Luận văn thạc sĩ báo chí học,. chuyên ngành báo chí học Đài truyền thanh cơ sở ở thành phố cần thơ với việc tuyên truyền xây dựng nông thôn mới hiện nay - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐÀI TRUYỀN THANH CƠ SỞ
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY
(Khảo sát các đài truyền thanh cơ sở: Thới Lai, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh,
từ tháng 6/2014 đến tháng 5/2015)
Ngành

: Báo chí học

Mã số

: 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS.

CẦN THƠ - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu độc lập,
các số liệu sử dụng trong luận văn trung thực, có cơ sở,

2.3. Đánh giá chung về thực trạng tuyên truyền

29
31
56

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐÀI TRUYỀN THANH
CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ

3.1. Nhóm giải pháp về tổ chức hoạt động tuyên truyền
3.2. Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực đội ngũ và tăng cường đầu
tư cơ sở vật chất cho nhiệm vụ tuyên truyền
3.3. Nhóm giải pháp về nội dung và hình thức tuyên truyền

62

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

91
94
101

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

67
75



TNVN

:

Tiếng nói Việt Nam

TP. Cần Thơ

:

Thành phố Cần Thơ

TT

:

Truyền thanh

TTCS

:

Truyền thanh cơ sở

TTĐC

:

Thông tin đại chúng


biên tập viên 3 đài: Thới Lai, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh
Tổng hợp đặc điểm về độ tuổi
Tổng hợp đặc điểm về giới tính
Tổng hợp về đặc điểm nghề nghiệp
Tổng hợp đặc điểm về trình độ văn hóa

31
46
46
47
47


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1:
Biểu đồ 2.2:
Biểu đồ 2.3:
Biểu đồ 2.4:
Biểu đồ 2.5:
Biểu đồ 2.6:
Biểu đồ 2.7:
Biểu đồ 2.8:
Biểu đồ 2.9:
Biểu đồ 2.10:
Biểu đồ 2.11:
Biểu đồ 2.12:
Biểu đồ 2.13:
Biểu đồ 2.14:


32
33
35
36
38
39
41
42
43
48
49
50
51
51
52
53


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khoá X) “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư Trung ương khóa X đã ban hành các kết luận về một số
nội dung trong Nghị quyết, bao gồm Đề án An ninh lương thực quốc gia, Đề
án Chương trình Xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới (NTM) cấp xã,
Đề án về Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong
phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM và xây dựng giai cấp nông dân. Chính
phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28-10-2008, xác định

NTM, do có nhiều lợi thế, nên ngoài 19 tiêu chí chung của cả nước, TP. Cần thơ
bổ sung thêm tiêu chí thứ 20 là cung cấp dịch vụ công, nhằm thúc đẩy việc tiếp
nhận, giải quyết các thủ tục hành chính của người dân và chính quyền.
Kể từ khi Đảng ta đề ra chủ trương xây dựng NTM cho đến nay, hầu như
trong các Nghị quyết, Chỉ thị và các văn bản liên quan đều nhắc đến bốn từ “
tập trung tuyên truyền”, đó là một trong những nhiệm vụ then chốt làm nên sự
thành công của “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM”. Trong
công tác tuyên truyền về xây dựng NTM phải kể đến các phương tiện thông
tin đại chúng và các Hội đoàn thể, đặc biệt là hệ thống phát thanh, trong đó
truyền thanh cơ sở (TTCS) là gần gũi nhất và hiệu quả nhất.
Hiện nay, hệ thống phát thanh của nước ta bao gồm 01 Đài Phát thanh
Quốc gia, 65 Đài Phát thanh - Truyền hình (PT - TH) địa phương và có mạng
lưới truyền thanh cơ sở (TTCS) rộng khắp, trong đó: có hơn 612 đài truyền
thanh (TT), hoặc truyền thanh - truyền hình (TT - TH) cấp huyện, với cơ cấu
chung mỗi quận - huyện có một đài TT, hoặc TT - TH và khoảng hơn 8.000
đài truyền thanh cấp xã, phường, thị trấn [17].
Hệ thống TTCS có đặc thù là độ truyền tải thông tin trên phạm vi rộng
lớn, do đó người dân trong lúc làm đồng, làm việc nhà hay nghỉ ngơi....ai


3
cũng có thể nghe được thông tin phát ra từ hệ thống loa truyền thanh được lắp
đặt trong thôn xóm. Có người từng ví rằng, hệ thống TTCS như “một cuộc
họp lớn không có hội trường”, bởi tính thiết thực và hiệu quả của nó đối với
mỗi người dân. Hiện nay, khi cả nước đang chung tay góp sức xây dựng
NTM, hệ thống TTCS càng khẳng định tính ưu việt của mình, đóng vai trò
quan trọng trong việc tuyên truyền về công cuộc xây dựng NTM, đưa đường
lối của Đảng, chủ trương của Chính phủ đến từng người dân, đến tận vùng
nông thôn sâu - xa, hẻo lánh. Qua hệ thống TTCS, người dân hiểu được mục
đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công cuộc xây dựng NTM; các nhân tố

tuyên truyền về xây dựng NTM trên hệ thống TTCS ở TP. Cần Thơ, tôi chọn:
“Đài truyền thanh cơ sở ở Thành phố Cần Thơ với việc tuyên truyền xây
dựng nông thôn mới hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ báo chí học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kể từ năm 2010 đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về báo chí
tuyên truyền về xây dựng NTM ở Việt Nam. Những công trình này tập trung
bàn luận về khái niệm, về quan điểm tiếp cận, về phương pháp xây dựng
NTM ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước (CNH, HĐH). Cụ thể như sau:
- Tác giả Trần Thị Thuỳ Linh, đã nghiên cứu và bảo vệ luận văn thạc sĩ
ngành Báo chí học K17, với đề tài: “Tuyên truyền xây dựng nông thôn mới
trên sóng truyền hình, Đài Phát thanh - Truyền hình Nghệ An” (Khảo sát
chương trình thời sự, chuyên đề từ tháng 6/2012 đến tháng 6/2013. Luận văn
đã chỉ ra những yêu cầu của việc tuyên truyền xây dựng NTM trên sóng
truyền hình, làm rõ những thành công và hạn chế của chương trình truyền
hình của Đài PT-TH Nghệ An trong tuyên truyền xây dựng NTM, đồng thời
đưa ra 7 giải pháp để nâng cao chất lượng chương trình truyền hình của Đài
trong tuyên truyền xây dựng NTM. (Học viện Báo chí và Tuyên truyền)


5
- Năm 2013, tác giả Vũ Mạnh Cường, đã nghiên cứu và bảo vệ luận văn
thạc sĩ ngành Báo chí học K18, tại TP HCM với đề tài: “Vấn đề tuyên truyền
xây dựng Nông thôn mới trên báo chí Quảng Ninh (Khảo sát Báo Quảng
Ninh và kênh truyền hình Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh từ tháng
6/2012 đến tháng 6/2013). Trong luận văn này, tác giả đã phân tích các nội
dung hình thức tuyên truyền về xây dựng NTM trên các loại hình báo chí ở
tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp để hoạt động này mang lại hiệu quả
thiết thực hơn. (Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Qua khảo sát, phân tích thực trạng (thành công và hạn chế) của các đài
TTCS ở TP. Cần Thơ tuyên truyền về xây dựng NTM, từ đó đề xuất những
giải pháp nâng cao chất lượng thông tin của các đài này trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau
đây:
- Xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn, tầm quan trọng của TTCS của cả
nước nói chung, của TP. Cần Thơ nói riêng; quan điểm của Đảng, nhà nước
về xây dựng NTM.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tuyên truyền về xây dựng
NTM (thành công, hạn chế) của các đài TTCS ở TP. Cần Thơ.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về xây
dựng NTM của các đài TTCS ở TP. Cần Thơ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Vấn đề tuyên truyền xây dựng NTM
của các Đài truyền thanh cơ sở ở Thành phố Cần Thơ
4.2. Phạm vi nghiên cứu


7
- Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ khảo sát các chương trình có tác phẩm
tuyên truyền về xây dựng NTM của các đài TTCS cấp huyện (của 3 huyện: Thới
Lai, Cờ Đỏ và Vĩnh Thạnh), mà không khảo sát các đài TTCS cấp xã.
Lý do tác giả luận văn chỉ tập trung khảo sát 3 đài TTCS cấp huyện này,
(1) Theo quy định về chức năng, nhiệm vụ của TTCS, thì TTCS được phân
thành 2 cấp: TTCS cấp huyện (gồm các đài: quận, huyện, thị xã, thành phố)
và TTCS cấp xã (gồm: xã, phường, thị trấn). Hai cấp này cùng làm nhiệm vụ

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm góc nhìn mới
về vai trò của TTCS - với tư cách là một cơ quan báo chí chuyên nghiệp - cần
được quản lý và đầu tư theo cách chuyên nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn làm sáng tỏ diện mạo, vai trò, vị trí của các đài TTCS ở TP.
Cần Thơ trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội ở địa
phương, đặc biệt là trong tuyên truyền về xây dựng NTM.
- Luận văn là tài liệu bổ ích cho cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí trong
nước nói chung và ở các địa phương trong TP. Cần Thơ nói riêng; cho các đài
TTCS và cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THANH CƠ SỞ
1.1. Các thuật ngữ và khái niệm


9
- Phát thanh:
Theo cuốn Cơ sở lý luận báo chí của PGS,TS. Nguyễn Văn Dững thì,
phát thanh:
Là kênh thông tin đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ
thống truyền dẫn đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác
người tiếp nhận. Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử
dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống
hiện thực. Thông điệp được mã hoá truyền qua kênh phát thanh
và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông
điệp. Tuy nhiên, phát thanh hiện đại-phát thanh internet hay

nằm trong “loại hình báo chí phát thanh”, truyền thông tin bằng sóng điện
từ, làm lan rộng ra cho nhiều người, nhiều nơi biết và người nhận phải có
máy thu thanh mới tiếp nhận được thông tin.
Đài truyền thanh được hiểu là: Đài chuyển tiếp tín hiệu truyền thanh,
bao gồm tập hợp các thiết bị thu sóng radio, tách sóng và khuếch đại tín hiệu
âm thanh, sau đó tiếp tục tuyền tín hiệu âm theo đường dây truyền thanh để
thực hiện việc chuyển tiếp chương trình phát thanh, chương trình truyền thanh
địa phương.
- Truyền thanh cơ sở
“Truyền thanh cơ sở” là một thuật ngữ đã được sử dụng khá phổ biến
trong lý luận chuyên ngành phát thanh ở nước ta. Theo các tác giả của các
cuốn sách Báo phát thanh, Lý luận báo phát thanh, Phát thanh trực tiếp… thì
“truyền thanh cơ sở” là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ một cấp trong hệ
thống truyền thanh các cấp, gồm: cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; cấp quận, huyện, thị, trực thuộc tỉnh; cấp phường, xã, thị
trấn, trong đó, hai cấp: quận, huyện, thị (gọi là cấp huyện) và cấp: phường, xã,
thị trấn (gọi là cấp xã).
Ở nước ta “từ 1976, Nhà nước đã quyết định đưa các đài truyền thanh
xã, phường, thị trấn vào bộ máy tổ chức của hệ thống truyền thanh 4 cấp
gồm: (Trung ương; Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, huyện, thị,


11
thành phố trực thuộc tỉnh; phường, xã, thị trấn)” [21, tr.262] và toàn bộ mạng
lưới đài phát thanh từ Trung ương đến cơ sở đều thuộc sở hữu Nhà nước do
Chính Phủ và UBND các cấp quản lý.
Chính vì thế, khái niệm “Truyền thanh cơ sở” hoặc “Đài TTCS” trong
luận văn này được hiểu bao gồm: (1) Đài truyền thanh cơ sở cấp quận,
huyện, thị xã (gọi tắt là đài huyện) và (2) Đài truyền thanh cơ sở cấp xã,
phường, thị trấn (gọi tắt là là đài xã).

tế mới, có văn hoá nông thôn văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ
gìn, bảo tồn được bản sắc văn hoá dân tộc và ở đó những người
nông dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa được thụ hưởng những gía
trị vật chất, tinh thần do chính họ tạo ra [679].
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
đã đưa ra mục tiêu:
Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội hiện đại, cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc;
dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ
thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng
cường [3].
- Tuyên truyền về Nông thôn mới
Tuyên truyền là công việc truyền bá, phổ biến những kiến thức, những
giá trị tinh thần đến cho người dân. Thông qua công tác tuyên truyền giúp cho
người dân hiểu được các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nắm bắt
được những kế hoạch, chương trình liên quan đến xây dựng NTM.
Do vậy, tuyên truyền NTM giúp cho cán bộ và người dân hiểu về
tầm quan trọng của chương trình xây dựng NTM; Xác định được bản chất
của chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Xác định rõ vai trò chủ
thể của người dân và cộng đồng trong xây dựng NTM, lấy nội lực làm căn
bản…, tự tin đứng lên làm chủ, tự giác tham gia, sáng tạo trong tổ chức thực


14
hiện với sự hỗ trợ của nhà nước. Tạo ra phong trào thi đua sôi nổi trong
xã hội, và giúp cho cộng đồng chủ động hơn trong việc hưởng lợi từ
Chương trình MTQG xây dựng NTM
Chính vì thế, trong xây dựng NTM công tác tuyên truyền được xem là

nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp
chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi
hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công
nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các
khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường.
CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao
động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản
phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái;
tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây
dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn [30,
tr.93-94].
Như vậy, Nghị quyết Trung ương 5 đã đưa ra quan niệm tổng quát về
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhiệm vụ của CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, hòa quyện vào nhau, tác động lẫn
nhau trong quá trình phát triển. Vì thế, trong chỉ đạo không được chia cắt,
tách rời từng nội dung mà phải gắn kết trong một thể thống nhất.
Đến Đại hội X, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp
và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông
dân. Đại hội xác định phải khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển
nông thôn; Thực hiện chương trình xây dựng NTM; Xây dựng các làng, xã,


16
ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh; Hình thành các
khu dân cư đô thị hóa với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ ; Phát huy
dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao trình độ
dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan; bảo đảm an ninh trật

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của
từng vùng, từng lĩnh vực...
Bốn là, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là
nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; phải khơi dậy
tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông
dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có
đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động
lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM, nâng cao đời
sống nông dân [31, tr.125].
Sau Nghị quyết 26-NQ/TW, Bộ Chính trị có chủ trương chỉ đạo thí điểm
xây dựng mô hình NTM; Ban Bí thư Trung ương Đảng có quyết định thành
lập Ban Chỉ đạo do đồng chí Thường trực Ban Bí thư làm Trưởng ban và
quyết định chọn 11 xã đại diện cho các vùng trên cả nước làm thí điểm. Ban
chỉ đạo phân công mỗi đồng chí ủy viên trực tiếp phụ trách 01 xã. Cứ 6 tháng
Ban chỉ đạo giao ban với các xã tại Hà Nội 01 lần. Sau hơn 2 năm thực hiện
chỉ đạo thí điểm, những kinh nghiệm rút ra từ chỉ đạo điểm đã giúp cho Chính
phủ quyết định phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010 - 2020"; ngày 4/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã
phát động phong trào thi đua "Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới".
Đại hội XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng NTM:
Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với đô thị và bố trí các điểm
dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn
với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình xây dựng NTM
phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể vững
chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy truyền thống văn


18
hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu
hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả

dựng nông thôn mới
1.3.1. Hệ thống truyền thanh cơ sở của Việt Nam
Đài Tiếng nói Việt Nam được ra đời từ ngày 7/9/1945, ngay sau khi
nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được khai sinh. Tuy nhiên, phải đến năm
1956, với sự giúp đỡ của Liên Xô thời kỳ đó, nước ta mới bắt đầu xây dựng
đựơc các đài Phát thanh tỉnh. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, hệ thống đài
truyền thanh cơ sở cấp huyện (TTCSCH) ở nước ta mới được xây dựng và
từng bước được tăng cường số lượng, nâng cao dần chất lượng.
Nhiệm vụ chính của các đài TTCS trong giai đoạn này là tiếp âm đài
Trung ương, đài tỉnh và tự xây dựng các bản tin, các chương trình phát thanh
để phản ánh về công việc của các hợp tác xã; cổ vũ những phong trào thi đua
lao động sản xuất, các điển hình; phê phán thói xa hoa, lãng phí, quan liêu
trong quản lý tài sản tập thể… Do số lượng đầu báo ở ta khi đó còn rất ít nên
vị trí, vai trò của các đài TTCS là rất lớn.
Kể từ khi ra đời cho đến nay, hệ thống đài TTCS [bao gồm các đài
TTCS cấp huyện và TTCS cấp xã] luôn là một bộ phận không thể thiếu của hệ
thống báo chí của cả nước. Mạng lưới TTCS rộng khắp cả nước, trong đó: có
hơn 612 đài truyền thanh (TT), hoặc truyền thanh - truyền hình (TT - TH) cấp
huyện, với cơ cấu chung mỗi quận - huyện - thị có một đài TT, hoặc TT - TH
và khoảng hơn 8.000 đài TTCS cấp xã [17].
Đài TTCS được ví như cánh tay nối dài của Đài TNVN và Đài PT-TH
tỉnh. Đặc biệt, ở những khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, nơi có số lượng
thính giả chiếm tới hơn 80% của cả nước, thì vai trò và tầm quan trọng của hệ
thống này luôn được khẳng định và ngày càng cao, bởi tính tiện lợi và phù
hợp với điều kiện của vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status