CHƯƠNG 4:
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN MINH HẢI
4.1. Đánh giá chung kết quả sản xuất kinh doanh của Công Ty trong
3 năm 2006, 2007, 2008:
Công Ty Cổ Phần Thủy Sản Minh Hải trong những năm vừa qua đã đạt
được nhiều thành tựu nổi bật trên nhiều phương diện, nhưng cũng gặp một số
khó khăn, khó khăn này không chỉ công ty mà đa số doanh nghiệp hoạt động
trong ngành thủy sản điều bị ảnh hưởng. Vì vậy, Công ty đã không ngừng cải
tiến, đa dạng hóa các mặt hàng thủy sản xuất khNu, xây dựng thương hiệu cho
công ty nhằm khẳng định mình trên trường quốc tế, góp phần tạo cho thủy sản
Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường thủy sản thế giới.
Hiện nay công ty đang xuất khNu sang các thị trường: Mỹ, Nhật, một số
nước ở Châu Âu, Hàn Quốc, Úc, Singapore.
Qua bảng 1 và biểu đồ tình hình thực hiện doanh thu, chi phí, lợi nhuận
sau thuế cho ta thấy sự biến động của 3 khoản mục sau 3 năm 2006, 2007, 2008
của Công Ty.
Hầu hết, các doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh với mục đích
chính là thu được lợi nhuận. Vì lợi nhuận là mục đích quan trọng của doanh
nghiệp nên việc cung cấp các thông tin về lãi, lỗ trên bảng 1 có tác dụng quan
trọng trong việc đưa ra các quyết định quản trị trong hoạt động cũng như những
người có liên quan đến hoạt động Công Ty, giúp cho việc quản trị hữu hiệu và xây
dựng kế hoạch cho tương lai được hợp lý hơn.
15.014.930 21.240.906 10.126.981 6.225.976 41,46 -11.113.925 -52,3
Thuế thu nhập doanh nghiệp
2.252.240 3.199.951 421.350 947.711 42,08 -2.778.601 -86,83
Lợi nhuận sau thuế
12.762.690 18.040.955 9.705.631 5.278.265 41,35 -8.335.324 -46,2
www.kinhtehoc.net
Hình 3: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công Ty qua 3 năm
Qua bảng 1 cho thấy, kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty được
tạo thành từ 3 khoản mục lớn là doanh thu, chi phí và lợi nhuận sẽ là hiệu số giữa
doanh thu và chi phí.
- Về khoản mục doanh thu, ta thấy có sự biến động rất lớn. Cụ thể là năm
2006, tổng doanh thu của Công ty đạt hơn 858.912 triệu đồng. Sang năm 2007,
tổng doanh thu của Công ty đạt mức kỷ lục trong các năm qua là hơn 1.030.315
triệu đồng, về số lượng tăng hơn 171.403 triệu và tăng hơn 19,95% so với năm
2006. Có được doanh thu cao như vậy là do Công ty đã tìm kiếm được nhiều thị
165.177 triệu, gần 19,57%. Sở dĩ có sự tăng đáng kể vậy là do sang năm 2007,
Công Ty ký được nhiều hợp đồng xuất khNu, tăng sản lượng lên, do vậy mà chi
phí đầu vào tăng mạnh, nhưng các khoản chi phí khác thì không tăng như chi phí
bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp… Cụ thể như thế nào sẽ được diễn giải
trong phần sau. Bước sang 2008, tổng chi phí lại giảm mạnh như tổng doanh thu
đã giảm so với 2007, chỉ hơn 775.391 triệu, giảm hơn 253.683 triệu, giảm gần
25,14% so với 2007. Nguyên nhân là do sản lựợng đầu ra giảm nên sản lượng
đầu vào giảm dẫn đến chi phí giảm, nhưng các chi phí khác lại tăng, điều này
hoàn toàn ngược lại so với năm 2007.
- Cuối cùng là khoản mục lợi nhuận, đây là khoản mục được các nhà quản
lý quan tâm nhất. Năm 2006, lợi nhuận sau thuế của Công Ty đạt 12.763 triệu,
đây là con số khá lớn. Nhưng lợi nhuận của công ty không chỉ dừng lại ở con số
đó, nó đã tăng đáng kể ở năm 2007. Cụ thể là năm 2007 đạt tới 18.041 triệu, tăng
hơn 5.278 triệu, tương ứng tăng hơn 41,53% so với 2006. Đạt được hiệu quả như
vậy là vì trong năm 2007, tổng doanh thu tăng mạnh và tổng chi phí cũng tăng
mạnh nhưng tốc độ không bằng doanh thu nên ta được lợi nhuận tăng nhiều như
vậy. Nhưng qua 2008, việc xuất khNu gặp nhiều khó khăn không chỉ mình Công
ty, mà toàn ngành thủy sản đều gặp phải, điều này làm cho doanh thu giảm đáng
kể nên lợi nhuận của Công ty cũng bị ảnh hưởng và giảm theo. Năm 2008, lợi
nhuận chỉ đạt được gần 9.706 triệu, giảm hơn 8.335 triệu, hơn 46,2% so với lợi
nhuận 2007. Điều này chắc chắn sẽ gây áp lực thật lớn cho các nhà quản lý trong
Công ty.
4.2. Phân tích tình hình thực hiện doanh thu:
4.2.1. Phân tích chung tình hình doanh thu trong 3 năm qua:
Tổng doanh thu của Công ty là sự tổng hợp của 3 thành phần:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
- Doanh thu từ hoạt động tài chính. - Thu nhập khác
www.kinhtehoc.net
Bảng 2: Tổng hợp doanh thu của công ty qua 3 năm (2006-2008)
H
ình 4: Biểu đồ thể hiện tổng doanh thu của Công ty qua 3 năm
Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của Công Ty Cổ Phần Thủy Sản
Minh Hải tập trung vào lĩnh vực sản xuất và chế biến mặt hàng thủy hải sản cụ
thể là tôm. Bên cạnh đó công ty còn cung cấp một số dịch vụ khác như: gia công
hàng xuất khNu, bán vật tư, vỏ tôm,… Trong đó, xuất khNu thủy sản là ngành
hàng kinh doanh chủ yếu đem lại nguồn thu lớn cho công ty. Ngoài ra, công ty
còn có nguồn thu từ hoạt động tài chính và hoạt động khác. Để biết được tình
hình cụ thể về doanh thu của công ty qua 3 năm 2006-2008, ta hãy xem xét bảng
2, nó được thể hiện rõ trên bảng 2.
Qua bảng 2 cho ta thấy được các thành phần tạo nên tổng doanh thu và
sự biến động của chúng qua 3 năm. Trong đó đa số là sự đóng góp của doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ, chứ doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập
khác không đáng kể. Còn các khoản giảm trừ thì không có.
Nhìn vào bảng 2 ta thấy, tổng doanh thu năm 2007 đạt lên tới 1.030.316
triệu đồng, đây là doanh thu cao nhất từ trước đến nay, so với năm 2006 thì tăng
tới 19,96%. Tuy nhiên, đến năm 2008, tổng doanh thu chỉ hơn 765.518 triệu
đồng, lại giảm khá nhiều so với năm 2007, giảm 25,7%. Qua đây cho thấy tổng
doanh thu của công ty biến động không đều qua 3 năm. Điều này sẽ được lý giải
qua việc phân tích doanh thu của từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
Trước tiên là doanh thu từ hoạt động kinh doanh chính (doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ), đây cũng là nguồn thu chủ yếu tạo nên và có ảnh
ngành thủy sản, và công ty cũng không tránh khỏi những khó khăn này. Doanh
thu hoạt động kinh doanh giảm gần 267.876 triệu đồng, tương ứng giảm 26,05%.
Cụ thể là doanh thu bán hàng gần 756.532 triệu đồng, so với năm 2007 giảm
269.321 triệu đồng, tương ứng giảm 26,25%. Sở dĩ có sự giảm đáng kể như vậy
là do việc xuất khNu gặp nhiều khó khăn, sản lượng giảm, giá cả cũng giảm, thế
giới thì đang vào cuộc khủng hoảng kinh tế làm hàng hóa của ta bị ứ động không
thể nhanh chống tiêu thụ được. Kinh doanh khó khăn, để tăng thêm doanh thu,
công ty đã làm thêm một số dịch vụ như gia công hàng xuất khNu, nó cũng đạt
gần 534 triệu đồng, và doanh thu từ vỏ đầu tôm, vận chuyển cũng tăng lên chút ít
đạt 3.446 triệu đồng. Điều này cho thấy trong kinh doanh có lúc này lúc khác,
cần phải nắm bắt rõ mọi lúc thị trường đang cần gì, và đang diễn biến ra sao để ta
nhanh chống có những chiến lược phù hợp để công ty nhanh chống thích ứng với
những thay đổi đó, giúp công ty hạn chế tối đa sự thiệt hại.
Ngoài doanh thu từ hoạt động kinh doanh chính, công ty còn có thêm
nguồn thu từ hoạt động tài chính. Tuy nguồn thu này không lớn lắm nhưng cũng
có ảnh hưởng đến tổng doanh thu của công ty. Từ bảng số liệu ta thấy doanh thu
hoạt động tài chính cũng biến động không đều qua 3 năm. Doanh thu từ hoạt
động tài chính bao gồm lãi tiền gửi, tiền cho vay, cổ tức, lợi nhuận được chia, và
cuối cùng là lãi do chênh lệch tỷ giá.
www.kinhtehoc.net
Doanh thu từ hoạt động tài chính trong cả 3 năm đều tăng lên. Cụ thể,
năm 2007, doanh thu hơn 1.621 triệu đồng, tăng nhiều so với 2006, tương ứng
tăng 251,4%. Sang năm 2008, nó lại tăng khá cao, đạt gần 5.006 triệu đồng, tăng
hơn 3.384 triệu đồng, tương ứng là 208% so với 2007. Cụ thể tăng như thế nào,
ta hãy nhìn vào bảng 2.
Qua bảng 2, ta thấy rõ, các khoản mục tạo thành doanh thu qua các năm
đều tăng, tăng mạnh nhất là lãi từ chênh lệch tỷ giá, năm 2008 đạt cao nhất trong
những năm gần đây là hơn 4.284 triệu. Sở dĩ trong 3 năm liên tục, lãi chênh lệch
tỷ giá tăng là do tỷ giá trên thị trường qua 3 năm đều tăng nên rất có lợi cho công
CHÊNH LỆCH
2008 so 2007
SỐ
TIỀN
TỶ
TRỌNG
(%)
SỐ
TIỀN
TỶ
TRỌNG
(%)
SỐ
TIỀN
TỶ
TRỌNG
(%)
SỐ TIỀN %
SỐ
TIỀN
%
Doanh thu
nội địa
12.511.002 1,46 52.281.644 5,10 37.618.174 4,97
39.770.642
317,89 -14.663.470 -28,05
Doanh thu
xuất khNu
842.706.818 98,54 973.572.339 94,90 718.914.756 95,03 130.865.521 15,53 -254.657.574 -19,69
Tổng
doanh thu của công ty tăng lên. Và trong thời gian này, việc xuất khNu thủy sản
trở nên khó khăn phần lớn là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, nhất là
thị trường Mỹ, mà đây lại là thị trường lớn nhất của công ty nên nó đã ảnh hưởng
rất lớn đến doanh thu của công ty.
Từ việc phân tích số liệu trên cho thấy, qua 3 năm doanh thu xuất khNu
luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu bán hàng của công ty, còn doanh
www.kinhtehoc.net
thu bán hàng nội địa không đáng kể, điều này ta cũng dễ hiểu, do người Việt
Nam ta không có thói quen sử dụng hàng chế biến sẵn, chỉ quen với mặt hàng
còn tươi sống về chế biến ngay, ăn liền, và các mặt hàng này thì lại rất dễ mua
nên điều này làm cho thị trường trong nước không được sôi động. Điều này
chứng tỏ, Công ty chú trọng đến hoạt động xuất khNu hơn bán trong nước và nó
đã đem lại cho công ty khoản thu nhập lớn. Ta thấy công ty luôn cố gắng để có
thể đáp ứng được nhu cầu cả trong và ngoài nước, nhưng vẫn ưu tiên cho hoạt
động xuất khNu hơn vì hoạt động này mang lại nguồn thu rất lớn. Các thị trường
ngày nay yêu cầu rất khắc khe, cộng vào đó là phải cạnh tranh gây gắt với các đối
thủ khác nên đòi hỏi Công ty luôn luôn nâng cao chất lượng để đáp ứng được các
thị trường gây gắt này và nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm đạt được hiệu quả
hoạt động kinh doanh ngày càng cao.
4.2.3. Phân tích tình hình doanh thu của Công ty theo các nhóm mặt
hàng:
Công ty xuất khNu chủ yếu là tôm sú chiếm 98%, các mặt hàng của
Công ty sản xuất và xuất khNu bao gồm các nhóm sau:
+ Tôm sú hấp: Sú PTO hấp; Sú PD hấp, sushi.
+ Tôm sú Nobashi: gồm nhiều mặt hàng khác nhau; sản xuất theo yêu
cầu của khách hàng
+ Tôm sú PTO tươi: Sú PTO tươi, Sú PD tươi …..
+ Tôm sú truyền thống: Sú vỏ đông Block, thẻ đông Block, Chì đông
block, tôm nguyên con …..
thu cao, nhưng trong năm 2008 doanh thu nó lại giảm. Quan sát bảng 4 ta sẽ thấy
mặt hàng tôm truyền thống rất cần được công ty phát huy, nó liên tục tăng doanh
thu trong 3 năm, Công ty cần chú ý để mặt hàng này để đáp ứng yêu cầu của
khách hàng, của thị trường trong giai đoạn khó khăn này.
Nhìn vào tổng doanh thu năm 2007 ta thấy rõ nó tăng lên nhiều so với
năm 2006. Có được vậy là do sản lượng tiêu thụ của các mặt hàng tăng lên nhiều,
tăng tới 758,9 tấn, đơn giá trung bình các mặt hàng cũng tăng lên 4.900.000
đồng/tấn , trong đó phải kể đến là mặt hàng tôm sú chế biến khác, doanh thu tăng
tới 77,79%, nhưng bù vào đó là sự giảm doanh thu của mặt hàng tôm sú hấp,
giảm tới 27,28%, hai mặt hàng này trong năm 2007 tiêu thụ mạnh nhất là ở Mỹ,
một cái tăng lên một cái giảm xuống, có thể thấy đây là hai mặt hàng thay thế
cho nhau trên thị trường này. Ngoài ra còn có sự đóng góp của các mặt hàng sú
Nobashi, Sú PTO tươi, tuy sản lượng có giảm nhẹ nhưng giá nó tăng lên nhiều do
đó cũng góp phần làm tăng tổng doanh thu năm 2007 lên.
Sang năm 2008, mặt hàng tôm truyền thống vẫn được khách hàng ưa
chuộng nên lượng tiêu thụ và giá cả đều tăng lên nên làm doanh thu nó tăng lên
tới 46,43%. Còn các mặt hàng khác thì đều giảm số lượng lẫn giá bán nhưng nó
không thu hút được khách hàng tiêu thụ. Nếu năm 2007, tôm sú chế biến khác
www.kinhtehoc.net
tăng mạnh nhất thì năm 2008 nó lại giảm nhiều nhất, nhưng doanh thu của nó
vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu. Trong các mặt hàng tôm truyền
thống là mặt hàng có giá thấp nhất, còn loại tôm sú chế biến khác thì giá lại cao
nhất, mà trong năm 2008 là năm bắt đầu cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu nên việc
Nm thực của con người có sự lựa chọn các mặt hàng rẽ hơn. Trên từng thị trường
các mặt hàng tăng giảm như thế nào ta sẽ tìm hiểu cụ thể trong phần sau.
4476,6 5235,5 4307,7 191.041,8 195.941,9 175.623,4 855.217.820 1.025.853.983 756.532.939
www.kinhtehoc.net
Bảng 6 : Tổng hợp doanh thu bán hàng theo thị trường qua 3 năm ( 2006- 2008)
ĐVT: 1000đồng
Hình 3: Cơ cấu thị trường xuất khu của Công ty qua 3 năm.
Năm 2006
61%
39%
0% 0%
Mỹ Nhật Châu Âu Khác
Năm 2007
70%
29%
1%
0%
Mỹ Nhật Châu Âu Khác
Năm 2008
hỏi công ty phải thực hiện tốt công tác ngoại giao để cạnh tranh với các đối thủ
để thị trường của ta ngày càng được mở rộng hơn. Hiện nay, các sản phNm đã
xuất khNu sang nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới và công ty đã xác định
được đâu là thị trường chủ lực cần duy trì, đâu là thị trường tiềm năng cần khai
thác. Và với những gì đã được trong nhiều năm qua, ngành thủy sản đã xác định
được thị trường Mỹ, Nhật và Châu Âu là những thị trường chủ lực của Công ty.
Sớm nhận thức được điều này Công ty đã nghiên cứu, tìm hiểu từng thị trường,
đầu tiên là Mỹ kế đó là Châu Âu, Nhật và sau vài năm hợp tác làm ăn Công ty đã
tạo được thế đứng của mình trên hai thị trường này. Ngoài ra, Công ty còn hợp
tác làm ăn với một số thị trường khác.
Qua hình 5 cho ta thấy tình hình xuất khNu của Công ty sang các thị trường có sự
biến động qua các năm. Xét về cơ cấu, quy mô thì Mỹ và Nhật là hai thị trường
lớn của thủy sản Việt Nam nói chung và của Công ty nói riêng. Năm 2006, thị
trường Mỹ chiếm tỷ trọng 61% trong tổng kim ngạch xuất khNu của Công ty và
thị trường Nhật cũng là 39% nhưng đến năm 2007 giá trị xuất khNu sang thị
trường Nhật giảm từ 39% xuống 29% trong tổng kim ngạch xuất khNu của Công
ty, trong khi giá trị xuất khNu của Công ty sang thị trường Mỹ tăng từ 61% lên tới
70% trong tổng kim ngạch xuất khNu. Trong năm 2006, Công ty cũng có xuất
sang Châu Âu, nhưng tỷ trọng của nó không đáng kể so với thị trường Mỹ và
Nhật. Nhưng sang năm 2007, cơ cấu của nó đã tăng lên được 1% trong tổng kim
ngạch xuất khNu của Công ty. Bên cạnh đó Công ty cũng kiếm được thị trường
mới như Hàn Quốc và khu chế xuất, bước đầu nó cũng chiếm tỷ
trọng không đáng kể, nhưng tin rằng tỷ trọng sẽ tăng.
Năm 2008, tỷ trọng xuất khNu của Công ty sang thị trường Nhật không
có sự biến động, nhưng các thị trường khác thì có sự biến động đáng kể. Cụ thể
là Mỹ có sự giảm đáng kể, tỷ trọng từ 70% trong tổng kim ngạch xuất khNu
xuống còn 61%, nguyên nhân là do thị trường Mỹ ngày càng khắt khe hơn đối
với mặt hàng thủy sản do tình hình suy thoái nên thủy sản nước ta trên thị trường
www.kinhtehoc.net
ty Mỹ là thị trường xuất khNu đứng đầu, quan trọng nhất đối với Công ty. Cụ thể
là năm 2007, doanh thu đạt gần 676.247 triệu đồng, tăng hơn 2006 gần 163.561
triệu đồng. Nhưng sang năm 2008 thì không khả quan, chỉ đạt hơn 438.461 triệu
đồng, giảm hết 237.786 triệu đồng, tương ứng giảm 35,16% so với 2007.
www.kinhtehoc.net
Qua bảng 7 thể hiện các mặt hàng xuất khNu sang Mỹ trong 3 năm qua,
ta thấy sản lượng tôm xuất khNu có biến động rõ rệt, có sự chênh lệch khá lớn.
Mặt hàng tôm sú hấp, tôm PTO tươi có xu hướng giảm mạnh qua 3 năm liền.
Nhưng đối với mặt hàng chế biến khác thì lại tăng cao vào năm 2007, tăng tới
101%, qua đây ta thấy có sự thay thế giữa sản phNm này với sản phN m khác. Xét
về quy mô thì loại tôm sú chế biến khác có doanh thu cao nhất trong các năm,
còn loại tôm sú hấp thì liên tục giảm qua 3 năm liền. Còn về cơ cấu thì tôm chế
biến vẫn đạt tỷ trọng cao nhất trên, điều này cho thấy mặt hàng này được khách
hàng ưa chuộng nhiều. Sang năm 2008 thì tất cả các mặt hàng đều giảm về sản
lượng lẫn giá bán, thay vào đó là sự xuất hiện mặt hàng mới là tôm truyền thống,
đây là loại giá rẻ nhất trong các mặt hàng của Công ty.
Như chúng ta đã biết năm 2008 là năm bắt đầu nền kinh tế suy thoái, mà
ảnh hưởng đầu tiên là Mỹ nên dẫn tới sự thay đổi trong thói quen của người tiêu
dùng. Theo kết quả một cuộc khảo sát của Nielsen đối với 50.000 người tiêu
dùng, khoảng 2/3 số người được hỏi đã giảm chi, và khoảng một nửa ít ăn hàng
hơn trước. Khoảng 1/3 người tiêu dùng chuyển sang các mặt hàng rẻ tiền hơn.
Qua đây ta thấy Công ty năm bắt tình hình rất tốt và nhanh chống sản xuất những
mặt hàng rẽ hơn, thay thế một số mặt hàng cao cấp để đáp ứng nhu cầu của người
tiêu dùng.
Bên cạnh đó, việc áp đặt hàng loạt các rào cản thương mại đối với các
mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất vào thị trường Mỹ, nên phải chịu mức thuế cao
khi suất sang Mỹ, điều này đã thực sự ảnh hưởng tới xuất khNu tôm của nước ta
nói chung và của Công ty nói riêng sang thị trường này. Hơn nữa, tính cạnh tranh
trên thị trường Mỹ rất cao, hàng thủy sản của Việt Nam nói chung và của Công