MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ, trật tự xã hội, Nhà
nước ta dùng nhiều biện pháp vừa có tính thuyết phục, vừa có tính
cưỡng chế để đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật và tội
phạm. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội mà nhà nước sử
dụng những biện pháp tương ứng như biện pháp dân sự, biện pháp
hành chính hoặc biện pháp hình sự. Từ khi giành được chính quyền
về tay nhân dân đến nay, căn cứ vào từng thời kỳ của cách mạng,
Nhà nước ta có chính sách hình sự tương ứng thông qua việc quy
định những hình phạt tương ứng bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu
tranh phòng và chống tội phạm [25, tr.1]. Hình phạt là chế định quan
trọng của Luật hình sự. Hình phạt là trách nhiệm pháp lý mà người
phạm tội phải gánh chịu đối với những hành vi phạm tội, tương xứng
với tính chất, mức độ và hậu quả tội phạm mà mình gây ra, thể hiện
sự lên án và trừng trị của Nhà nước đối với người phạm tội.
Hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND là một giai
đoạn trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Khác với hoạt động xét
xử các loại án khác như án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, xét
xử hình sự của Tòa án là một giai đoạn chuyển tiếp sau các giai đoạn
điều tra, truy tố. Hoạt động áp dụng hình phạt được thực hiện trong
giai đoạn xét xử, được thực hiện để quyết định những chế tài hình sự
mà người phạm tội phải gánh chịu. Áp dụng hình phạt đúng đắn góp
phần xây dựng nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân,
cần phải xây dựng Tòa án thực sự là cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công
dân trước nguy cơ bị xâm hại trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức,
cũng như từ chính các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần duy trì trật
tự xã hội và tạo môi trường ổn định, lành mạnh, thuận lợi cho cuộc
1
2
Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của
hoạt động áp dụng hình phạt có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động
áp dụng và xây dựng pháp luật. Một mặt, góp phần làm phong phú và
hoàn thiện lý luận về áp dụng hình phạt, mặt khác góp phần nâng cao
hiệu quả của hoạt động áp dụng hình phạt trong thực tiễn xét xử,
hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt
cũng như hướng dẫn áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự. Mặc dù đề tài áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự
Việt Nam đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhưng chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về đề tài này
gắn với thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Chính vì thế
tác giả đã chọn đề tài: “Áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” làm đề
tài Luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do việc áp dụng hình phạt có tầm quan trọng như vậy nên từ
lâu, vấn đề này đã được các nhà luật học quan tâm nghiên cứu. Trong
các công trình nghiên cứu của mình, ở các mức độ khác nhau, các tác
giả đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề áp dụng hình phạt.
Những công trình khoa học và bài viết đã gợi mở cho tác giả
nhiều ý tưởng khoa học, là những tài liệu bổ ích và có giá trị sử dụng
trong quá trình nghiên cứu. Trong các công trình nghiên cứu trên
đây, các tác giả đã nêu ra khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa; chủ thể,
nội dung và hình thức của áp dụng hình phạt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ, phân tích
những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt, thực tiễn áp dụng hình
các vụ án hình sự của TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
trong 5 năm gần đây (từ năm 2012 đến năm 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Tác giả luận văn lấy phép duy vật
4
biện chứng và phép duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về
bảo vệ quyền con người, về tội phạm, về hình phạt, về phòng chống
tội phạm… làm phương pháp luận nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành đề tài, tác giả
còn sử dụng một trong tổng thể các phương pháp nghiên cứu: phương
pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương
pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu án
điển hình,.v.v...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ
thống và toàn diện về áp dụng hình phạt thông qua thực tiễn xét xử ở
địa bàn cấp huyện- thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, vì vậy góp
phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về áp dụng hình phạt trong xét
xử sơ thẩm các vụ án hình sự, nâng cao nhận thức của những người
trực tiếp làm công tác xét xử của TAND. Kết quả nghiên cứu của
luận văn làm phong phú thêm cơ sở khoa học về áp dụng hình phạt
trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu của tiến
trình cải cách tư pháp, đáp ứng đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa quan trọng
trong việc nâng cao trình độ lý luận của tác giả để áp dụng có hiệu
quả trong thực tiễn công tác; là tài liệu tham khảo có giá trị nhất định
mại phạm tội.
1.1.2. Đặc điểm của áp dụng hình phạt
Thứ nhất, áp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự là
hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước do TAND tiến hành mà
trực tiếp là HĐXX.
Thứ hai, hoạt động áp dụng hình phạt được thực hiện duy
nhất tại phiên tòa thông qua việc xem xét, đánh giá chứng cứ thu thập
được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một cách khách quan,
6
toàn diện và đầy đủ để đưa ra chế tài hình sự đối với bị cáo.
Thứ ba, hoạt động áp dụng hình phạt trong quá trình xét xử
các vụ án hình sự của Tòa án được tiến hành theo một thủ tục tố tụng
chặt chẽ.
Thứ tư, kết quả áp dụng hình phạt khi đã có hiệu lực pháp
luật, có tính bắt buộc thực hiện, được bảo đảm thực hiện bằng sức
mạnh cưỡng chế nhà nước.
1.1.3. Ý nghĩa của áp dụng hình phạt
Áp dụng hình phạt của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong
việc xử lý người phạm tội. Tòa án là cơ quan trực tiếp nhân danh Nhà
nước xử lý người phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm pháp lý
bằng một bản án quy kết tội danh và quyết định hình phạt buộc người
phạm tội phải chấp hành. Ngoài ra, áp dụng hình phạt trong hoạt
động xét xử hình sự của Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức
pháp luật trong nhân dân.
1.2. Chủ thể, nội dung và hình thức của áp dụng hình
phạt
1.2.1. Chủ thể của áp dụng hình phạt
dụng một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường
hợp xác định.
Ba là, văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp và phù hợp
với thực tế. Nó phải phù hợp với luật và dựa trên những quy phạm
pháp luật cụ thể, nếu không phù hợp thì văn bản áp dụng pháp luật sẽ
bị đình chỉ hoặc hủy bỏ.
Bốn là, văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện trong
những hình thức pháp lý xác định như: bản án, quyết định, lệnh.
Năm là, văn bản áp dụng pháp luật là một yếu tố của sự kiện
pháp lý phức tạp, thiếu nó nhiều quy phạm pháp luật không thể thực
hiện được.
Tóm lại, hình thức tập trung nhất của áp dụng hình phạt là
8
HĐXX ban hành bản án liên quan đến việc giải quyết vụ án, quyết
định hình phạt áp dụng đối với bị cáo phạm tội. Và với một dạng đặc
thù của hình thức áp dụng pháp luật, để thực hiện tốt, tuân thủ đúng
hình thức áp dụng hình phạt, buộc chủ thể áp dụng hình phạt phải
tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và các quy định
liên quan.
1.3. Các nhân tố xã hội tác động đến áp dụng hình phạt
1.3.1. Những nhân tố về chính trị
1.3.2. Nhân tố về hệ thống pháp luật
1.3.3. Nhân tố về mặt tổ chức
1.3.4. Một số nhân tố khác
CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TẠI THÀNH PHỐ TAM
KỲ, TỈNH QUẢNG NAM TỪ NĂM 2012 ĐẾN NĂM 2016
2.1. Khái quát thực trạng áp dụng hình phạt tại thành
sung
Vụ
Bị cáo
8
10
19
25
23
29
15
22
21
25
86
111
Miễn
Miễn hình
TNHS
phạt
Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo
0
0
0
0
0
0
0
0
0
Tổng
cộng
Tổng
số bị
cáo
Cảnh
cáo
Bị
cáo
117
149
132
161
190
0
0
0
0
0
749
0
Phạt tiền
0
4
3,03
1
0,75 0
0
0
5
3,10
0
0
0
0
0 33 17,36 15 7,89 0
0
0
48
6,40
19
2,53
0
0
Tù có
10
chức”, “nhiều người gây thương tích cho một người”, “phạm tội
nhiều lần’’….
2.2.3. Thực trạng áp dụng hình phạt trong trường hợp đặc
biệt
Diễn biến tình hình tội phạm trong thời gian qua tại thành
phố Tam Kỳ qua công tác xét xử của TAND thành phố cho thấy, số
lượng bị cáo phạm nhiều tội bị xét xử chiếm tỷ lệ thấp, dao động từ
1% đến 5% trên một năm, có năm không có trường hợp nào phạm
nhiều tội. Số liệu thống kê 3 năm gần đây cho thấy (2014 – 2016), số
bị cáo phạm nhiều tội giảm hẳn so với 02 năm trước (2012- 2013).
Chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
không phát sinh vấn đề gì lớn tại đơn vị, với bản chất và yêu cầu của
việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, trên thực
tế thiên về phương pháp xử lý hơn là tổng hợp, nghiên cứu, cân nhắc,
đánh giá. Phần quyết định hình phạt trong các bản án liên quan trên
cho đến hiện nay không phát sinh tồn tại, thiếu sót gì.
2.2.4. Thực trạng áp dụng hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội
Kết quả số liệu cho thấy, tỷ lệ số bị cáo dưới 18 tuổi hằng năm
bị đưa ra xét xử không nhiều, chiếm trên dưới 10% tổng số bị cáo bị
xét xử, trong đó năm ít nhất là 2015 với gần 5% và năm nhiều nhất là
2012 với hơn 15%. Vấn đề cần quan tâm trong việc quyết định hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không chỉ dừng lại ở mức
hình phạt mà chủ yếu là việc lựa chọn loại hình phạt phù hợp, vừa
đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm, vừa đảm bảo
nguyên tắc xét xử đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định
của pháp luật Nhà nước ta và yêu cầu chung của quốc tế.
Kỳ trong giai đoạn 2012 – 2016 theo bảng thống kê trên đây cho thấy
có rất ít trường hợp bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung. Một phần là
do nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng hình phạt bổ sung là phụ
thuộc vào điều luật quy định về một tội phạm cụ thể của BLHS, chỉ
12
tội phạm nào điều luật quy định có cho phép áp dụng hình phạt bổ
sung thì Tòa án mới quyết định áp dụng.
Thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Tam Kỳ, việc áp dụng
hình phạt bổ sung tập trung nhiều vào các trường hợp bị cáo phạm
vào các loại tội liên quan đến tệ nạn xã hội như ma túy, đánh bạc.
2.4. Thực trạng miễn hình phạt
Trong 05 năm qua (2012- 2016) tại TAND thành phố Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam không có trường hợp nào miễn hình phạt.
2.5. Thực trạng áp dụng án treo
Trên cơ sở bảng số liệu cho thấy, số lượng bị cáo được xem
xét cho hưởng án treo không nhiều, dao động mỗi năm từ 5% đến
15% tổng số bị cáo bị xét xử, trong đó, năm có số lượng bị cáo được
cho hưởng án treo ít nhất là chiếm tỷ lệ 4.54%, năm có số lượng bị
cáo được cho hưởng án treo nhiều nhất là chiếm tỷ lệ 16,77%. Kết
quả áp dụng án treo tại TAND thành phố Tam Kỳ trong những năm
qua là đúng pháp luật, vừa thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật
nhà nước ta, vừa tạo điều kiện tốt nhất cho những người phạm tội lần
đầu có cơ hội khắc phục lỗi lầm, được gia đình, địa phương quản lý,
giáo dục, sớm trở thành công dân tốt.
2.6. Những khó khăn, vi phạm, sai lầm và nguyên nhân
2.6.1. Một số vi phạm, sai lầm của Hội đồng xét xử sơ thẩm
khi áp dụng hình phạt
- Về quyết định hình phạt chính, hình phạt bổ sung: Thiếu
còn nhiều điểm vướng mắc chưa được hướng dẫn áp dụng thống
nhất.
Hai là, HĐXX các cấp vẫn còn tâm lý phụ thuộc nhiều vào
mức án do đại diện Viện kiểm sát đề xuất; vai trò điều hành của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong một số trường hợp là thiếu bản
lĩnh, năng lực nghiệp vụ chưa đáp ứng.
Ba là, qui định “Có thể” chuyển khung hình phạt của Điều
47 BLHS năm 1999 trên thực tiễn đã phát sinh tính tùy tiện trong áp
14
dụng.
Bốn là,vị trí, vai trò của TAND trong hệ thống các cơ quan
Nhà nước chưa được nhận thức đúng, đầy đủ nên cơ chế quản lý,
phân bổ ngân sách hoạt động còn nhiều bất cập.
Năm là,việc đào tạo nguồn Thẩm phán để bổ nhiệm vẫn chưa
đảm bảo chất lượng.
CHƯƠNG 3
CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP
BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG HÌNH PHẠT
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng hình phạt
3.1.1. Yêu cầu của việc đưa quy định của Bộ luật hình sự
mới vào cuộc sống
3.1.2. Yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
3.1.3. Yêu cầu của cải cách tư pháp
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt
3.2.1. Giải pháp pháp luật
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, so với BLHS năm 1999 (sửa
của quan hệ pháp luật thuộc một số lĩnh vực bị lạc hậu, không kịp
thời sửa chữa sẽ tác động ngược lại tính hiệu lực của các quy định
mới. Do vậy, cần tiếp tục có cơ chế rà soát, kiểm tra các quy định của
pháp luật hiện hành không còn phù hợp với các quy định mới để sớm
hủy bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung.
- Áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng hình phạt nói riêng
trong thực tiễn công tác giải quyết, xét xử các vụ án hình sự đặt ra
yêu cầu cao và thường xuyên về tính thống nhất và sát với thực tiễn
xã hội. Tuy nhiên, do đặc điểm, tình hình xã hội, con người mỗi địa
phương có nhiều khác nhau, yêu cầu phòng, chống tội phạm ở mỗi
địa phương có khác nhau nên tính thống nhất trong áp dụng hình phạt
16
tại địa phương nói chung, tại mỗi TAND cấp huyện nói riêng còn
nhiều vấn đề phải bàn. Có thể nói đây là vấn đề đáng chú ý nhất bên
cạnh tình trạng xét xử oan sai, bỏ lọt tội phạm hiện nay. Do vậy,
TAND địa phương và TAND tối cao cần có kế hoạch dài hạn, thường
xuyên về tổng kết thực tiễn áp dụng hình phạt, qua đó xác định được
những mặt làm được, những nội dung tồn tại, thiếu sót, những vấn đề
vướng mắc, phức tạp để đề ra giải pháp, phương hướng khắc phục,
sửa chữa các tồn tại, thiếu sót để tạo sự thống nhất cao trong quyết
định hình phạt, nhất là phục vụ cho kết quả xét xử của mỗi Tòa án địa
phương; qua đó, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc để đề xuất sửa đổi, bổ
sung các quy định của BLHS và pháp luật liên quan về phần quyết
định hình phạt, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các
vụ án hình sự, giảm đến mức thấp nhất việc xét xử oan người không
có tội, bỏ lọt tội phạm.
3.2.2. Giải pháp nâng cao ý thức xã hội, ý thức pháp luật
của nhân dân, trong đó có người áp dụng hình phạt
quy định của pháp luật, nâng cao trình độ nghiệp vụ, đảm bảo sự chủ
động trong việc đối chiếu tình tiết vụ án với quy định của pháp luật
trong áp dụng hình phạt, để bản án của Tòa án đạt mục tiêu đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật;
3.2.3. Các giải pháp khác:
Để hoạt động áp dụng hình phạt đúng thì yếu tố con người, tổ
chức bộ máy có vai trò rất quan trọng. Yếu tố con người luôn quan
trọng trong bất kỳ một hoạt động nào, vì vậy, để hoạt động áp dụng
hình phạt được chính xác, phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể áp dụng
hình phạt. Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng
hình phạt nói riêng cần phải có những Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân có văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có ý thức pháp luật,
phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với công việc và hiểu biết một cách
đúng đắn về các quy định của pháp luật, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước, lợi ích của nhân dân.
18
Năng lực chuyên môn của chủ thể áp dụng hình phạt là một
trong những điều kiện quan trọng hàng đầu cho hoạt động áp dụng
hình phạt được chính xác. Để có được năng lực chuyên môn vững
vàng, chủ thể áp dụng hình phạt phải được đào tạo cơ bản, ít nhất
phải có trình độ cử nhân luật hoặc tương đương trở lên, nhưng không
dừng lại ở kiến thức đã học trong các trường đại học mà còn phải
thường xuyên trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật văn bản, học
tập, tích lũy kinh nghiệm để nâng cao trình độ của mình. Năng lực
chuyên môn là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình áp dụng hình
phạt vì đó là một hoạt động tư duy có tính logic chặt chẽ nhưng đồng
thời là hoạt động trí tuệ có tính sáng tạo, bởi lẽ: Khi xây dựng các cấu
thành tội phạm cụ thể, nhà làm luật không thể liệt kê tất cả các yếu
sách pháp luật hình sự nhưng một số Thẩm phán không chú ý cập
nhật văn bản hoặc hiểu một cách máy móc. Ngoài yêu cầu về chuyên
môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của chủ thể áp dụng hình phạt
cũng là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho việc áp
dụng hình phạt được chính xác. Nếu như năng lực chuyên môn là
điều kiện cần thì đạo đức nghề nghiệp là điều kiện đủ của việc áp
dụng hình phạt chính xác. Hai điều kiện này bổ sung cho nhau, giúp
cho chủ thể áp dụng hình phạt có cơ sở, nền tảng trong quá trình áp
dụng pháp luật hình sự để áp dụng hình phạt đúng. Việc nhận thức
được tính công bằng là một yếu tố trong niềm tin nội tâm của Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật
hình sự. Từ sự nhận thức này họ sẽ hiểu được ý nghĩa chính trị - xã
hội, đạo đức của các quy phạm pháp luật hình sự, đánh giá đúng đắn
hành vi phạm tội của những người cụ thể, lựa chọn phương án tối ưu
về mặt pháp luật, đạo đức trong khi quyết định các biện pháp xử lý.
Theo chúng tôi, giải pháp căn bản của việc nâng cao trình độ
của chủ thể áp dụng hình phạt là:
Một là, thường xuyên cập nhật các văn bản pháp luật, các
hướng dẫn áp dụng pháp luật - nhất là khi có sự thay đổi về chính
20
sách hình sự cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân. Các cơ quan chức
năng cần thường xuyên tổ chức tập huấn khi có văn bản mới được
ban hành. Việc nâng cao trình độ không chỉ dừng lại ở các kiến thức
pháp luật nói chung mà còn bao gồm cả kiến thức lý luận chính trị,
đạo đức nghề nghiệp và các kiến thức khoa học thuộc nhiều ngành
khoa học khác nhau.
Hai là, việc bổ nhiệm Thẩm phán cần ưu tiên những người
được đào tạo cơ bản, có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn, có phẩm
tác động của môi trường xã hội và môi trường pháp luật khi xét xử.
Bởi vậy, xét về môi trường xã hội và môi trường pháp luật, phải làm
sao để Thẩm phán và Hội thẩm được “độc lập và tuân theo pháp luật
khi xét xử”, ít chịu (hoặc tốt nhất là không) sự tác động tiêu cực từ
bên ngoài, để có thể áp dụng hình phạt chính xác. Do vậy, tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức xã hội, ý
thức pháp luật, lối sống theo pháp luật của nhân dân cũng là giải pháp
không được xem nhẹ. Ở đây, vai trò của truyền thông, của dư luận xã
hội, của kiểm tra, thanh tra ngành, chuyên ngành, của giám sát xã hội
là rất to lớn, bởi xét đến cùng các hoạt động này góp phần tạo nên
môi trường xã hội, môi trường pháp luật lành mạnh vốn là tiền đề,
điều kiện không thể thiếu cho hoạt động áp dụng hình phạt khi xét
xử.
- Triển khai xây dựng đề án về đạo tạo chuyên gia đầu ngành
về pháp luật và nghiệp vụ Tòa án. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo,
bồi dưỡng phù hợp với từng loại đối tượng công chức. Phối hợp với
các trung tâm đào tạo để xây dựng cơ chế đào tạo nguồn cán bộ cho
các Tòa án vùng sâu, vùng xa. Chú trọng chất lượng cán bộ về tiêu
chuẩn chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất chính trị ngày từ khâu
tuyển dụng; Phối hợp với cấp ủy Đảng các địa phương và các tổ chức
chính trị xã hội để lựa chọn, điều động, luân chuyển các cán bộ có trình độ
về công tác tại các Tòa án.
- Sớm đổi mới chế độ chính sách cho cán bộ, Thẩm phán, nhất
22
là sửa đổi hệ thống thang, bảng lương của cán bộ, công chức Tòa án
cho phù hợp với đặc thù nghề nghiệp. Tăng cường cơ sở vật chất, máy
móc thiết bị, nâng cấp trụ sở làm việc, đảm bảo an ninh, an toàn,
nghiêm túc của công tác xét xử. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
phạt cũng như nâng cao hiệu quả của hình phạt mà còn tạo nên sự
nghiêm minh và công bằng của pháp luật đối với người, pháp nhân
thương mại phạm tội; tạo niềm tin cho tổ chức, cá nhân vào cơ quan
Tòa án nói riêng và nền Tư pháp nói chung; góp phần củng cố pháp
chế XHCN, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội; tạo tiền đề cho
phát triển kinh tế, xã hội.
Khi áp dụng hình phạt, chủ thể áp dụng hình phạt ngoài việc
tuân thủ các quy định của BLHS đối với hành vi phạm tội đã thực
hiện, nắm vững các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật cụ thể, chỉ
ra các điểm, khoản của điều luật tương ứng được quy định tại phần
các tội phạm, còn phải nắm vững các quy định đặc thù tại các điều
luật tương ứng quy định về hình phạt trong BLHS.
Để tăng cường áp dụng hình phạt đúng, cần phải bảo đảm hai
yêu cầu cơ bản: Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và nâng cao
trình độ cho chủ thể áp dụng hình phạt. Những điều kiện, giải pháp,
kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự được nêu trong Luận văn theo chúng tôi là một trong những đảm bảo cho việc áp dụng hình
phạt được chính xác, giúp cho việc nhận thức thống nhất các quy
định của pháp luật trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về hoạt động áp dụng hình phạt
của pháp luật hình sự Việt Nam. Về mặt thực tiễn, những nội dung
nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho hoạt động
nghiên cứu khoa học, giảng dạy, đào tạo Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân; góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò của TAND trong hoạt động
áp dụng hình phạt ngày càng tốt hơn trong thời gian tới.
24