luận văn thạc sĩ giám sát của mặt trận tổ quốc việt nam từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------------

TRẦN THỊ PHƯƠNG HUYÊN

GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------------

TRẦN THỊ PHƯƠNG HUYÊN

GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chun Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG


phố Hồ Chí Minh............................................................................................ 32
2.3. Đánh giá chung về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.................................................................................. 49
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.................................................................... 58
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh...............................................58
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ
thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh................................................................... 62
KẾT LUẬN....................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vai trị giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các đồn thể chính trị - xã hội tại Việt Nam đã được Hiến pháp năm 2013 quy
định rõ ràng và minh bạch, đặc biệt đã được Đảng cụ thể hóa bằng trong
đường lối, chủ trương: “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đồn thể chính trị - xã hội” (Ban hành kèm theo
Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị) [9] và “Quy
định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và
nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” (Ban hành
kèm theo Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị)
[10], cùng với việc Quốc hội ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm
2015,... là những quy định rất quan trọng, mở ra một bước ngoặt lớn trong
nhận thức về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
hệ thống chính trị cũng như trong xã hội.
Hệ thống giám sát của nhân dân ở nước ta có nhiều chủ thể trong đó

Minh. Mặt khác, trong tình hình thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung,
dân chủ hiện nay, xuất phát từ nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh
là địi hỏi cấp bách và tất yếu. Trên cơ sở đó, các cấp chính quyền trên địa bàn
thành phố triển khai xây dựng nền hành chính của Thành phố trong sạch,
vững mạnh, tinh gọn, hiệu quả và thuận tiện tránh thực trạng mất dân chủ, cửa
quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu nhân dân của
một số cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước.
Những cơng trình khoa học về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà nghiên cứu thực
hiện nhưng đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào cụ thể về giám sát và
2


phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ
những căn cứ và lý do trên, tác giả chọn đề tài “Giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sỹ
Luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các cơng trình nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bắt đầu được
chú trọng kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991). Đáng chú ý
trong các đề tài nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc gần đây là đề tài KX.10.03:
“Mơ hình đổi mới,hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị giai đoạn 2010
-

2015” do Tiến sĩ Thang Văn Phúc (Bộ Nội Vụ) làm chủ nhiệm nghiệm thu

vào tháng 8/2009.
Những nghiên cứu sớm nhất là các tham luận tại Hội thảo về giám sát

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ
sau:
+

Nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, vai trò giám sát của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam
+

Phân tích, đánh giá cụ thể thực trạng hoạt động giám sát của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua; làm rõ
những hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết.
+ Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám
sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói
riêng, trên địa bàn các tỉnh, thành khác ở Việt Nam nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4


-

Phạm vi nội dung: Luận văn tìm hiểu các văn bản liên quan đến chủ

trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước về hoạt động
giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh.
Thực tiễn và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động giám sát của Ủy ban



Việt Nam; tăng cường hiệu lực, hiệu quả giám sát của nhân dân; khắc
phụcnhững hạn chế, bất cập trong hoạt động thực tiễn thời gian qua.
Đồng thời luận văn có thể dùng làm nguồn tài liệu tham khảo phục vụ
nghiên cứu, công tác giảng dạy, làm tài liệu cho cán bộ dân vận, cán bộ Mặt
trận và các đoàn thể trong việc thực hiện hoạt động giám sát xã hội; tổng kết
thực tiễn liên quan đến giám sát của nhân dân đối với hoạt động quản lý hành
chính nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam;
Chương 2: Thực trạng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh;
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG
GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
1.1. Đặc điểm, bản chất và vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam
1.1.1. Đặc điểm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trong hệ thống chính trị của nước ta có hai loại giám sát: giám sát
mang tính quyền lực – giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, đảng và

Theo khoản 1, điều 2 của Luật Giám sát của Quốc Hội và Hội đồng
nhân dân: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt
động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo
Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử
lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”.
Theo khoản 1, Điều 25, Luật Mặt trận Tổ quốc 2015 thì “Giám sát của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ
chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện
chính sách, pháp luật” [38].
1.1.3. Vai trị giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, nhân dân vừa có quyền giám sát
trực tiếp vừa giám sát thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cụ thể là các cơ
quan do Mặt trận Tổ quốc lập ra từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức
chính tri, tổ chức chính trị - xã hôi, các cá nhân tiêu biểu là thành viên của
Mặt trận Tổ quốc các cấp. Qua thực tiễn hoạt động, giám sát của Mặt trận Tổ
quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân được hiểu là việc xem xét,
phát hiện, kiến nghị với cơ quan tổ chức Đảng, Nhà nước có thẩm quyền xem
8


xét, xử lý đảm bảo quyền lợi của người dân được đảm bảo theo đúng chính
sách, pháp luật nhà nước.
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội
là một trong những hình thức của cơ chế kiểm soát quản lý nhà nước. Đó là
hoạt động theo dõi, quan sát, xem xét của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội nhằm tác động, định hướng các đối tượng bị giám sát thực
hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Khác với cơ chế
kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước, hậu quả pháp lý trong cơ chế

lao động. Thông qua giám sát của Mặt trận Tổ quốc giúp cho trật tự, kỷ cương
của cơ quan nhà nước được thiết lập và tuân thủ chặt chẽ theo pháp luật đồng
thời càng nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội...
1.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam
1.2.1. Chủ thể giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
* Về cơ cấu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận
được Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ thức liên minh chính trị, liên hiệp tự
nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và
các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở
chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện
xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp
phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [37].
10


Cơng đồn Việt Nam, Hội nơng dân Việt Nam, Đồn Thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt
Nam là các tổ thức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại
diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ
chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống
nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam [37].
* Về tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Theo quy định tại Điều 6, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam được tổ chức ở Trung ương và các đơn vị hành chính, Ủy

Mặt trận.
Là thành viên, Đảng tham gia Mặt trận như mọi thành viên khác. Đảng
thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ và các hoạt động của tổ chức mình trong
chương trình thống nhất hành động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng cấp. Đại diện cấp uỷ đảng trong Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc có trách
nhiệm tham gia sinh hoạt đầy đủ, thực hiện hiệp thương dân chủ và phối hợp
thống nhất hành động. Cấp uỷ đảng phải giáo dục, yêu cầu đảng viên của
mình gương mẫu thực hiện chương trình hành động chung đã được các tổ
chức thành viên thoả thuận và tích cực tham gia cơng tác Mặt trận.
-

Cơ quan nhà nước có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời những

kiến nghị của Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam theo quy định pháp luật. [45].
-

Quan hệ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc với Nhân dân: Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho
các tầng lớp Nhân dân, mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp đoàn
kết Nhân dân, động viên, hỗ trợ Nhân dân thực hiện dân chủ, quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nhân dân tham gia vào tổ
chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc thông qua các tổ chức thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cá nhân tiêu biểu là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc
các cấp…; tham gia ý kiến, phản ánh, kiến nghị với Mặt trận Tổ quốc những
vấn đề nhân dân quan tâm để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; giám
sát hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện đầy đủ quyền và trách
nhiệm theo quy định của pháp luật. (điều 8 – Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam) [45]
12

Hội đồng nhân dân tập trung giám sát cơ quan dân cử, cơ quan nhà nước,
13


cá nhân …Do đặc điểm tính chất của Mặt trận Tổ quốc là đại diện bảo vệ
quyền lợi hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị
xử lý sai phạm, khuyết điểm; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp
phần xây dựng đảng, xây dựng chính quyền nên đối tượng giám sát của Mặt
trận Tổ quốc đa dạng từ tổ chức chính trị đến các cơ quan lập pháp, hành
pháp, tư pháp, đại biểu dân cử, cán bộ công chức, viên chức, các doanh
nghiệp…nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực, sức
chiến đấu của đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền.
1.2.3. Nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Theo khoản 2, điều 5, Quyết định 217-QĐ/TW, nội dung giám sát là
việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) của cơ quan, tổ chức và cá
nhân.[9]
Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm
quyền, Đảng đưa ra những chủ trương, đường lối chung để định hướng đất
nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; giám sát người đứng đầu,
cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo
đức, lối sống góp phần xây dựng đảng, xây dựng chính quyền, những người
được nhân dân tin tưởng, giao phó việc thực hiện quyền lợi của mình. Trên cơ
sở định hướng của Đảng, Nhà nước cụ thể hóa việc quản lý xã hội bằng pháp
luật, giao quyền cho các cơ quan nhà nước tổ chức thực thi pháp luật. Do đó
nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc được bao trùm hơn từ việc hoạch
định đường lối, chính sách, việc thực thi pháp luật …. để đảm bảo quyền và
lợi ích chính đáng của Nhân dân được thực hiện đúng.
Khác với nội dung giám sát của Đảng, hay giám sát của cơ quan quyền
lực nhà nước (Quốc hội và hội đồng nhân dân). Giám sát của tổ chức đảng chỉ

Nghị định của Chính phủ; Quyết định hành chính; Các chương trình mục tiêu
15


quốc gia, chương trình kinh tế - xã hội, dự án, đề án của cơ quan nhà nước…
liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Tùy quy
mơ, tính chất của hoạt động giám sát, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam hoặc lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội có thể xây dựng kế
hoạch thực hiện.
Để bảo đảm hiệu quả giám sát văn bản, Ban thường trực Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam hoặc lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội phân cơng
các ban, đơn vị và cá nhân thuộc cơ quan, tổ chức mình thường xuyên theo
dõi, nghiên cứu, xem xét các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền cùng cấp
ban hành có nội dung liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của Nhân dân. Qua nghiên cứu, xem xét, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm
pháp luật, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân
dân, thì ban, đơn vị, cá nhân được phân cơng có trách nhiệm báo cáo, đề xuất
Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kiến nghị cơ quan chức
năng xem xét lại và có báo cáo trả lời cụ thể.
Trường hợp cơ quan, tổ chức ban hành văn bản được giám sát không trả
lời hoặc không đồng ý với nội dung văn bản kiến nghị, thì Ban thường trực
Ủy ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo tổ chức chính trị - xã hội chủ trì
giám sát gửi văn bản kiến nghị lên cấp trên trực tiếp của cơ quan ban hành
văn bản được giám sát đề nghị chỉ đạo việc xem xét, giải quyết. Trường hợp ý
kiến giữa cơ quan, tổ chức ban hành văn bản được giám sát và cơ quan chủ trì
giám sát khơng thống nhất, thì hai bên có thể tổ chức đối thoại để làm rõ.
(2) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát bằng hình thức tổ chức đồn
giám sát
Thơng qua dư luận xã hội, các ý kiến của Nhân dân, cử tri, thơng tin
báo chí và giám sát thường xuyên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức

trận Tổ quốc Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã
hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tại Thông tri hướng dẫn về tổ chức và
hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng
của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam [66].
Vai trò Ban Thanh tra nhân dân giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật,
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, việc thực hiện pháp luật
về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân, góp phần phát huy dân chủ,
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị. Ban Thanh tra nhân dân được
17


thành lập cấp xã, trong cơ quan, tổ chức; đây là đơn vị gần Nhân dân nhất nên
việc giám sát của Ban Thanh tra nhân dân sẽ góp phần phát huy dân chủ tại cơ
sở, tuy nhiên trong thực tế hoạt động giám sát Ban Thanh tra nhân dân rất hạn
chế do thanh viên Ban Thanh tra nhân dân số lượng có hạn là những cá nhân
ưu tú được giới thiệu nhưng chủ yếu là cán bộ hưu trí hoặc kiêm nhiệm, kinh
nghiệm và chuyên môn lĩnh vực giám sát còn hạn chế.
Ban giám sát đầu tư của cộng đồng do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp xã thành lập và hoạt động trên cơ sở Nghị định 84/2015/NĐ-CP chủ
yếu giám sát phát hiện những thiếu sót, sai phạm trong q trình đầu tư, thi
cơng cơng trình; vi phạm về tiến độ, kế hoạch đầu tư; vi phạm quy trình, kỹ
thuật, chủng loại vật liệu xây dựng … để kịp thời phản ánh với đơn vị chịu
trách nhiệm thi công để khắc phục
(4)

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị
-

theo quy định của pháp luật, việc điều chỉnh công tác này được luật hóa trong
các văn bản luật cũng như các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn các chủ thể
thực hiện giám sát triển khai theo đúng quy định nhằm đạt đến mục đích của
hoạt động giám sát này. Thông qua hệ thống văn bản quản lý, hoạt động giám
sát của Mặt trận tổ quốc phải thực hiện đúng quy trình giám sát theo hướng
dẫn và gắn với điều kiện cụ thể của địa phương. Mặt trận tổ quốc các cấp xây
dựng chương trình giám sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tiễn địa
phương, báo cáo cấp ủy để lãnh đạo, chỉ đạo, thống nhất với chính quyền
cùng cấp và thực hiện hàng năm… Ngược lại, hệ thống cơ chế, chính sách và
văn bản pháp lý về hoạt động giám sát mà chưa hoàn thiện hoặc còn chồng
chéo sẽ tạo ra những rào cản mang tính pháp lý trong q trình triển khai các
nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam liên quan đến cơng tác giám sát nói
chung và giám sát hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng.
Kế thừa Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định
trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đại diện, bảo vệ quyền và lợi
19


ích chính đáng của Nhân dân, giám sát và phản biện xã hội. Trong những năm
qua, các cấp Mặt trận từ trung ương đến cơ sở đã và đang thực hiện giám sát
hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên
chức trên cơ sở quy định của Hiến pháp và Luật Mặt trân Tổ quốc Việt Nam.
Triển khai cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và pháp luật, Chính
phủ đã kịp thời ban hành nhiều văn bản hướng dẫn hình thành các cơ chế,
chính sách để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ
chức xã hội khác hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đã được Hiến pháp,
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các luật có liên quan đã quy định. Trong 5
năm qua, Chính phủ đã ban hành 2 Nghị quyết liên tịch, 2 Quyết định, 6
Thông tư hướng dẫn... liên quan trực tiếp đến việc tổ chức và thực hiện các
nội dung, nhiệm vụ công tác của Mặt trận trong giai đoạn mới.

bản, có thái độ và nhận thức tốt về vai trị của công tác giám sát của Mặt trận
Tổ quốc đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước thì sẽ tạo ra những
tác động tích cực đến cơng tác giám sát. Trong quá trình giám sát Mặt trận Tổ
quốc đã phối hợp tốt với các tổ chức thành viên, các nhân sĩ trí thức, các cá
nhân tiêu biểu, các Hội đồng tư vấn để thực hiện công tác giám sát đạt hiệu
quả, công tác phối hợp tốt sẽ tạo động lực để hoạt động giám sát được triển
khai hiệu quả và nhanh chóng.
1.3.4. Yếu tố quản lý
Để hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được triển khai
hiệu quả theo đúng quy định của pháp luật thì cần một bộ máy quản lý tinh
gọn, hiệu quả với đội ngũ cán bộ đầy đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo
đức. Hiện nay, quy định về cơ cấu tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
được quy định tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Điều lệ tổ chức
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam … Công tác tổ chức cán bộ của
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đã và đang được Đảng và nhà
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status