PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CAO SU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI - Pdf 70

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
CAO SU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI
1.Phương hướng xuất khẩu cao su của Việt Nam.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã mở rộng giao
thương buôn bán với nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt Việt Nam đã gia nhập
WTO, điều đó có nghĩa Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đai hay tuân thủ
các qui định giống như các nước thành viên khác cùng trong một sân chơi với
những luật chơi chung đã được qui định trong tổ chức Thương mại thế giới.
Chúng ta có thể thấy quá trình hội nhập của Việt Nam ngày càng sâu rộng.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra cơ hội lớn cho ngành nông nghiệp Việt
Nam phất huy lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, sinh thái để phát triển
những sản phẩm và có tính cạnh tranh cao. Cao su là một trong những nông
sản điển hình đó và Nhà nước ta đã có định hướng cụ thể cho việc xuất khẩu
cao su đến năm 2010. Định hướng xuất khẩu cao su đến năm 2010 nằm trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 2001-2010, cụ thể hơn là trong
chiến lược xuất khẩu của Việt Nam đến 2010 trên con đường hội nhập kinh tế
quốc tế như sau:
1.1 Về kim ngạch xuất khẩu.
Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đã là một trong những thành viên
của tổ chức thương mại thế giới, nước ta đã có nhiều điều kiện thuận lợi để nâng
cao vị thế của mình trên thương trường. Cùng nhịp phát triển của nền kinh tế,
ngành xuất khẩu nói chung và xuất khẩu cao su nói riêng đã và đang tạo dựng
cho mình những bước tiến vững chắc.
Trên cơ sở giá xuất khẩu đang tiến triển thuận lợi cộng với nhu cầu cao su
thiên nhiên của thế giới tiếp tục tăng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
dự báo kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam trong năm nay sẽ đạt khoảng
1,5 tỷ USD, tăng gần 0,7% so với năm ngoái.
Kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam vẫn thấp so với các nước khác
trên thế giới. Các doanh nghiệp trong nước cần đẩy mạnh các hoạt động nhằm
nâng cao tổng kim ngạch xuất khẩu, đưa nước ta lên vị thế cao hơn trên thị
trường thế giới về xuất khẩu cao su. Điều đặc biệt quan trọng là chúng ta cần

được thâm canh đúng quy trình ngay từ đầu đã dẫn tới việc kéo dài thời gian dự
kiến cơ bản, số cây đủ tiêu chuẩn cho mủ đạt tỷ lệ thấp. Chính điều đó đã đòi
hỏi Nhà nước phải có các văn bản chỉ đạo công tác quy hoạch phát triển cây cao
su một cách rõ ràng, chính xác.
2.1.2. Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tăng cường đầu tư trang
thiết bị, cải tiến kỹ thuật chế biến
Hiện nay, nguồn hàng xuất khẩu của Việt Nam được tạo từ hai nguồn: sản
xuất trong nước và tạm nhập khẩu để tái xuất (chủ yếu là ở Campuchia và Lào).
Vậy vấn đế đặt ra là nguồn hàng sản xuất trong nước còn nhiều yếu kém, từ
khâu trồng trọt, áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm rút ngắn thời gian thiết kế cơ
bản, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm đến công nghiệp chế biến cao su
nguyên liệu. Thực tế, năng suất cao su Việt Nam còn thấp so với các nước trong
khu vực, công nghệ thiết bị lạc hậu, thiếu các thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện
đại nên cơ cấu chủng loại cao su còn hạn chế, chất lượng thấp, vì vậy xuất khẩu
với giá thấp hơn so với các nước khác. Vì vậy, Nhà nước cần khuyến khích các
doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công nghệ chế biến.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần thành lập các phòng thí nghiệm cao su do Nhà nước
quản lý để đảm bảo chất lượng cao su theo tiêu chuẩn quốc tế. Khi cây cao su
cho sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường quốc tế thì công tác mở rộng thị
trường sẽ đạt hiệu quả hơn.
2.1.3. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu
Kinh nghiệm của một số nước thành công trong lĩnh vực xuất khẩu cao su
cho thấy cần thiết phải có những tổ chức chuyên trách trong việc nghiên cứu thị
trường ngoài nước. Xúc tiến xuất khẩu bao gồm các hoạt động:
- Nghiên cứu các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, tập quán sinh hoạt,
hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế điều hành, thu thập thông tin về
cung cầu, giá cả, điều kiện thâm nhập thị trường của từng nhóm hàng,
mặt hàng ở từng khu vực thị trường.
- Xử lý các thông tin, dự báo sản phẩm tiềm năng ở mỗi thị trường vụ thể
về các mặt: chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả.

này, Nhà nước cần có những chính sách rõ ràng, nhất quán đối với ngành công
nghiệp cao su và chiến lược phát triển sản xuất để thay đổi cơ cấu sản phẩm và
chính sách công nghiệp nhằm phát triển các mặt hàng mới hướng về xuất khẩu
với quy mô lớn đủ đáp ứng nhu cầu thị trường, có nghĩa là cần hoàn thiện chính
sách không chỉ trong phạm vi ngành cao su mà còn cả chính sách liên quan đến
ngành sản xuất ô tô. Do bảo hộ cao đối với ngành sản xuất ô tô nên nhu cầu săm
lốp ô tô tăng chậm, các doanh nghiệp chưa sẵn sàng đầu tư vào ngành sản xuất
săm lốp ô tô ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi nhập khẩu đối với các
nguyên liệu cho sản xuất các sản phẩm cao su mà trong nước chưa sản xuất
được như hoá chất, thiết bị… để kích thích sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Sản
phẩm công nghiệp cao su không những có giá trị gia tăng cao hơn cao su
nguyên liệu mà còn có cơ hội và khả năng để đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu,
phát triển sản phẩm mới. Tuy nhiên, điều này lại vượt quá khỏi tầm giải quyết
của các cơ sở sản xuất do đó Nhà nước cần tập trung thu hút đầu tư để phát triển
các vùng nguyên liệu gắn với các nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu, đầu tư
cho khâu chế biến để tăng giá trị xuất khẩu. Mặt khác, Nhà nước cần đẩy mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status