặc trưng của khía cạnh này là nó cho ta thấy được nhận thức


12

và đánh giá của con người về cái đẹp của tự nhiên, của môi trường. Từ đó
hướng hoạt động của con người tới mục tiêu giữ gìn và tái tạo vẻ đẹp của tự
nhiên và xã hội.
Tuy nhiên, do mục tiêu đặt ra trong luận văn là xây dựng ý thức môi
trường nhằm tạo dựng được một ý thức trách nhiệm của các cá nhân nói
chung cũng như của cộng đồng nói riêng nên chúng tôi sẽ chỉ tập trung chủ
yếu vào khía cạnh giáo dục ý thức pháp luật và ý thức đạo đức đối với môi
trường mà thôi.
1.2. Tính tất yếu của việc giáo dục ý thức môi trường
Bên cạnh những phân tích bên trên từ phương diện lý luận thì trên thực
tế cũng có thể khẳng định rằng giáo dục ý thức môi trường là một tất yếu
khách quan, một nhu cầu cấp thiết không chỉ của một quốc gia, một dân tộc
mà là của toàn thế giới. Sở dĩ như vậy là vì:
Trên bình diện toàn cầu, có thể nhận thấy, ngày nay, những cải biến
khoa học và công nghệ hiện đại, một mặt tạo điều kiện nâng cao chất lượng
cuộc sống con người, song mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của nó cũng đang
kích thích tâm lý tiêu dùng thái quá; sự phát triển không đồng đều giữa các
quốc gia trên thế giới mà ở đó vẫn tồn tại những công nghệ còn lạc hậu; sự

Cùng với tiến triển của lịch sử, con người ngày càng nhận thức được
rằng môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của con người, bởi môi trường không chỉ cung cấp các nguồn tài nguyên
đầu vào cho sản xuất, đáp ứng nhu cầu sinh sống hàng ngày cho con người
mà còn là nơi chứa và hấp thụ nguồn chất thải do chính sản xuất và con người
tạo ra. Do đó, để bảo vệ môi trường phải duy trì các quy trình sinh thái chủ
yếu và các hệ sinh thái quyết định đến đời sống con người, phải sử dụng hợp
lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các tài nguyên sinh vật, tránh làm


14

cạn kiệt hoặc hủy diệt tài nguyên, đảm bảo có một chiến lược phát triển lâu
bền và ổn định. Vì lẽ đó “bảo vệ là có ý nghĩa tích cực, nó bao gồm cả sự bảo
quản duy trì, sử dụng hợp lý, hồi phục và nâng cao hiệu suất của môi trường
tự nhiên, bao gồm cả các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo” [5, tr.14].
Ở nước ta, Luật bảo vệ môi trường đã khẳng định: Bảo vệ môi trường
“là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi
trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do
con người và thiên nhiên gây ra môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên” [15, tr.6].
Như vậy, để bảo vệ môi trường tốt, nhất thiết phải chú trọng tới việc
giáo dục con người ngay từ còn nhỏ cho tới tuổi trưởng thành và đặc biệt là
khi kết thúc quá trình học tập trong nhà trường, chuẩn bị bước vào đời, trực
tiếp tham gia sản xuất của cải vật chất cho xã hội.
Bên cạnh đó, để thực hiện tốt việc giáo dục ý thức môi trường của
người dân thì không có cách gì tốt hơn là cho họ thấy những lợi ích thiết thực
của những hành vi bảo vệ môi trường trong từng hoạt động của đời sống.
Việc cải thiện và bảo vệ môi trường không chỉ là vấn đề kỹ thuật và
luật pháp mà đòi hỏi sự tham gia của những người sống trong môi trường ấy,

kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia
một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn
đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” [67, tr37].
Trong những năm gần đây trên toàn thế giới nói chung, ở Việt nam nói
riêng, các hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, bão lũ diễn ra bất thường
và rất nặng nề; môi trường nước, không khí, đất đai… bị ô nhiễm nghiêm trọng;
các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, thiếu quy hoạch… đã gây
ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống và sức khoẻ của con người. Do đó, việc giáo
dục ý thức môi trường cho mỗi người dân đã trở thành đòi hỏi bức thiết nhằm tạo
ra trong họ có những suy nghĩ và hành động vì sự toàn vẹn của môi trường.


16

Trong giáo dục ý thức môi trường nói chung, dù cho đối tượng tiếp
nhận là người dân, hay học sinh trong các trường phổ thông, sinh viên trong
các trường đại học hay trung học chuyên nghiệp… đều phải nhằm mục tiêu
đem lại cho các đối tượng được giáo dục có cơ hội:
+ Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường: tính phức tạp, quan hệ
nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng
chịu tải của môi trường, mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển,
giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn
cầu. Mục tiêu này thực chất là trang bị cho các đối tượng được giáo dục các
kiến thức về môi trường [67, tr.37].
+ Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường
như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ
cũng như đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ,
cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mình quan
niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành
các kỹ năng ứng xử và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ. Mục tiêu này nhằm tới

nhiệm, bổn phận đạo đức trong các ứng xử với môi trường).
1.3.2. Nội dung và phương pháp của giáo dục ý thức môi trường đối
với sinh viên
Trong giáo dục môi trường thì phương thức và cách tiếp cận là điều hết
sức quan trọng. Giáo dục môi trường có nhiều phương thức, được phân chia
thành các bộ phận phù hợp với trình độ nhận thức và tính chất đặc thù của
cương vị công tác như:
+ Giáo dục môi trường cho cộng đồng còn gọi là nâng cao nhận thức về
môi trường cho cộng đồng được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện


18

thông tin đại chúng, các đợt tập huấn ngắn hạn, các hoạt động văn hóa, truyền
thông và các cuộc vận động quần chúng rộng rãi.
+ Giáo dục môi trường cho các nhà quản lý các cấp, các cán bộ ra
quyết định được thực hiện bằng nhiều biện pháp phù hợp.
+ Giáo dục môi trường trong hệ thống giáo dục và đào tạo ở các trường
từ các trường mẫu giáo đến các trường cao đẳng và đại học.
+ Đào tạo nhân lực chuyên môn về môi trường, bao gồm công nhân
lành nghề, kỹ thuật viên, kỹ sư, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy.
Như vậy, rõ ràng công tác đào tạo và nâng cao nhận thức môi trường
cho cộng đồng đều là những bộ phận vô cùng quan trọng không thể thiếu
trong giáo dục môi trường, thực hiện những mục tiêu chiến lược của giáo dục
môi trường. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng, giáo dục
môi trường thường được thực hiện theo 3 cách tiếp cận sau đây:
* Giáo dục về môi trường: xem môi trường là một đối tượng khoa học,
người dạy truyền đạt cho người học các kiến thức của bộ môn khoa học về
môi trường, cũng như phương pháp nghiên cứu về đối tượng đó. Cụ thể là:
- Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó.

các thị trường và bạn hàng tiềm năng. Thúc đẩy việc áp dụng các hệ thống
quản lý môi trường theo ISO 14001 và các mô hình quản lý môi trường hỗ trợ
hội nhập kinh tế quốc tế khác.
- Đối với học sinh, sinh viên: Giáo dục thông qua các môn học và các
hoạt động ngoại khóa ở các bậc học. Nội dung và phương pháp được xây
dựng phù hợp với từng cấp học, cụ thể là:
+ Giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non: Giáo dục mầm
non nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là cơ sở quan trọng đặt nền móng
ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người Việt Nam. Giai đoạn từ 0 –
6 tuổi là giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Trong giai
đoạn này, trẻ phát triển rất nhanh về mặt thể chất, nhận thức, tình cảm. Các
mối quan hệ xã hội, những nét tính cách, phẩm chất và các năng lực chung,…


20

nếu không được hình thành ở trẻ trong lứa tuổi này, thì khó có cơ hội hình
thành ở lứa tuổi sau. Hiện nay, cả nước có trên 10.000 trường mẫu giáo, mầm
non với gần 3 triệu trẻ em và trên 15.000 giáo viên. Một lực lượng khá đông
đảo sẽ được trang bị những kiến thức, kỹ năng về môi trường và bảo vệ môi
trường nếu đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào trường mầm non [67, tr.39].
+ Giáo dục bảo vệ môi trường ở bậc tiểu học: Tiểu học là bậc học cơ
bản, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành
công dân tốt cho đất nước. Mục đích quan trọng của giáo dục bảo vệ môi
trường không chỉ làm cho các em hiểu rõ tầm quan trọng của bảo vệ môi
trường mà quan trọng là phải hình thành thói quen, hành vi ứng xử văn
minh, thân thiện với môi trường. Nếu ở cấp học này các em chưa hình thành
được tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế
giới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh thì ở các cấp sau khó
có thể bù đắp được. Vì vậy, nội dung và cách thức bảo vệ môi trường trong

động với nhiều nhân tố bên ngoài [67, tr.40].
Vì mục tiêu phát triển bền vững, vì sức khoẻ cộng đồng, việc giáo dục
môi trường trong giai đoạn hiện nay cần đặt lên hàng đầu, thực hiện thường
xuyên và liên tục cho mọi đối tượng, mọi tầng lớp dân cư giúp cho mọi người
nhận thức một cách đúng đắn về tầm quan trọng công tác bảo vệ môi trường
và có trách nhiệm với môi trường [72].
Có thể nói, việc giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên không thể
tách rời với việc giáo dục ý thức môi trường tại các cấp học trước đó. Chính
vì vậy mà giáo dục ý thức môi trường cần phải được xây dựng thành hệ
thống, có sự liên kết chặt chẽ giữa các cấp học. Chỉ khi đó giáo dục ý thức
môi trường cho sinh viên mới đạt được hiệu quả mong muốn.
1.3.2.1 Giáo dục tri thức môi trường
Để xây dựng được ý thức môi trường thì việc đầu tiên là phải cung cấp
cho con người những tri thức khoa học, hiểu biết đúng đắn về mối quan hệ


22

giữa con người với tự nhiên, về sự thích nghi của con người với những biến
đổi của môi trường tự nhiên nhằm đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa
con người với tự nhiên, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vì cả giới tự
nhiên và con người, giúp con người có được tri thức đúng đắn về giá trị của
môi trường tự nhiên đối với cuộc sống của chính mình. Đồng thời, giáo dục
con người những tình cảm yêu quý, tôn trọng tự nhiên, thân thiện với thiên
nhiên, có thái độ, trách nhiệm và lối sống văn hoá đối với tự nhiên, sống hòa
thuận với thiên nhiên [72].
Giáo dục tri thức môi trường nhằm giúp cho cộng đồng hiểu được bản
chất phức tạp của hệ thống môi trường thiên nhiên cũng như nhân tạo để từ đó
giúp con người có những hành vi đối xử “thân thiện” hơn đối với môi trường.
Mục tiêu của giáo dục tri thức môi trường cũng nhằm trang bị cho cộng đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status