Giám sát của mặt trận tổ quốc việt nam từ thực tiễn thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH HUY HIẾU

GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH
QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH HUY HIẾU

GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH
QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. BÙI XUÂN ĐỨC

HÀ NỘI, năm 2020


2.3. Hoạt động giám sát thông qua hoạt động giám sát của Ban thanh
tra nhân dân được thành lập ở các xã, phường và Ban giám sát đầu tư
cộng đồng
2.4. Hoạt động giám thơng qua việc tham gia với đồn giám sát của các
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
2.5. Đánh giá thực trạng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

2


CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của MTTQ Việt
Nam
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của MTTQ Việt Nam từ thực
tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT
1
2
3

tồn hệ thống chính trị. Nghị quyết đã chỉ rõ: "Một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả
một số cán bộ cao cấp, suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với
những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân
ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục
5


bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vơ ngun tắc...". "nếu không được sửa
chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của
chế độ". Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra trong giai đoạn hiện nay là cần phải
nghiên cứu lại hệ thống kiểm soát quyền lực, đề cao hơn nữa vai trị giám sát,
phản biện của nhân dân, trong đó đặc biệt thông qua “kênh” của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam các cấp. Để thực hiện vai trò “đối trọng” nhằm giới hạn
quyền lực, trách xu hướng lạm quyền, vi phạm dân chủ, từ yêu cầu đó, hỏi
Mặt trận Tổ quốc cần phải thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội
của mình theo quy định pháp luật.
Thời gian qua, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát
huy vai trò bảo đảm quyền làm chủ, quyền giám sát của MTTQ và các tổ chức
chính trị - xã hội đối với bộ máy nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
khẳng định: “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận
và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trị giám sát và
phản biện xã hội”. Nghị quyết Đại hội XI (năm 2011) của Đảng khẳng định:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đồn thể Chính trị - xã hội và nhân dân
thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội”. Năm 2013, Bộ Chính trị có
Quyết định 217 về ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đồn thể chính trị - xã hội; Quyết định 218QĐ/TW về ban hành Quy định việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồn thể
Chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính
quyền. Nghị quyết đại Đại hội XII (năm 2016) của Đảng ta khẳng định cần

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

7


Trong những năm qua, đã có nhiều bài viết nghiên cứu với các cách
nhìn khác nhau về nội dung và giải pháp nhằm nâng cao hoạt động giám sát
của MTTQ. Trong các cơng trình đó có thể nêu một số bài viết tiêu biểu như:
TS. Nguyễn Thọ Ánh (2012), “Thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã
hội của MTTQ Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; GS
Lưu Văn Đạt (2006) với các nội dung về hướng dẫn chức năng giám sát, phản
biện xã hội của MTTQ Việt Nam một cách khoa học và hiệu quả; “Tăng
cường hoạt động giám sát của MTTQ đối với hoạt động của cơ quan nhà
nước, cán bộ công chức”; Tác giả Trần Ngọc Nhẫn với bài “Một số đề xuất
về giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị xã
hội và nhân dân”, Tạp chí Mặt trận số 56 băm 2008; Lê Thị Kim Ngân (2012)
Luận văn Thạc sĩ luật học, “Vai trò giám sát của MTTQ Việt Nam đối với bộ
máy nhà nước”…
Các cơng trình trên đã nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về hoạt
động giám sát, với các khía cạnh, phạm vi khác nhau, nhưng với chủ đề giám
sát của MTTQ Việt Nam thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam thì có rất ít
cơng trình nghiên cứu đã đề cập. Vì vậy, chủ để của luận văn cịn có mục đích
góp phần khắc phục các khoảng trống, nhằm hồn chỉnh hơn hoạt động giám
sát của MTTQ Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ nói riêng và
hoạt động nghiên cứu về một trong các vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý
hiện nay nói chung.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của đề tài là xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của MTTQ thành phố Tam Kỳ,

-

Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát

của MTTQ Việt Nam thành phố Tam Kỳ giai đoạn 2015 đến năm 2019.
9


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận vận dụng quan điểm của
Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ
trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực thi quyền lực của nhân dân, về
vai trò “làm chủ” của nhân dân.
Các văn bản quy định, hướng dẫn của Đảng như Quyết định 217, Hiến
pháp năm 2013, Luật MTTQ Việt Nam năm 2015, các quy định của nhà nước
về hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; Về vai trò của
MTTQ, các tổ chức CT-XH và nhân dân trong hoạt động giám sát, tham gia
xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm: phương
pháp tổng hợp, phân tích, như việc tổng hợp phân tích các báo cáo định lượng,
định tính từ thực tiễn cơng tác giám sát của Mặt trận thành phố Tam Kỳ trong
thời gian qua để làm rõ một số nội dung, vấn đề; Phương pháp so sách, hệ
thống xã hội học pháp luật, kết hợp lý luận với thực tiễn để giải quyết các vấn
đề đặt ra…
6.
-

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc nâng cao nhận


Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám

sát của MTTQ Việt Nam từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

11


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, đặc điểm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1.1.1. Khái niệm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, gồm
thể chế pháp lý và các thiết chế có mối quan hệ tác động qua lại, vận động
nhịp nhàng, ăn khớp cùng hướng đến việc mục tiêu của hoạt động kiểm soát
quản lý nhà nước, bảo đảm quản lý nhà nước được sử dụng đúng và hiệu quả.
Hiện nay, kiểm soát quản lý nhà nước ở nước ta được thực hiện thông qua hai
cơ chế là cơ chế kiểm soát quản lý nhà nước giữa các cơ quan nhà nước (các
cơ quan nhà nước vận hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình tự kiểm
sốt lẫn nhau: cơ quan thực hiện quyền lập pháp - Quốc hội, cơ quan thực
hiện quyền hành pháp - Chính phủ, cơ quan thực hiện quyền tư pháp - Tòa án
nhân dân) được gọi là cơ chế kiểm soát quản lý nhà nước bên trong bộ máy
nhà nước và cơ chế kiểm sốt quản lý nhà nước bên ngồi nhà nước. Cơ chế
kiểm sốt quản lý nhà nước bên ngồi bao gồm giám sát của Đảng cầm
quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và
giám sát trực tiếp của các cá nhân.
Hoạt động giám sát của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội là một
trong những hình thức của cơ chế kiểm soát quản lý nhà nước, tổ chức, đại

MTTQ Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị của các đồn thể nhân dân và
cá nhân tiêu biểu của các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tơn giáo,
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. MTTQ Việt Nam hoạt động theo
nguyên tắc hiệp thương dân chủ, phối hợp thống nhất hành động giữa Mặt

13


trận và các thành viên theo chương trình hành động chung được thống nhất ký
kết. MTTQ Việt Nam giữ vai trò nòng cốt của xã hội, đại diện cho quyền và
lợi ích của nhân dân.
Với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và phương
thức hoạt động của MTTQ Việt Nam, có thể khẳng định MTTQ Việt Nam là
tổ chức phù hợp nhất để thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt
động của các cơ quan nhà nước theo Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 quy
định.
Đặc điểm hoạt động giám sát của MTTQ theo Điều 25 Luật MTTQ
Việt Nam 2015 quy định: Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính
xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân,
kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa
đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới,
các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của
Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Nguyên tắc hoạt động giám sát của MTTQ theo Điều 25 Luật MTTQ
Việt Nam 2015 quy định: Hoạt động giám sát được thực hiện theo nguyên tắc
bảo đảm phát huy dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân;
thực hiện công khai, minh bạch, không chồng chéo; không làm cản trở hoạt
động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát.
1.2. Các yếu tố cấu thành giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

bãi nhiệm, nếu MTTQ đề nghị thì thường trực HĐND và UBND quyết định
việc đưa ra HĐND hoặc cử tri bãi nhiệm tư cách đại biểu HĐND của đại biểu
đó.

15


1.2.1.2. Giám sát Uỷ ban nhân dân và hoạt động hành chính
UBND và Ủy ban MTTQ Việt Nam phối hợp để thực hiện mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ quốc phòng an ninh của địa phương và xây
dựng "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân". UBND phối hợp chặt chẽ với Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ
chức thành viên của Mặt trận chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận
động nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ
đối với nhà nước; vận động Nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tôn trọng và giải quyết kịp thời những ý
kiến chính đáng của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi để Ủy ban MTTQ Việt
Nam và các tổ chức thành viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
UBND và Ủy ban MTTQ thường xuyên trao đổi thơng tin về những vấn đề có
liên quan để đảm bảo hiệu quả phối hợp công tác. UBND gửi Ủy ban MTTQ
Việt Nam các báo cáo định kỳ về tình hình kinh tế - xã hội và sự chỉ đạo, điều
hành của UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam gửi UBND các báo cáo định kỳ về
tình hình thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Ủy
ban MTTQ Việt Nam.
Trong quá trình tham gia giám sát của MTTQ nếu phát hiện có biểu
hiện vi phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước thuộc thẩm quyền
quản lý của UBND, các sở, ban, ngành, cơ quan thuộc UBND thì MTTQ kiến
nghị bằng văn bản với các cơ quan đó. Khi nhận được kiến nghị, cơ quan Nhà
nước có trách nhiệm xem xét và trả lời kiến nghị của Ủy ban MTTQ Việt
Nam theo luật định.

mục tiêu là làm rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong công
tác phối hợp, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân

17


dân, giúp cho Hội thẩm nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm, gương mẫu
chấp hành mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước.
Cơng tác phối hợp giữa UBMTTQ Việt Nam và Viện kiểm sát nhân dân
là rất cần thiết và quan trọng. Thông qua phối hợp, UBMTTQ Việt Nam các
cấp có điều kiện nắm rõ hơn vai trị, chức năng, nhiệm vụ của VKSND, qua
đó tạo điều kiện thuận lợi để ngành Kiểm sát thực hiện tốt hơn nữa chức năng,
nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Qua việc phối hợp với Mặt trận Tổ
Quốc Việt Nam, hoạt động của ngành Kiểm sát thể hiện rõ được tính cơng
khai, minh bạch, mặt khác Viện kiểm sát nhân dân cũng tranh thủ được sự
đồng tình, ủng hộ của khối đại đoàn kết toàn dân trong công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả đấu
tranh phịng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của cơng dân.
Trong lĩnh vực kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, VKSND các cấp đã
phối hợp chặt chẽ với UBMTTQ Việt Nam cùng cấp kiểm tra, giám sát toàn
diện nhà tạm giữ, trại tạm giam định kỳ mỗi năm từ 1 đến 2 lần. Trước mỗi
cuộc kiểm sát, VKS đều thông báo trước và gửi kế hoạch cho Ban thường trực
UBMTTQ Việt Nam cùng cấp để cử đại diện tham gia giám sát. Qua giám sát,
khi phát hiện nhà tạm giữ, trại tạm giam có vi phạm, VKS đều đã thống nhất
với UBMTTQ Việt Nam ban hành kiến, kháng nghị trong kết luận với trại tạm
giam, nhà tạm giữ, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, để thực hiện tốt
hơn công tác quản lý, thực hiện đầy đủ chế độ đối với can phạm, chống đầu
gấu trong buồng giam.... Qua giám sát, VKSND và MTTQ Việt
Nam đã kiến nghị với HĐND-UBND tỉnh tăng cường, quan tâm đến cơ sở vật

phong trào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; phong trào thi đua Dân vận

19


khéo. Tập trung làm tốt dân chủ trong việc sáp nhập thôn, khối phố. Tổ chức
thực hiện tốt những việc công khai để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân quyết định và nhân dân giám sát; công khai kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, các chương trình dự án, quy hoạch đất, khu, cụm cơng nghiệp, dân
cư, mức giá bồi thường thu hồi đất của nhân dân, chủ trương vay vốn phát
triển sản xuất, các quy định về thủ tục hành chính, các dự án công khai xin ý
kiến dân trước khi thực hiện… Việc thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt
động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập theo
Nghị định 04/2015/NĐ-CP được các cơ quan, đơn vị quan tâm; đều thành lập
Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế cơ sở ở cơ sở và Ban thanh tra nhân dân và bổ
sung, quy chế hoạt động, như: Quy chế cơng khai tài chính, quy chế chi tiêu
nội bộ, quy chế tuyển dụng...; triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 26/TTg
của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong
các cơ quan đơn vị; tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức.
Cơng tác giám sát của MTTQ đã góp phần thực hiện nghiêm, hiệu quả
Quy chế dân chủ ở cơ sở, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp
cũng đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương, triển khai
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với thực hiện giám sát, phản biện xã
hội theo các quyết định số 217, 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính
trị (khóa XI). Đồng thời, tích cực triển khai thực hiện các cuộc vận động,
phong trào thi đua yêu nước; tham gia tiếp công dân định kỳ tại trụ sở tiếp
công dân; lắng nghe, tập hợp các ý kiến, kiến nghị của đoàn viên, hội viên và
cử tri để phản ánh với các cơ quan chức năng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của hội viên, đồn viên.
1.2.1.5. Giám sát cán bộ, công chức, đảng viên


21


nhiều văn bản để triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo vị trí, vai trị của
mình, như Chương trình hành động số 19/CTr-MTTW, ngày 19/01/2017, của
Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng,
chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ;
Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam thực hiện cơng tác phịng,
chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2018 - 2020 (Ban hành kèm theo Nghị
quyết số 24/NQ-MTTW-UB, ngày 22/01/2018, của Ủy ban Trung ương
MTTQVN).
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQVN chủ trì phối hợp với
các tổ chức chính trị - xã hội ban hành Chương trình phối hợp số 30/CTPTMTTW-TCTV, ngày 30/10/2018, về việc phối hợp giám sát, phản biện xã hội
của MTTQ Việt Nam và các đồn thể chính trị - xã hội và nhân dân theo Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, trong đó tập trung vào nội dung triển
khai thực hiện các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về giám sát và phản
biện xã hội của MTTQ Việt Nam, các đồn thể chính trị - xã hội và nhân dân
tham gia xây dựng, giám sát đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Ban Thường
trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam ban hành Kế hoạch số 537/KHMTTW-BTT, ngày 18/4/2018, về thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày
3/10/2017, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về “Hướng dẫn khung để các
cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân
dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ và Quy định số 124-QĐ/TW, ngày 02/02/2018, của
Ban Bí thư Trung ương Đảng, về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo
đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”.
22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status