VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH TẤN LONG
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH TẤN LONG
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của bản thân với sự hướng dẫn tận tình
của PGS.TS Hồ Sỹ Sơn- người hướng dẫn khoa học. Các số liệu, kết quả, trích dẫn
nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận khoa học
của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào. Tôi xin chịu trách
nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn
Đinh Tấn Long
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT .........8
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng hình phạt ......................................8
1.2. Chủ thể, nội dung và hình thức của áp dụng hình phạt ......................................15
1.3. Các nhân tố xã hội tác động đến áp dụng hình phạt ..........................................23
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TẠI THÀNH PHỐ
TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM TỪ NĂM 2012 ĐẾN NĂM 2016 ....................28
2.1. Khái quát thực trạng áp dụng hình phạt tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam ...........................................................................................................................28
2.2. Thực trạng áp dụng hình phạt chính ..................................................................30
2.3. Thực trạng áp dụng hình phạt bổ sung ...............................................................44
2.4. Thực trạng miễn hình phạt .................................................................................46
2.5. Thực trạng áp dụng án treo ................................................................................46
2.6. Những khó khăn, vi phạm, sai lầm và nguyên nhân ..........................................48
CHƯƠNG 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG
ĐÚNG HÌNH PHẠT ...............................................................................................59
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng hình phạt ...................................................59
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt ................................................67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
2.1.
Kết quả áp dụng hình phạt
29
2.2.
Kết quả áp dụng hình phạt chính
30
2.3.
Kết quả quyết định hình phạt theo khoản cơ bản
41
2.10.
Kết quả áp dụng hình phạt bổ sung
44
2.11.
Kết quả áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo
46
2.12.
Kết quả xét xử phúc thẩm
48
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ, trật tự xã hội, Nhà nước ta dùng
nhiều biện pháp vừa có tính thuyết phục, vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh với
những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho
xã hội mà nhà nước sử dụng những biện pháp tương ứng như biện pháp dân sự, biện
pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự. Từ khi giành được chính quyền về tay
nhân dân đến nay, căn cứ vào từng thời kỳ của cách mạng, Nhà nước ta có chính
đúng các quy định của pháp luật, mức hình phạt được áp dụng cho từng bị cáo phù
hợp với từng tính chất, hành vi phạm tội và hậu quả gây ra, đã thể hiện được sự
nghiêm minh, công bằng của pháp luật, đặc biệt đã tăng cường tính giáo dục người
phạm tội, phòng ngừa chung cho xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an
ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động áp dụng hình phạt trong xét
xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND thành phố Tam Kỳ vẫn còn những tồn tại,
hạn chế, đó là: Áp dụng loại hình phạt chưa phù hợp với tính chất, mức độ, nhân
thân của người phạm tội; Áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự không đúng dẫn đến áp dụng loại hình phạt không phù hợp hoặc xử quá nhẹ
hay quá nặng; Cho hưởng án treo không phù hợp hoặc không đủ điều kiện; xử dưới
khung hình phạt không đúng quy định của pháp luật; quyết định hình phạt đối với
người chưa đủ 18 tuổi phạm tội không đúng; quyết định hình phạt bổ sung còn tùy
tiện, chưa phù hợp với thực tế…
Nghiên cứu thực tiễn xét xử tại thành phố Tam Kỳ trong những năm qua cho
thấy số vụ án bị sửa, bị hủy do áp dụng hình phạt sai vẫn còn. Việc áp dụng hình
phạt không chính xác có cả ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm. Thực trạng này không hẳn do
một số thành viên của HĐXX chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác xét
xử, chưa tích cực học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà một phần
là do hoạt động áp dụng hình phạt phức tạp, một phần phụ thuộc vào cách đánh giá
tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng HĐXX trong từng vụ án để lựa
chọn hình phạt áp dụng.
2
Khi áp dụng hình phạt, ngoài việc xác định đúng tội danh; đúng tính chất,
mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, giữa Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không
phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác, thống nhất với nhau. Nhiều vướng mắc
trong việc áp dụng pháp luật hình sự chưa được nhận thức thống nhất dẫn đến việc
- Luận án tiến sỹ của Trịnh Quốc Toản: “Các hình phạt bổ sung trong Luật
hình sự Việt Nam’’, năm 2010.
- PGS,TS Nguyễn Như Phát với bài: “Một số ý kiến về cải cách tư pháp ở
Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03/2004.
- Bài viết của tác giả Lưu Tiến Dũng: “Bàn về áp dụng pháp luật trong công
tác xét xử’’, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 05/2005.
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Mạnh Toàn: “Áp dụng hình phạt
trong hoạt động xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên”,
năm 2008.
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Hoàng Văn Huyền: “Áp dụng hình phạt theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang”, năm
2016.
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Vũ Quang Chung: “Áp dụng hình phạt theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”, năm 2016.
Những công trình khoa học và bài viết nói trên đã gợi mở cho tác giả nhiều ý
tưởng khoa học, là những tài liệu bổ ích và có giá trị sử dụng trong quá trình nghiên
cứu. Trong các công trình nghiên cứu trên đây, các tác giả đã nêu ra khái niệm, đặc
điểm và ý nghĩa; chủ thể, nội dung và hình thức của áp dụng hình phạt. Những công
trình nói trên đã ít nhiều đề cập đến việc áp dụng pháp luật trong xét xử nói chung
và áp dụng hình phạt trong xét xử nói riêng theo pháp luật hình sự Việt Nam và đề
xuất những giải pháp khoa học nhằm bảo đảm áp dụng đúng hình phạt. Từ thực tiễn
đa dạng của hoạt động xét xử cho thấy thực tiễn xét xử có vai trò quan trọng trong
việc nghiên cứu kết hợp giữa lý luận luật hình sự và thực tiễn xét xử để việc áp
dụng hình phạt theo luật hình sự được đảm bảo đúng và thống nhất. Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu độc lập đề cập đến những đặc thù trong tổ chức và
hoạt động áp dụng hình phạt của một cơ quan Tòa án cấp huyện cụ thể thì không
4
nhiều, nên việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của tác giả là cần thiết.
sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong 5
năm gần đây (từ năm 2012 đến năm 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Tác giả luận văn lấy phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử của
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước về bảo vệ quyền con người, về tội phạm, về hình phạt, về phòng chống
tội phạm… làm phương pháp luận nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tác giả còn sử dụng một trong tổng thể các phương
pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu án điển
hình,.v.v...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về áp dụng hình
phạt thông qua thực tiễn xét xử ở địa bàn cấp huyện- thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam, vì vậy góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về áp dụng hình phạt
trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, nâng cao nhận thức của những người trực
tiếp làm công tác xét xử của TAND. Kết quả nghiên cứu của luận văn làm phong
phú thêm cơ sở khoa học về áp dụng hình phạt trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự, đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp, đáp ứng đòi hỏi xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ lý luận của tác
giả để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác; là tài liệu tham khảo có giá trị
nhất định trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn luật hình sự và tố tụng hình sự;
tạo cơ sở cho việc thống nhất trong nhận thức về áp dụng pháp luật để giải quyết
các vụ án hình sự đạt hiệu quả, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật
thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể
pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy
định của pháp luật ra các quyết định áp dụng trong những trường hợp cụ thể của đời
sống xã hội [7, tr. 500].
Dưới góc độ lý luận chung về áp dụng pháp luật, áp dụng hình phạt là một
hình thức thực hiện pháp luật, là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, được
thể hiện ở chỗ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo quy định của
pháp luật và người thực hiện là những người thuộc các cơ quan nhà nước đó. Việc
áp dụng pháp luật và ra văn bản áp dụng pháp luật phải hoàn toàn theo quy định của
pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể áp dụng pháp
luật.
Việc xét xử các vụ án nói chung và các vụ án hình sự nói riêng phải được
tiến hành tuân thủ các trình tự, thủ tục như thụ lý hồ sơ; áp dụng, thay đổi hoặc hủy
8
bỏ biện pháp ngăn chặn; nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị xét xử; quyết định đưa vụ án
ra xét xử; giao các quyết định của Tòa án; triệu tập những người tham gia tố tụng
đến phiên tòa; tổ chức mở phiên tòa; điều khiển việc xét hỏi, tranh luận tại phiên
tòa; tiến hành nghị án và ra quyết định, bản án của Tòa án theo quy định của pháp
luật. Quá trình xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng hình sự: Nguyên tắc
khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc xét xử công
khai; nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số v.v…Chỉ có thông qua hoạt
động xét xử, Tòa án mới thực hiện hoạt động áp dụng hình phạt, đưa ra những bản
án, quyết định tuyên bố một người có tội hoặc không có tội và áp dụng biện pháp
trừng trị hay khôi phục quyền lợi cho họ theo quy định của pháp luật. Đồng thời bảo
vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của Nhà nước, lợi ích của cá nhân và các tổ chức
theo quy định của pháp luật. Thông qua các thủ tục tố tụng do pháp luật quy định,
căn cứ vào các quy định của pháp luật, Tòa án nhân danh Nhà nước ra bản án để
nước trao quyền tuân thủ những quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố
tụng hình sự để xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá
trình điều tra, truy tố và xét xử nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án; trên
cơ sở đó lựa chọn loại hình phạt, lựa chọn mức hình phạt được quy định trong
BLHS để áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội sao cho phù hợp
và tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và
các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
1.1.2. Đặc điểm của áp dụng hình phạt
Áp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự là một hoạt động áp dụng
pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự. Hoạt động áp dụng hình phạt trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, áp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự là hoạt động
nhân danh quyền lực Nhà nước do TAND tiến hành mà trực tiếp là HĐXX.
Tính chất quyền lực Nhà nước trong áp dụng hình phạt của Tòa án trước hết
được thể hiện ở ý chí đơn phương của chủ thể áp dụng hình phạt. Chủ thể áp dụng
hình phạt trong trường hợp này là TAND, cơ quan được thành lập theo quy định của
Hiến pháp, hoạt động mang tính đặc thù theo một trình tự pháp lý chặt chẽ. Tòa án
10
thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc tổ chức các hoạt động giải quyết án
hình sự. Chủ thể áp dụng hình phạt trong hoạt động giải quyết án hình sự là Chánh
án, Phó Chánh án, Thẩm phán và HĐXX. BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân trong quá trình xét xử vụ án hình sự. Trong đó, có thể thấy chủ thể
trực tiếp áp dụng pháp luật là HĐXX đối với vụ án thông thường hoặc Thẩm phán
đối với vụ án theo thủ tục rút gọn trong quá trình được phân công xét xử một vụ án.
Hình phạt chỉ do Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định trong phiên tòa xét
xử với đầy đủ thành phần của HĐXX bằng việc tuyên một bản án cụ thể, còn các
biện pháp cưỡng chế khác do các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội hay người
Thứ ba, hoạt động áp dụng hình phạt trong quá trình xét xử các vụ án hình sự
của Tòa án được tiến hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ.
Hoạt động áp dụng hình phạt có vai trò quan trọng và phức tạp, vì vậy pháp
luật hình sự, tố tụng hình sự đã quy định rất chặt chẽ việc áp dụng hình phạt luôn
phải xác định rõ cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể trong quá trình áp dụng hình phạt để tránh, hạn chế, loại bỏ việc áp dụng hình
phạt một cách tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng hình phạt không đúng, không
chính xác, không khách quan, công bằng, dân chủ gây thiệt hại cho đối tượng bị áp
dụng hình phạt.
Xét xử là chức năng của TAND, hoạt động xét xử theo quy định tại BLTTHS
bao gồm giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa hình sự. Nếu Tòa án vi phạm các
thủ tục xét xử do pháp luật quy định thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng, văn bản áp dụng pháp luật do Tòa án ban hành sẽ không được công nhận và sẽ
bị Tòa án cấp trên hủy bỏ.
Trong quá trình áp dụng hình phạt, Tòa án phải tuân thủ triệt để các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật hình sự. Việc áp dụng đúng các quy định
của pháp luật giúp cho các quyền và nghĩa vụ của công dân được bảo đảm thực hiện
một cách nghiêm chỉnh; các bước tiến hành tố tụng được chính xác, khách quan; các
bản án, quyết định áp dụng hình phạt của Tòa án bảo đảm đúng pháp luật.
Thứ tư, kết quả áp dụng hình phạt khi đã có hiệu lực pháp luật, có tính bắt
buộc thực hiện, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
12
Điều 28 BLTTHH năm 2015 quy định về bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án: “1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải
được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải
nghiêm chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan,
toàn xã hội; giữ gìn sự nghiêm minh của pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Những hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến các quan hệ xã hội mà pháp luật
bảo vệ đều được xem xét, xử lý nghiêm minh, kịp thời thông qua hoạt động xét xử
của Tòa án bằng một bản án kết tội và mức hình phạt tương xứng.
Như vậy, áp dụng hình phạt của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xử
lý người phạm tội. Tòa án là cơ quan trực tiếp nhân danh Nhà nước xử lý người
phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm pháp lý bằng một bản án quy kết tội danh
và quyết định hình phạt buộc người phạm tội phải chấp hành. Ngoài ra, áp dụng
hình phạt trong hoạt động xét xử hình sự của Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức pháp luật
trong nhân dân.
Áp dụng hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản, một nội dung đặc
biệt quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự. Áp dụng hình phạt có ý
nghĩa vô cùng to lớn, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ
khởi tố, điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên tòa) sẽ không có nhiều ý
nghĩa nếu Tòa án không làm tốt việc áp dụng hình phạt. Áp dụng hình phạt đúng
pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải
tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng). Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ
làm giảm ý nghĩa phòng ngừa của hình phạt, bởi nó có thể làm phát sinh ý định
phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật. Nhưng hình phạt quá
nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ
oán hận, không tin tưởng pháp luật. Hình phạt có đạt được mục đích hay không và
đến mức độ nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, hai yếu tố quan trọng nhất là
yếu tố lập pháp và áp dụng pháp luật (về hình phạt và áp dụng hình phạt). Yếu tố áp
dụng pháp luật chịu sự ràng buộc của yếu tố lập pháp, ngược lại, yếu tố áp dụng
14
pháp luật cũng có vai trò rất quan trọng, bởi vì chỉ trên cơ sở nhận thức và vận dụng
đúng pháp luật cho từng trường hợp phạm tội cụ thể thì Tòa án mới có thể tuyên
pháp, hoạt động mang tính đặc thù theo một trình tự pháp lý chặt chẽ. Tòa án thực
hiện quyền lực Nhà nước thông qua việc tổ chức xét xử các vụ án hình sự.
Hoạt động áp dụng hình phạt của Tòa án là giai đoạn tố tụng độc lập, khi xét
xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Căn cứ vào
các chứng cứ tài liệu mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thu thập được và kết
quả thẩm tra công khai tại phiên tòa để chủ thể áp dụng hình phạt ra một bản án áp
dụng hình phạt chính xác, khách quan, đúng pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của Nhà nước, của công dân.
1.2.2. Nội dung của áp dụng hình phạt
Áp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự của TAND là quá trình cá
biệt hóa các quy phạm pháp luật hình sự đối với hành vi phạm tội. Quá trình đó bao
gồm những nội dung chính là quyết định hình phạt (quyết định hình phạt chính,
hình phạt bổ sung), tổng hợp hình phạt (đối với trường hợp người bị kết án phạm
nhiều tội), miễn hình phạt, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, áp dụng hình
phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt bị truy tố, xét xử, áp dụng hình phạt đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội.
* Về nội dung quyết định hình phạt: Trong một vụ án cụ thể, chủ thể áp dụng
hình phạt quyết định hình phạt đối với người phạm tội gồm có hình phạt chính và
hình phạt bổ sung. Quyết định hình phạt là quá trình sử dụng kết quả điều tra, kết
quả buộc tội, kết quả thẩm vấn, tranh luận. Là quá trình đối chiếu các tình tiết của
một vụ án hình sự cụ thể với các dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể gắn liền với
việc đánh giá con người cụ thể đã thực hiện tội phạm để xác định một loại và một
mức hình phạt tối ưu nhất trong việc cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt do Tòa án quyết định tùy thuộc vào tính chất cụ thể của vụ án và đảm bảo
đúng pháp luật, công bằng và cá thể hóa. Điều 30 BLHS năm 2015 quy định “Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong
Bộ luật này, do Tòa án quyết định…”. Quy định này xác định rõ việc quyết định
hình phạt là thẩm quyền của Tòa án, chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh
Nước cộng hòa XHCN Việt Nam có quyền tuyên một hình phạt đối với bị cáo. Về
16
thể Tòa án không áp dụng hình phạt chính nào, dù rằng thuộc danh mục các hình
17
phạt chính, nhưng không được quy định trong điều luật mà người đó thực hiện (trừ
trường hợp chuyển sang một hình phạt khác nhẹ hơn theo quy định tại Điều 54
BLHS năm 2015).
Đối với việc quyết định hình phạt bổ sung, khoản 2 Điều 32 BLHS năm 2015
quy định hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân;
Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; Trục xuất, khi
không áp dụng là hình phạt chính. Về nguyên tắc áp dụng hình phạt bổ sung, khoản
3 Điều 32 BLHS năm 2015 quy định như sau: “Đối với mỗi tội phạm, người phạm
tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình
phạt bổ sung”.
Ở phần các tội phạm của BLHS, hình phạt bổ sung được quy định với hai
cách; 1) Bắt buộc phải áp dụng; và 2) Tùy nghi. Trong trường hợp đối với tội phạm
mà bị cáo đã thực hiện có quy định hình phạt bổ sung là tùy nghi, thì Tòa án có
quyền căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án mà quyết định hình phạt bổ sung đối
với họ. Trong trường hợp đối với tội phạm mà bị cáo đã thực hiện không quy định
hình phạt bổ sung, thì Tòa án không được áp dụng hình phạt bổ sung đối với họ [42,
tr.354].
* Về nội dung tổng hợp hình phạt: Đối với việc quyết định hình phạt trong
trường hợp phạm nhiều tội, Điều 55 BLHS năm 2015 quy định: “Khi xét xử cùng 01
lần một người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng
hợp hình phạt theo quy định sau đây…’’
Theo đó, Điều 55 BLHS năm 2015 xác định yêu cầu cơ bản của việc quyết
định hình phạt trong trường hợp bị cáo phạm nhiều tội là “Tòa án quyết định hình
phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt”. Đồng thời, khoản 1 và khoản 2
của điều luật trên xác định phương pháp tổng hợp hình phạt đối với hình phạt chính,