Đại cương giáo trình thực hành hóa hữu cơ - Pdf 70

Thực hành hoá hữu cơ - 7 -

Phần I. ĐẠI

CƯƠNGI. Nội quy làm thí nghiệm
- Trước khi làm một bài thí nghiệm
Sinh viên phải chuẩn bò trước đề cương thí nghiệm ở nhà, thông qua kiểm
tra của giáo viên ở phòng thí nghiệm rồi mới được làm bài thí nghiệm đó.
- Trong khi làm thí nghiệm
Mỗi sinh viên phải làm việc ở một chỗ quy đònh, làm bài thí nghiệm đã
được giáo viên thông qua và dưới sự giám sát của giáo viên. Không được
làm thí nghiệm một mình trong phòng thí nghiệm. Cấm người ngoài đến
thăm sinh viên trong phòng thí nghiệm. Cấm ăn uống, hút thuốc trong
phòng thí nghiệm.
Phải giữ trật tự, im lặng; phải có tính nghiêm túc, chính xác,trung thực và
khoa học; phải tuân theo các quy tắc bảo hiểm và giữ chỗ làm việc gọn
gàng, sạch sẽ. Cấm vứt giấy lọc, các chất rắn, axit, kiềm, chất dễ cháy,
chất dễ bay hơi vào bể nước rửa mà phải đổ vào chỗ quy đònh của phòng thí
nghiệm. Dung môi bẩn phải đổ vào bình chứa dung môi bầûn để tinh chế lại.
Phải giữ dụng cụ thí nghiệm sạch sẽ, tránh làm đổ vỡ. Làm đổ vỡ phải báo
cáo với giáo viên. Không được làm thí nghiệm với dụng cụ bẩn. Không
được tự tiện mang dụng cụ hóa chất ra khỏi phòng thí nghiệm. Không được
sử dụng dụng cụ máy móc không thuộc phạm vi bài thí nghiệm cũng như khi
chưa hiểu tính năng và cách sử dụng.
Khi làm thí nghiệm phải mặc áo choàng, phải có khăn mặt và khăn lau bàn
ở chỗ làm việc.
- Làm xong thí nghiệm
Sinh viên phải báo cáo kết quả với giáo viên, ghi sổ tường trình nộp cho

- Các kim loại kiềm được giữ trong bình dầu hỏa đậy bằng nút bấc. Phải
dùng cặp lấy kim loại ra ( không dùng tay), lau khô bằng giấy lọc, tránh
cho kim loại tiếp xúc với nước hay CCl
4
. Phải hủy Na hay K sau phản ứng
bằng một lượng nhỏ ancolbutylic hay amylic.
- Thủy ngân được giữ trong bình nút kín, đặt các thiết bò có chứa thủy ngân
trong khay men hay nhựa, thu hồi thủy ngân rơi vãi bằng bản hỗn hống đồng
hay dùng mao quản qua bình nối với bơm hút dòng nước.
- Brom được giữ trong bình dày có nút nhám, lấy brom trong tủ hốt, đeo kính
bảo hiểm và găng tay, mỗi lần lấy brom cho vào bình phản ứng qua phễu
nhỏ giọt đã được thử trước độ kín và không được quá 10 ml.
- Khi làm việc với acid H
2
SO
4
đặc, oleum, phải rót cẩn thận qua phễu và
làm trong tủ hốt, pha loãng acid trong bình chòu nhiệt bằng cách rót từng
phần acid vào nước khi khuấy, không pha loãng oleum, không dùng H
2
SO
4

đặc trong bình làm khô chân không.
- Khi làm việc với các chất dễ cháy như benzen, ete, aceton, etylaxetat,
CS
2
, ete dầu hỏa, phải để xa ngọn lửa, đun nóng hay chưng cất bằng bếp
cách thủy, cách dầu hay cách cát hoặc bếp điện bọc.
- Ete được giữ trong bình nút chặt có mao quản hay ống CaCl

lại bình thường rồi bằng nước, sau đó băng vết thương bằng bông tẩm
glycerin.
- Khi rơi chất hữu cơ lên da : Trong đa số trường hợp rửa bằng nước không
có tác dụng thì rửa bằng dung môi hữu cơ (rượu etylic ) nhưng cần rửa nhanh
và bằng một lượng lớn dung môi, tránh tạo thành dung dòch đặc chất hữu cơ
trên da.
- Khi thở phải khí clo hay brom : Ngửi bằng dung dòch amoniac loãng hay
rượu etylic rồi đi ra chỗ thoáng.
- Khi bò đầu độc bởi hóa chất : Uống một lượng tương đối nhiều nước sau
đó nếu bò đầu độc bởi acid thì uống một cốc NaHCO
3
2%, nếu bởi kiềm thì
uống một cốc acid acetic hay acid limonic 2%.
- Khi bò thương bởi mảnh thủy tinh : Gắp hết mảnh thủy tinh ra khỏi vết
thương, bôi cồn Iod 3% rồi băng vết thương lại. Nếu chảy máu nhiều thì cột
garo rồi đưa đi bệnh xá.
- Khi có đám cháy : Tắt hết đèn hay bếp điện trần, phủ ngọn lửa bằng khăn
hay chăn amiăng hoặc cát, nếu cần dùng bình khí CO
2
.
Trong mọi trường hợp nếu bò đầu độc nặng hay bò cháy lớn phải gọi y,
bác só hay cơ quan phòng chữa cháy.
V. Dụng cụ thủy tinh và cách sử dụng
Các loại dụng cụ hóa học chủ yếu làm bằng loại thủy tinh bosilicat hay
molipđen có hệ số giãn nở tương đối nhỏ, rất bền với acid và kiềm, đủ bền
với sự thay đổi nhiệt độ. Loại thủy tinh pyrex có độ bền với nhiệt cao hơn,
có hệ số giãn nở nhỏ, có thể làm việc ở nhiệt độ cao và chòu được sự thay
đổi nhiệt độ đến 250
o
C nhưng kém bền hơn với kiềm. Thủy tinh thạch anh

còn bình Claisen dùng để cất chất lỏng dưới áp suất thường hay áp suất
thấp.
Phạm Văn Tất - Nguyễn Quốc Tuấn Khoa Hoá Học
Thực hành hoá hữu cơ - 11 - Hình 3 -Bình Bunsen a) và ống nghiệm nhánh b).
Hình 2-Bình Wurtz a) và Claisen b)

Bình Bunsen : dùng làm bình lọc ở áp suất thường hay chân không. Có thể thay
bình Bunsen bằng ống nghiệm nhánh khi lọc một lượng nhỏ chất.
Bình nón ( Erlen) : Dùng để kết tinh, chuẩn bò hóa chất, làm bình hứng,
tiến hành các phản ứng đơn giản.
Cốc (Bese) : Dùng để tiến hành các phản ứng đơn giản ở nhiệt độ thấp
hơn 100
o
C hoặc dùng làm bình hỗ trợ.
c
Hình 4-Hình nón thường a), nút nhám b), các loại cốc c)

Ống sinh hàn : Dùng để ngưng tụ hơi khi tiến hành phản ứng hay khi
chưng cất. Nếu khi ngưng tụ hơi trở lại bình phản ứng, dùng ống sinh hàn
bầu hay xoắn lắp thẳng đứng hay nghiêng gọi là ống sinh hàn ngược (hồi
lưu) nếu ngưng tụ hơi ra bình hứng, dùng ống sinh hàn thẳng lắp xuôi gọi là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status