TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
--------o0o--------
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
TÂM LÝ HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
CẢM GIÁC, TRI GIÁC VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG
CÁC QUY LUẬT CỦA CẢM GIÁC
Giảng viên hướng dẫn:
Mã lớp học:
Sinh viên thực hiện
Hà Nội, 4/2018
MỤC LỤC
Cảm giác và tri giác là gì
3
Những đặc điểm cơ bản của cảm giác và tri giác
4
Những đặc điểm cơ bản của cảm giác
4
LỜI MỞ ĐẦU
Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người. Trong quá trình
sống và hoạt động con người nhận thức - phản ánh được hiện thực xung
quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó mà con người tỏ thái
độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân
mình. Có thể nói rằng, nhờ có nhận thức mà con người làm chủ được tự
nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ được bản thân mình.
Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức
độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Mức
độ thấp nhất, đơn giản nhất trong số đó là nhận thức cảm tính nếu xét về
mặt phát sinh chủng loại cũng như mặt phát triển cá thể.
Nhận thức cảm tính bao gồm hai hình thức phản ánh tâm lý là cảm giác
và tri giác. Trong đó cảm giác lại là hình thức phản ánh thấp hơn. Cảm
giác và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau trong mức
độ nhận thức “trực quan sinh động” về thế giới. Cảm giác và tri giác có
vai trị quan trọng đối với con người trong nhận thức thế giới xung
quanh.
1. Vậy cảm giác và tri giác là gì?
Mỗi sự vật, hiện tượng xung quanh ta đều được bộc lộ bởi hàng loạt
thuộc tính bề ngồi như màu sắc, hình dáng, kích thước, mùi vị hoặc âm
thanh. Những thuộc tính này tác động lên từng giác quan của chúng ta
và cho ta những cảm giác cụ thể. Khi từng thuộc tính của sự vật, hiện
3
tượng tác động vào các giác quan của chúng ta, một quá trình tâm lý
phản ánh một cách riêng lẻ các thuộc tính này diễn ra, chính là q trình
cảm giác.
trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta. Khi kích thích ngừng tác
động thì cảm giác ngừng tắt. Điều này dễ thấy, vì khi một người rời xa
khỏi tầm mắt của ta thì ta sẽ khơng cịn nhìn thấy hình ảnh của họ, hay
khi một người dừng nói thì ta khơng cịn nghe thấy tiếng của họ.
Cảm giác chỉ phản ánh từng thuộc tính cụ thể của sự vật hiện tượng
thông qua hoạt động của từng giác quan riêng lẻ như ta đã thấy ở ví dụ
trước đó. Do vậy, cảm giác chưa phản ánh được một cách trọn vẹn, đầy
đủ các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Nghĩa là, cảm giác mới chỉ cho
ta từng cảm giác cụ thể, riêng lẻ về từng thuộc tính của vật kích thích.
Mỗi kích thích tác động vào cơ thể cho ta một cảm giác tương ứng.
Cảm giác của con người khác xa về chất so với cảm giác của con
vật. Điểm khác nhau cơ bản là cảm giác của con người mang bản chất xã
hội. Bản chất xã hội của cảm giác của con người được thể hiện ở chỗ:
5
- Đối tượng phản ánh của cảm giác ở người khơng chỉ là những thuộc
tính của sự vật hiện tượng vốn có trong thế giới mà cịn phản ánh những
thuộc tính của sự vật hiện tượng do con người sáng tạo ra trong q trình
giao tiếp, ví dụ như việc lồi người làm ra máy lạnh để có thể cảm thấy
mát vào mùa hè, hay việc nấu chín thức ăn để khi ăn cảm thấy ngon
miệng hơn.
- Cơ chế sinh lý của cảm giác ở người không chỉ phụ thuộc vào hoạt
động của hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn chịu sự chi phối bởi hoạt
động của hệ thống tín hiệu thứ hai – hệ thống tín hiệu ngơn ngữ. Ta có
thể thấy được điều này qua nhiều tình huống trong cuộc sống. Khi một
đứa trẻ bị ngã, nếu người mẹ chạy lại ôm ấp vỗ về, tỏ ra xót con thì đứa
bé sẽ khóc rất to, cịn nếu ta lờ đi thì đứa bé sẽ khóc tỏ ra đau đớn một
lúc để gây sự chú ý nhưng rồi sẽ tự nín khóc và đứng dậy.
định.
7
-Tri giác là mức độ cao nhất của nhận thức cảm tính trong khi cảm giác
chỉ mới là mức độ đầu tiên.
-Tri giác giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn,
giúp con người điều chỉnh một cách hợp lí hoạt động của mình trong thế
giới, giúp con người phản ánh thế giới có lựa chọn và có tính ý nghĩa.
Cịn cảm giác giúp con người thu nhận nguồn tài liệu trực quan sinh
động, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động tâm lý cao hơn.
Từ những đặc điểm trên, ta có thể thấy tri giác là một mức độ
cao hơn so với cảm giác. Cảm giác là mức độ đầu tiên, sơ đẳng nhất
của nhận thức cảm tính, xuất hiện ngay khi có một kích thích tác
động lên một giác quan của ta. Tri giác có thể nói là một sự tổng hợp
của các cảm giác, tập hợp tất cả các thuộc tính của sự vật đã được
cảm giác phản ánh lại để có một sự phản ánh đầy đủ hơn, trọn vẹn
hơn về sự vật, hiện tượng đó.
3. Vai trị của cảm giác và tri giác
Cảm giác và tri giác có những vai trị quan trọng trong việc nhận
thức thế giới của con người.
Cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người trong hiện
thực khách quan. Nhờ có cảm giác mà ta mới có được những nhận thức
đầu tiên về thế giới xung quanh. Khơng có cảm giác thì con người sẽ
khơng biết được những thuộc tính của các sự vật hiện tượng xung quanh
mình. Ví dụ như một người khiếm thị sẽ không thể biết được thế giới
8
Đặc biệt, hình thức tri giác cao nhất, tích cực nhất, chủ động và có
mục đích là quan sát và làm cho tri giác của con người khác xa tri giác
của con vật. Cùng với sự phát triển và phức tạp dần lên của đời sống xã
hội và của các thao tác lao động, quan sát trở thành một mặt tương đối
độc lập của hoạt động và đã trở thành một phương pháp nghiên cứu quan
trọng của khoa học cũng như của nhận thức thực tiễn.
4. Các quy luật của cảm giác
Cảm giác tuân theo một số quy luật nhất định.
Quy luật về ngưỡng của cảm giác
Không phải kích thích nào cũng gây ra cảm giác. Chỉ những kích
thích có cường độ nằm trong một giới hạn nào đó mới có thể gây ra cảm
giác cho cơ thể. Giới hạn đó được gọi là ngưỡng của cảm giác.
Có hai loại ngưỡng tuyệt đối đánh dấu hai đầu mút giới hạn mà ở đó
cơ thể cịn cảm nhận được kích thích:
10
-Ngưỡng tuyệt đối phía trên là cường độ kích thích tối đa vẫn còn gây
cho ta cảm giác.
-Ngưỡng tuyệt đối phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu cần thiết để
gây cho ta cảm giác.
Phạm vi nằm giữa ngưỡng tuyệt đối phía dưới và ngưỡng tuyệt đối
phía trên là vùng cảm giác, trong đó có một vùng phản ánh tốt nhất.
Quy luật này được thể hiện qua việc mắt người chỉ có thể nhìn được
các ánh sáng có tần số nằm trong khoảng từ 380nm đến 760nm và phản
ánh tốt nhất với bước sóng 565nm, tai người chỉ có thể nghe thấy âm
thanh có tần số từ 16Hz đến 20kHz và phản ánh tốt nhất với tần số
1kHz.
Tuy nhiên khơng phải tất cả kích thích (nằm trong vùng cảm giác)
Mức độ thích ứng của các loại cảm giác khác nhau là không giống
nhau. Khả năng thích ứng của cảm giác là do rèn luyện. Ta có thể thấy
điều này ở những người khiếm thị, tuy rằng khơng nhìn được nhưng họ
lại có xúc giác, vận động giác, cảm giác rung nhạy bén, có thể dễ dàng
phân biệt được các vật bằng cách chạm tay, cảm nhận độ rung, … đó
12
chính là vì họ khơng thể nhìn nên họ sử dụng xúc giác, khứu giác, cảm
giác rung và vận động giác để nhận biết xung quanh, họ rèn luyện các
cảm giác đó thường xun dẫn tới chúng vơ cùng nhạy bén, vơ cùng
chính xác.
Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác
Tính nhạy cảm của cảm giác khơng chỉ thay đổi theo cường độ của
kích thích, nó còn thay đổi dưới tác động của các cảm giác khác. Đó
chính là sự tác động qua lại giữa các cảm giác. Sự tác động đó tuân theo
một quy luật chung: sự kích thích yếu lên một cảm giác này sẽ làm tăng
sự nhạy cảm của cảm giác kia và ngược lại, sự kích thích mạnh lên một
cảm giác này sẽ làm giảm độ nhạy cảm của cảm giác kia. Ví dụ khi ngồi
học bài, người học sinh thường dấp nước lạnh lên mặt để khỏi buồn ngủ.
Bởi vì cảm giác da mặt bị lạnh nó mạnh hơn, lấn át đi cảm giác mệt mỏi,
lờ đờ của đôi mắt, làm giảm độ nhạy cảm về cảm giác buồn ngủ. Chính
vì thế nó sẽ giúp người học sinh tỉnh táo hơn.
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay
nối tiếp giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại. Khi ăn dứa hoặc
bưởi, chúng ta thường chấm muối trước khi đưa vào miệng. Sở dĩ ta làm
như vậy vì nếu như khơng chấm muối, sau khi ăn miếng dứa, miệng và
lưỡi của bạn có cảm giác tê rát, đó là vì ruột quả dứa khơng những có rất
nhiều đường và vitamin C, mà cịn có một chất xúc tác. Chất xúc tác này
đủ mạnh để phân giải lòng trắng trứng, đối với niêm mạc miệng và biểu
Cảm giác thể hiện mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể với mơi trường
xung quanh và nhờ đó con người có khả năng định hướng, thích nghi với
mơi trường xung quanh.
Cảm giác còn là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt
động của vỏ não, nhờ đó đảm bảo hoạt động tinh thần bình thường của
con người.
Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt
quan trọng đối với những người bị khuyết tật.
Lời kết
Do vốn kiến thức còn hạn hẹp cũng như thời gian thực hiện chủ đề
khá gấp rút nên không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong
nhận được sự góp ý từ cơ để chúng em có thể hồn thiện hơn bài nghiên
cứu này ạ.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
-Giáo trình Tâm lý học đại cương (NXB Đại học sư phạm)
-Tâm lý học đại cương (NXB Đại học quốc gia Hà Nội)
-Wikipedia: />
16