Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần vật tư Hậu Giang GVHD: Nguyễn Thúy Hằng 13 SVTH: Nguyễn Văn Thành
Chương 3
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ HẬU GIANG
3.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Tên đơn vị: Công ty cổ phần vật
tư Hậu Giang
Tên tiếng anh: Hau Giang
Material Joint – Stock Company.
Trụ sở chính: 184 Trần Hưng
Đạo, Phường An Nghiệp, TPCT.
Công ty được thành lập theo quyết định số 245/VT – QĐ vào ngày
03/03/1976 do Bộ Vật Tư ký trên cơ sở sát nhập 5 đơn vị: Công ty vật tư kỹ thuật
TP Cần Thơ, công ty xăng dầu TP Cần Thơ, công ty vật tư tỉnh cần Thơ, công ty
xăng dầu tỉnh Cần Thơ và công ty xăng dầu tỉnh Sóc Trăng. Kể từ ngày thành lập
đến nay công ty đã trãi qua các giai đoạn khác nhau về tên gọi và đường lối hoạt
động.
- Giai đoạn từ năm 1976 – 1986: Khi mới thành lập, trụ sở đặt tại số 135
đường Trần Hưng Đạo, Cần Thơ, với gần 500 cán bộ công nhân viên và mạng
lưới cung ứng đến tận 14 huyện thị trong tỉnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh
Hậu Giang và Bộ Vật Tư. Trong giai đoạn này công ty đã hoàn thành nhiệm vụ
được giao và được nhà nước tặng Huân Chương lao động hạng ba năm 1984 và
nhiều bằng khen của Liên Hiệp cung ứng vật tư khu vực II, Bộ Vật Tư và UBND
tỉnh Hậu Giang.
- Giai đoạn từ năm 1987 – 2002: Trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta
chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Sau khi tách tỉnh Hậu
Ghi chú: : Quan hệ lãnh đạo
: Quan hệ nghiệp vụ
Hình 2: Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty
Giám Đốc
Phó Giám Đốc
Tài Chính
Phó Giám Đốc
Kinh Doanh
CN Thành Phố
CN Bạc Liêu
CN Vị Thanh
CH Gas, Nhớt
Phòng
Kế
Toán
Tài
Chính
Phòng
Kinh
Doanh
Phòng
Tổ
Chức
để đáp ứng nhu cầu hàng hóa cho thị trường.
Phòng tổ chức hành chính: Là phòng nghiệp vụ giúp giám đốc về quản
lý, hướng dẫn thực hiện và kiểm tra công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương,
hành chính quản trị. Đồng thời quan tâm đến nhu cầu đời sống của cán bộ công
nhân viên, thực hiện công tác kiểm tra bảo vệ phòng cháy chữa cháy, giữ an toàn
lao động cho công ty. Ngoài ra đây là nơi tuyển chọn sắp xếp cán bộ và phân
công lực lượng lao động cho phù hợp.
Phòng kho vận xây dựng cơ bản: Thường xuyên kiểm tra tình hình hàng
hóa và nguyên vật liệu có trong kho, để kịp thời cung cấp cho các cửa hàng phục
vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh.
Phòng kế toán tài chính: Là phòng nghiệp vụ giúp giám đốc kiểm tra và
thực hiện chế độ kế toán thống kê quản lý tài chính theo pháp lệnh của nhà nước,
phòng kế toán còn có nhiệm vụ thống kê các thông tin kinh tế, các hoạt động có
www.kinhtehoc.net
Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần vật tư Hậu Giang GVHD: Nguyễn Thúy Hằng 16 SVTH: Nguyễn Văn Thành
liên quan đến tài chính trong công ty để kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Đồng thời lập báo cáo gửi lên cấp trên.
Các chi nhánh và cửa hàng: Có chức năng kinh doanh mua bán các loại
mặt hàng được giao hàng tháng, tiến hành lập báo cáo theo quy định gửi lên công
ty. Ngoài việc kinh doanh mua bán bộ phận này còn có nhiệm vụ nắm bắt thông
tin theo nhu cầu thị trường để kịp thời phản ảnh lên ban lãnh đạo về tình hình
thay đổi thị trường
3.2. KHÁI QUÁT VỀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY ( 2006-
2008 )
Tình hình doanh thu và lợi nhuận sẽ cho chúng ta thấy khái quát về kết quả
hoạt động của Công ty cổ phần vật tư Hậu Giang trong ba năm qua. Đây cũng là
GVHD: Nguyễn Thúy Hằng 17 SVTH: Nguyễn Văn Thành
tiếp tục tăng với số tiền đạt được hơn 1.330 tỷ đồng, tăng hơn 31% so với năm
2007. Khi đó, doanh thu thì chịu sự tác động của nhiều nguyên nhân, đồng thời
cũng được tạo nên từ nhiều nguồn thu khác nhau. Trong đó, nguồn thu quan
trọng nhất là thu từ hoạt động kinh doanh. Chính vì thế để tìm ra nguyên nhân
làm tăng doanh thu như vậy chúng ta sẽ nghiên cứu kỷ hơn ở phần phân tích tài
chính dựa vào kết quả kinh doanh.
- Về chi phí:
Tổng chi phí cũng biến đổi theo chiều hướng tăng dần. Năm 2007 tổng chi
phí tăng hơn 22% so với năm 2006 tương ứng tăng hơn 183 tỷ đồng. Khi đó, năm
2008 con số này đạt gần 1.313 tỷ đồng tăng hơn 31% tương ứng gần 313 tỷ đồng
so với năm 2007. Cũng như doanh thu, tổng chi phí được cấu thành từ nhiều
khoản mục khác nhau, như giá vốn hàng bán, chí phí bán hàng, chí phí quản lý
doanh nghiệp…Trong đó, yếu tố quan trọng nhất là giá vốn hàng bán đã góp
phần rất lớn tạo nên sự biến đổi của tổng chi phí, để hiểu rõ hơn chúng ta sẽ
nghiên cứu sâu ở phần phân tích chí phí của công ty.
- Về lợi nhuận:
Lợi nhuận công ty có xu hướng tăng nhanh qua các năm, nhưng điều đáng
lưu ý ở đây là lợi nhuận năm 2008 tăng hơn 76% tương ứng gần 7 tỷ đồng so với
năm 2007. Trong khi đó, lợi nhuận năm 2007 chỉ tăng hơn 58% tương ứng 3 tỷ
đồng so với năm 2006. Như vậy, mặc dù sự biến động của doanh thu và chi phí
trong 2 năm 2007 và 2008 tương đối như nhau, nhưng với tốc độ tăng lợi nhuận
lại cao hơn, nguyên nhân là do hệ thống kiểm soát các khoản mục chi phí có hiệu
quả hơn. Đây là một dấu hiệu khả quan của công ty, bởi vì mục đích cuối cùng
của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.
Tóm lại: Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua 3 năm
là khá cao, khi đó lợi nhuận luôn biến động theo chiều hướng tăng. Điều này cho
thấy công ty đã có những chính sách và bước đi thích hợp nhằm tối đa hóa lợi