1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả khảo sát nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Trà Vinh, ngày 20 tháng 7 năm 2015
2
MỤC LỤC
ATV
Truyền hình An Giang
ATV1
Kênh 1 - Truyền hình An Giang
ATV2
Kênh 2 - Truyền hình An Giang
BĐ
Biểu đồ
ĐBSCL
PAL
Phase Alternative Line
PGS,TS.
Phó Giáo sư - Tiến sĩ
PT-TH
Phát thanh và Truyền hình
STV
Truyền hình Sóc Trăng
STV1
Kênh 1 - Truyền hình Sóc Trăng
STV2
Kênh 2 - Truyền hình Sóc Trăng
THBT
Truyền hình Bến Tre
THTG
Trang
1
Diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long
106
2
Tỉ lệ dân số ở Đồng bằng sông Cửu Long
106
3
Tỉ lệ người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long
107
4
Tỉ lệ người Khmer ở An Giang
107
5
Tỉ lệ người Khmer ở Kiên Giang
10
Đánh giá mức độ hài lòng của đồng bào Khmer đối
với thông tin tuyên truyền chính sách dân tộc trên
sóng ATV2
67
11
Đánh giá mức độ đồng ý hoặc không đồng ý của đồng
bào Khmer về vấn đề thay đổi kết cấu, thay đổi thời
lượng phát sóng chương trình tiếng Khmer trên ATV2
68
12
Đánh giá mức độ hài lòng của đồng bào Khmer đối
với thông tin tuyên truyền chính sách dân tộc trên
sóng STV1
69
4
13
Đánh giá mức độ hài lòng của đồng bào Khmer đối
17
Đánh giá mức độ đồng ý hoặc không đồng ý của đồng
bào Khmer về vấn đề thay đổi kết cấu, thay đổi thời
lượng và khung giờ phát sóng chương trình tiếng
Khmer trên THTV
73
18
Ý kiến (%) yêu cầu thay đổi thời lượng phát sóng
chương trình tiếng Khmer ATV (1,2), STV (1,2) và
THTV
89
19
Ý kiến (%) yêu cầu thay đổi khung giờ phát sóng
chương trình tiếng Khmer trên ATV (1,2), STV (1,2)
và THTV
90
5
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
113
6
Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long
113
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm việc với Hội đồng
7
Dân tộc của Quốc hội và Ủy ban Dân tộc về chính
114
sách dân tộc.
8
Huỳnh Thị Sô Maly, Vụ trưởng Vụ địa phương 3, Ủy
ban Dân tộc Chính phủ
114
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, Đại hội đổi mới, Đảng ta đã
vùng ĐBSCL sống chủ yếu trên các giồng cát ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng,
An Giang và Kiên Giang. Đây là một tộc người có dân số cao nhất trong nhóm
Mol Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á. Đồng bào Khmer có tiếng nói và chữ viết
riêng cùng với các lễ hội truyền thống đặc sắc đã kiến tạo một nền văn hóa rực
rỡ. Người Khmer ở ĐBSCL có nhiều phong tục tập quán có giá trị về văn hóa,
giáo dục đạo đức, lối sống rất cao. Các giá trị văn hóa đó được thể hiện trong đời
sống xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật.
Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với
vùng đồng bào dân tộc Khmer ở ĐBSCL đã được triển khai thực hiện và đi vào
cuộc sống. Nổi bật là các Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31 tháng 7
năm 1998 “Phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó
khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa”; Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, ngày 20
tháng 7 năm 2004 “Về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và
nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn”;
Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg, ngày 5 tháng 3 năm 2007 “Về việc cho vay vốn
phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn”;
Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg, ngày 9 tháng 6 năm 2008 “Về một số chính
sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào
dân tộc thiểu số nghèo”;… Những Quyết định này được các địa phương ở
8
ĐBSCL triển khai thực hiện, là nguyên nhân chính giúp chuyển biến tích cực về
sản xuất, đời sống, sinh hoạt trong vùng đồng bào dân tộc Khmer ở ĐBSCL.
Ở ĐBSCL, các địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống đều được
trang bị thêm kênh Truyền hình chuyên biệt (An Giang, Sóc Trăng,Trà Vinh,...)
nhằm chuyển tải những thông tin về chính sách pháp luật, thông tin kinh tế, văn
hóa – xã hội, giải trí đến với đồng bào Khmer. Với yếu tố về bản ngữ, chương
trình tiếng Khmer chính là điểm nhấn trong kế hoạch tuyên truyền trên sóng các
nghiên cứu chương trình Dân tộc và miền núi trên sóng Đài Truyền hình Việt
Nam của tác giả Phạm Ngọc Bách đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề cơ bản của
thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong những năm qua.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra cái nhìn tổng quát về“Chương trình Dân tộc và Miền
núi”trên kênh sóng VTV1, làm rõ những ưu điểm và nhược điểm, đề xuất những
giải pháp nâng cao chất lượng công tác thông tin về lĩnh vực này.
TS.Huỳnh Thanh Quang (2011), Giá trị văn hóa Khmer vùng ĐBSCL,
Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật Hà Nội. Đây là công trình tập trung nghiên cứu
một số giá trị cơ bản của văn hóa Khmer ĐBSCL, thực trạng việc phát huy giá trị
văn hóa Khmer thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và một số giải
pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa Khmer vùng ĐBSCL trong giai đoạn hiện
nay. Công trình nghiên cứu "Giá trị văn hóa Khmer vùng ĐBSCL" của
TS.Huỳnh Thanh Quang là một tài liệu tham khảo bổ ích, nhất là đối với những
nhà nghiên cứu dân tộc học và những độc giả quan tâm đến văn hóa Khmer nói
riêng, văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam nói chung.
10
TS.Trần Bảo Khánh (2011), Công chúng Truyền hình Việt Nam, Nxb
Thông Tấn Hà Nội. Xuyên suốt công trình là những nội dung về công chúng
Truyền hình Việt Nam; công chúng Truyền hình Việt Nam nhìn từ góc độ xã hội
học; đặc điểm tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng Truyền hình Việt Nam
hiện nay; đặc điểm trong xử lý thông tin Truyền hình... cho đến xu hướng thay
đổi của công chúng và những đề xuất hướng phát triển của Truyền hình trong
giai đoạn tới. Đây là công trình nghiên cứu thật sự bổ ích, thiết thực, không chỉ
phục vụ cho công tác đào tạo - hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập mà còn
là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà quản lý, lãnh đạo cơ quan báo chí,
các nhà báo, công tác viên và sinh viên, học sinh cao học, nghiên cứu sinh và
những ai quan tâm đến công chúng Truyền hình nói chung.
“Truyền hình các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Longvới việc tuyên
truyền chính sách dân tộc cho đồng bào Khmer hiện nay” là đề tài mới và
bao quát các tỉnh ĐBSCL. Vì vậy, công trình nghiên cứu sẽ xoáy sâu vào những
mặt được và hạn chế trong việc tuyên truyền chính sách dân tộc cho đồng bào
Khmer tại các Đài PT-TH Trà Vinh, Sóc Trăng và An Giang để so sánh và rút ra
những ưu, khuyết điểm. Từ đó, kiến nghị, đưa ra các giải pháp phù hợp để
Truyền hình các tỉnh ĐBSCL phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế
trong việc tuyên truyền về chính sách dân tộc cho đồng bào Khmer.
Cho đến nay công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài là rất ít, có thể kể
đến: TS.Huỳnh Thanh Quang (2011), Giá trị văn hóa Khmer vùng ĐBSCL, Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật Hà Nội; Phạm Ngọc Bách (2005), Chương trình
12
Dân tộc và Miền núitrên sóng VTV1, Luận văn Thạc sỹ truyền thông đại chúng,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền; TS.Lưu Văn An (2008), Truyền thông đại
chúng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước Tư bản phát triển,
Nxb Lý luận Chính trị Hà Nội; TS.Tạ Bảo Khánh (2011), Công chúng Truyền
hình Việt Nam, Nxb Thông tấn; PGS,TS.Nguyễn Văn Vững – TS.Đỗ Thị Thu
Hằng (2012), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Chính trị Quốc gia
Sự thật Hà Nội; Cục văn hóa cơ sở (2003), Tập tục của người Khmer Nam bộ,
trang thông tin điện tử Cục văn hóa cơ sở Hà Nội;...
Với đề tài tác giả đề cập có thể xem là một nội dung mới, các công trình
nghiên cứu về lĩnh vực này chưa có nhiều. ĐBSCL hay nói cách khác là Vùng
Tây Nam bộ, một trong "ba Tây" cùng với Tây - Bắc và Tây Nguyên là những
khu vực nhạy cảm về tình hình chính trị. Bởi thế, việc nghiên cứu vấn đề này là
điều cần thiết để giúp Truyền hình các tỉnh ĐBSCL phát huy lợi thế trong việc
tuyên truyền chính sách dân tộc cho đồng bào Khmer hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
sinh sống đông nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long;
+ Thứ ba, số đông người Khmer ở Trà Vinh và Sóc Trăng có quan hệ
huyết thống với người Khmer ở Vương Quốc Campuchia. Yếu tố này ảnh hưởng
sâu sắc đến vấn đề an ninh, chính trị của địa phương và khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Khi thực hiện luận văn, tác giả sử dụng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về chính sách dân tộc, Chức năng
14
và vai trò của Truyền hình trong việc tuyên truyền chính sách dân tộc nói chung
và đối với đồng bào Khmer ở ĐBSCL nói riêng.
Luận văn kế thừa các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả thực hiện những
phương pháp nghiên cứu sau đây:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: giúp cho người nghiên cứu nắm được
quá trình thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách dân tộc, có thêm kiến
thức sâu, rộng về lĩnh vực đang nghiên cứu và làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của
mình;
+ Phương pháp khảo sát: khảo sát công tác tuyên truyền về chính sách dân
tộc ở cả ba Đài PT-TH Trà Vinh, Sóc Trăng và An Giang, đồng thời rút ra những
mặt được và chưa được ở cả ba đơn vị báo chí này.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn lãnh đạo của Ban Dân tộc, Lãnh
đạo ba cơ quan báo chí mà tác giả khảo sát, những người trực tiếp tác nghiệp về
chính sách dân tộc để có những ý kiến đánh giá chuyên môn về những mặt được
và chưa được trong công tác tuyên truyền về chính sách dân tộc trên sóng
các sinh viên báo chí quan tâm đến lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 3 chương 10 tiết.
16
Chương 1:
TUYÊN TRUYỀN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
CHO ĐỒNG BÀO KHMER CỦA TRUYỀN HÌNH
CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Truyền hình- Khái niệm và chức năng
1.1.1.Khái niệm
Thuật ngữ Truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latin và tiếng
Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là “ở xa” còn “videre” là “thấy
được”, còn tiếng Latin có nghĩa là thấy được từ xa. Ghép hai từ đó lại thành
“Televidere” có nghĩa là xem được ở xa. Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp
là “Television”. Như vậy, dù phát triển bất cứ đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi
Truyền hình cũng có chung tên gọi là nhìn được từ xa [42, tr.13].
Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và phát triển mạnh mẽ nhờ sự
tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông
tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ở thập niên 50 của thế kỷ XX, Truyền hình
chỉ được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần
Truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo
lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa,
quảng cáo và các dịch vụ khác.
1.1.2.Chức năng của Truyền hình
Truyền hình là một loại hình báo chí có lịch sử phát triển ngắn hơn so với
các loại hình truyền thông khác. Xét vai trò của Truyền hình như một tiểu hệ
Truyền hình đã đi vào cuộc sống của từng gia đình, từng cá nhân và trở thành
18
một nhu cầu giải trí không thể thiếu đối với họ. Đây là một trong những chức
năng quan trọng không kém những chức năng của Truyền hình đã đề cập ở trên.
Ưu thế số một của Truyền hình hiện nay đó là đáp ứng một cách cao nhất nhu
cầu thông tin giải trí cho khán giả xem Truyền hình. Cuộc sống càng hiện đại,
con người phải làm việc căng thẳng thì nhu cầu giải trí càng cao. Truyền hình đã
và đang là sự lựa chọn hàng đầu hiện nay. Nhờ vào khoa học – công nghệ ngày
càng hiện đại, người dân có thể ngồi tại nhà và lựa chọn những kênh Truyền hình
mà họ yêu thích. Ca nhạc, phim ảnh... tất cả những loại hình nghệ thuật đáp ứng
nhu cầu giải trí và nâng cao kiến thức của con người đều có thể đáp ứng trên
Truyền hình.
+ Chức năng giám sát xã hội: Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, Nhà
nước ra đời và báo chí luôn luôn thuộc về một giai cấp, một lực lượng chính trị
nhất định. Giám sát là một trong các chức năng quan trọng của báo chí. Trong
nghị quyết Trung ương 6 (Khóa VIII) lần 2, Đảng ta xác định báo chí là một
trong bốn hệ thống giám sát xã hội quan trọng. Trong quá trình thực hiện chức
năng giám sát xã hội, một số người chủ yếu nhấn mạnh vai trò đấu tranh chống
tiêu cực, tham nhũng, làm phơi bày những vụ việc không lành mạnh ra công
luận. Điều đó thể hiện sự bức xúc của dư luận xã hội trong tình hình hiện nay.
Tuy nhiên chức năng giám sát được hiểu bằng cả việc kịp thời biểu dương các
hiện tượng tích cực, phát hiện, cổ vũ các nhân tố mới...
Các chức năng xã hội của báo chí Truyền hình quan hệ chặt chẽ, biện
chứng với nhau, khó có thể tách bóc từng chức năng trong hoạt động thực tiễn.
Mỗi chức năng có vai trò của nó. Thông tin là chức năng tiền đề, vì các chức
năng khác chỉ có thể được bảo đảm trên cơ sở làm tốt chức năng mang tính mục
đích của hoạt động báo chí là xác lập hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa thống nhất
20
sống động trên màn hình. Đây được coi là thế mạnh lớn nhất của Truyền hình.
Chắc hẳn trong chúng ta đã từngcảm thấy hứng khởi, hạnh phúc hay xúc động và
đôi khi bật khóc khi theo dõi những hình ảnh trên Truyền hình. Chúng ta vui
mừng hay phải xúc động vì lý do gì ? Phải chăng là sự kiện, thông tin mà Truyền
hình đưa ra....Đó chỉ là một khía cạnh nhỏ tác động vào tâm lý của chúng ta mà
thôi, nhưng thực sự điều mà ít ai nghĩ tới lại ẩn chứa ngay ở tầng thông tin thứ
hai. Nếu chúng ta thường xuyên theo dõi các chương trình gặp gỡ, giao lưu trên
Truyền hình, đặc biệt là những chương trình Truyền hình: “Như chưa hề có cuộc
chia ly” và “Khát vọng sống” trên kênh VTV1; “Trái tim nhân ái” trên kênh 1 –
Truyền hình Vĩnh Long (THVL1);... hay các chương trình mang ý nghĩa bảo tồn
và phát huy nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc trên sóng các Đài PT-TH ở
ĐBSCL như: Lễ hội đua Ghe Ngo trên Truyền hình Trà Vinh(THTV) và Kênh 1
– Truyền hình Sóc Trăng(STV1); Lễ hội đua bò Bảy núi truyền thống trên kênh 1
– Truyền hình An Giang(ATV1);...v.v... Việc Đài PT-TH các tỉnh ĐBSCL trực
tiếp Truyền hình các sự kiện văn hóa - thể thao nhân dịp lễ hội không chỉ mang
những hình ảnh sống động và hào hứng của nét đẹp văn hóa đồng bào Khmer đến
với cộng đồng mà nó còn mang một ý nghĩa về chính trị sâu sắc, gắn kết tinh thần
đoàn kết giữa các dân tộc anh em ở ĐBSCL nói riêng và cả nước nước nói chung.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1448/QĐ-TTG, ngày 19
tháng 8 năm 2013 phê duyệt “Quy hoạch phát triển dịch vụ phát thanh, Truyền
hình đến năm 2020” với một số chỉ tiêu và định hướng phát triển cụ thể. Theo đó,
về chỉ tiêu phát triển. Từ năm 2015, sẽ cung cấp ổn định 70-80 kênh Truyền hình
phục vụ chính trị, thông tin thiết yếu quốc gia, khu vực và địa phương và đảm bảo
cung cấp 40-50 kênh Truyền hình chuyên biệt của Việt Nam cho dịch vụ trả tiền.
21
Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ
hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - quốc gia dân tộc. Dưới góc độ
môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất. Tuy
nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa thứ hai, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai
thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ.
Vậy là khái niệm dân tộc có nội hàm:
+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan
trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các
thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.
+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư
trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng
gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.
+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ
chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá,
tình cảm...
+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn
hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn
hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc).
Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc
trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau,
đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các đặc trưng nêu
trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đề cập ở đây - về thực chất là một cộng
đồng xã hội - tộc người, trong đó những nhân tố tộc người đan kết, hòa quyện
23
vào các nhân tố xã hội. Điều đó làm cho khái niệm dân tộc khác với các khái
niệm sắc tộc, chủng tộc - thường chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng
hạn màu da hay cấu tạo tự nhiên của các bộ phận trong cơ thể để phân loại cộng
Như vậy, sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với củng cố, phát
triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phát triển một cách toàn diện, trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh - quốc phòng,
môi trường sinh thái… vùng đồng bào dân tộc thiểu số chính là góp phần xây
dựng khối đại đoàn kết các dân tộc. Vì vậy, phát huy vai trò của đồng bào dân
tộc trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thực chất là phát triển mọi mặt
đời sống của đồng bào dân tộc. Nhận thức rõ điều đó, thời gian qua, Đảng và
Nhà nước ta đã ban hành nhiều Quyết định về chính sách dân tộc với những nội
dung rất cơ bản để phát triển vùng đồng bào dân tộc, miền núi một cách bền
vững theo từng giao đoạn cụ thể thông qua các Quyết định như:
+ Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31 tháng 7 năm 1998 “Phê duyệt
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng
sâu, vùng xa”;
+ Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, ngày 20 tháng 7 năm 2004 “Về một
số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào
dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn”;
+ Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg, ngày 5 tháng 3 năm 2007 “Về việc cho
vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó
khăn”;
25
+ Quyết định số 289/QĐ-TTg, ngày 18 tháng 3 năm 2008 “Về ban hành
một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ
nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân”;
+ Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg, ngày 9 tháng 6 năm 2008 “Về một số
chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng
bào dân tộc thiểu số nghèo”;
+ Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg, ngày 18 tháng 3 năm 2011 “Về chính