Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn gà lai (gà chọi x lương phượng) tại trại gà thương phẩm xã khe mo, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên - Pdf 70

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

PHẠM QUANG KIÊN
Tên chun đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SĨC, NI DƯỠNG, VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ LAI (♂CHỌI x♀ LƯƠNG PHƯỢNG) TẠI TRẠI GÀ
THƯƠNG PHẨM XÃ KHE MO, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUN”

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

:Chính quy

Chun ngành

: Chăn nuôi thú y

Lớp

: K47 –CNTY – N01

Khoa

:Chăn nuôi thú y

Khóa học

: 2015 – 2019



ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà thương phẩm . 32
Bảng 4.2. Lịch vệ sinh sát trùng chuồng trại .................................................. 33
Bảng 4.3. Lịch dùng vắcxin và phòng bệnh kháng sinh cho đàn gà ............... 34
Bảng 4.4: Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 35
Bảng 4.5. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà lai ........................................................ 37
Bảng 4.6. Sinh trưởng tích lũy của gà nghiên cứu .......................................... 39
Bảng 4.7: Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) (kg TA/kg tăng khối lượng) ...... 40
Bảng 4.8: Tình hình mắc bệnh của đàn gà tại trại .......................................... 41
Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế của gà lai (VN đồng) ........................................... 42


iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Ý nghĩa

Từ viết tắt
Cs

Cộng sự

VTM


P

Thể trọng

TP

Thành phố

ME

Năng lượng trao đổi

CP

Protein thô


iv

MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Danh mục các bảng ........................................................................................... ii
Danh mục từ viết tắt ......................................................................................... iii
Mục lục ............................................................................................................. iv
PHẦN I. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ........................................................... 2
1.2.1 Mục tiêu.................................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 3

4.2.2 Sinh trưởng của gà thịt ........................................................................... 38
4.2.3 Khả năng chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm .................................. 40
4.3. Kết quả điều trị bệnh trên gà .................................................................... 41
4.3.1. Tình hình mắc bệnh trên đàn gà thịt ..................................................... 41
4.4. Hiệu quả kinh tế của 2 lứa gà trong chăn nuôi ........................................ 42
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ........................................................... 43
5.1. Kết luận .................................................................................................... 43
5.2.Đề nghị ...................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 44


1

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam ta là một trong những quê hương của gà nhà hiện nay. Tập
đoàn các giống gà nội của nước ta rất phong phú, đa dạng. Việc bảo tồn các
giống gà bản địa cũng như sự đa dạng di truyền sinh học đang là vấn đề rất
cấp bách và mang tính tồn cầu. Theo số liệu thống kê năm 2010, trong tổng
số 230 triệu con gà đang nuôi trong cả nước, đàn gà thả vườn chiếm đến trên
80 %. Các giống gà nội, có sức chống chịu tốt, thích nghi với điều kiện khí
hậu tuy nhiên năng suất rất thấp. Để nâng cao năng suất nhằm đáp ứng nhu
cầu của các trang trại và tiêu dùng trong nước, trong những năm gần đây,
chúng ta đã nhập một số giống gà lông màu nổi tiếng như Tam hoàng, Lương
phượng, Sacso, Kabir… hầu hết các giống gà thả vườn nhập nội đều chỉ thích
nghi hoặc thích nghi tốt với việc nuôi nhốt hoặc bán chăn thả, do tập tính lười
vận động, chậm chạp… do đó thịt nhão, chất lượng thịt không cao … không
đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng. Bên cạnh đó con giống rất đắt và tốn
kém, đồng thời chúng ta lại không chủ động được con giống, phải phụ thuộc

miền trong cả nước, trên cơ sở sử dụng các giống gia cầm nhập nội và địa
phương sẵn có đang là yêu cầu cấp bách. Nghiên cứu một số công thức lai
giữa gà Chọi với gà Lương Phượng là một trong những nghiên cứu cụ thể
theo định hướng nói trên, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn
và mang lại hiệu quả thiết thực. Xuất phát từ những ý tưởng đó, chúng tơi tiến
hành nghiên cứu chun đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, ni dưỡng và
phịng trị bệnh trên đàn gà lai (gà Chọi X Lương Phượng) tại trại gà
thương phẩm xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Áp dụng quy trình chăm sóc ni dưỡng cho gà Chọi lai gà
Lương Phượng.


3

- Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phịng trị bệnh cho gà Chọi lai
gà Lương Phượng nuôi tại trại.
- Đánh giá đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất, chất lượng thịt và
hiệu quả kinh tế của gà lai F1 (Chọi - Lương Phượng) có tỷ lệ 50% máu gà
Chọi, 50% máu gà Lương Phượng.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn ni tại trại gà thương phẩm xã Khe
Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Áp dụng được các quy trình chăm sóc, ni dưỡng cho gà Chọi lai gà
Lương Phượng.
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho gà
Chọi lai gà Lương Phượng nuôi tại trại.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài sẽ bổ sung thêm minh chứng thực tiễn cho lý thuyết lai kinh tế

trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay. Chùa Hang là một trong những
danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Ngun.
Núi Voi, cịn có tên là núi Thạch Tượng, núi Tượng Lĩnh, ở xã Hoá
Thượng. Thế núi hiểm trở, giống hình con voi. Cuối thế kỷ XVI, nhà Mạc lấy
núi làm căn cứ chống nhau với quan quân nhà Lê - Trịnh.
Huyện Đồng Hỷ được đặt từ thời nhà Trần. Năm 1469, dưới triều vua
Lê Thánh Tông đổi thành Đồng Hỷ; sau đổi là huyện Đồng Gia, rồi lại đổi
thành Đồng Hỷ; là một trong 7 châu, huyện thuộc phủ Phú Bình. Trong thời
nhà Nguyễn (TK XIX), huyện Đồng Hỷ gồm: 9 tổng, 33 xã, thôn, trang,
phường; huyện lỵ đặt ở xã Huống Thượng.
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
Những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện đồng
hỷ đã có những chuyển biến tích cực, đảm bảo tiến độ thực hiện các chỉ tiêu,


5

nhiệm vụ chủ yếu năm 2017. Trong đó nhiều chỉ tiêu đạt cao so với kế hoạch
như: sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 52,7 nghìn tấn, vượt 17% kế
hoạch; diện tích trồng rừng đạt gần 1,5 nghìn ha, vượt 49% kế hoạch; thu
ngân sách trong cân đối đạt gần 123 tỉ đồng, vượt 33% dự toán tỉnh giao…
Thực hiện nghị quyết số 422/NQ - UBTTQH14, ngày 18/08/2017 của
Ủy ban Thường trực Quốc hội về việc điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính
Tp Thái Nguyên và thành lập 2 phường thuộc Tp Thái Nguyên, huyện Đồng
hỷ sẽ phải điều chỉnh kế hoạch kinh tế xã hội năm 2017. Cụ thể, huyện điều
chỉnh theo nguyên tắc: giảm các chỉ tiêu đã giao ở đầu năm và các thành
phần, cơ cấu chỉ tiêu tính cho địa bàn tồn huyện nằm trên địa bàn 3 đơn vị:
thị trấn Chùa Hang, xã Linh Sơn, xã Huống Thượng. Trong đó, cơ cấu kinh tế
ngành công nghiệp, xây dựng sau khi điều chỉnh sẽ còn 38,8%; ngành dịch vụ
sau điều chỉnh còn 25,7%; ngành nơng, lâm nghiệp, thủy sản sau điều chỉnh

hoạt theo gia đình chủ trại.
2.2. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Cơ sở khoa học
2.2.1.1. Nguồn gốc và đặc điểm của giống gà thí nghiệm
* Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà Lương Phượng
- Nguồn gốc: Gà Lương Phượng là giống gà kiêm dụng lơng màu có
xuất xứ từ vùng ven sơng Lương Phượng, do xí nghiệp ni gà thành phố
Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) lai tạo thành sau nhiều năm nghiên
cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập ngoại từ nước ngoài
như Kakir, Discan… Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta trong những
năm gần đây. Gà Lương Phượng dễ ni, tính thích nghi cao, chịu đựng tốt
với điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhất là thịt thơm ngon nên được nhiều
người tiêu dùng ưa chuộng.
- Đặc điểm: Con mái lông màu vàng nhạt, điểm các đốm đen ở cổ,
cánh. Con trống lông sặc sỡ nhiều màu: Sắc tía ở cổ, nâu cánh gián ở lưng,


7

nâu xanh đen ở đuôi. Da, mỏ, chân đều màu vàng. Mào tích tai phát triển,
mào đơn, đỏ tươi, ức sâu nhiều thịt, thịt thơm ngon. Gà thích nghi cao với
nuôi chăn thả và bán chăn thả.
- Chỉ tiêu năng suất gà Lương Phượng:
+ Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007)
[26], cho biết: khối lượng gà Lương Phượng đến 12 tuần tuổi là 2,0 - 2,5kg;
tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng là 3,0 - 3,2kg. Khối lượng gà vào lúc đẻ: 1,9 2,1kg (gà mái); 2,8 - 3,2kg (gà trống). Sản lượng trứng/10 tháng đẻ là 150 170 quả/mái. Tỷ lệ ấp nở 80 - 85%.
* Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà Chọi
Gà Chọi là một giống gà nội nổi tiếng, được nuôi ở nhiều vùng
miền trên cả nước. Gà Chọi tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ, được
tuyển chọn thông qua các cuộc thi gà truyền thống nên màu sắc lơng

Chiều dài của ống tiêu hố gia cầm khơng lớn, thời gian mà khối thức ăn
được giữ lại trong đó khơng vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với
động vật khác, do đó để q trình tiêu hố thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu
quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế
biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn ni Việt
Nam, 2001 [9]).
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm khơng có mơi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy
thức ăn, chứ khơng có tác dụng nghiền nhỏ. Vịt, ngỗng có các răng ngang ở
mép nhỏ chứa nhiều tận cùng dây thần kinh lâm ba, có tác dụng cảm giác.
Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các
tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt
là dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác
dụng tiêu hóa.
Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh
của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào


9

thực quản. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất
nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.
* Tiêu hóa ở diều
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực. Diều dự trữ và
chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với
một phần tinh bột được thủy phân.
* Tiêu hóa ở dạ dày
Tiêu hóa ở dạ dày tuyến
Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: Màng nhầy, màng cơ,
màng thanh dịch. Màng nhầy rất phát triển. Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và

tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn.
Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH
dao động trong những phần khác nhau của ruột.
Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với
tỷ trọng 1,0076. Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic,
aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza.
Dịch tuỵ là một chất lỏng khơng màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan
hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5). Trong chất khô của dịch, ngồi các men, cịn có
các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3...).
Dịch tuỵ của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin,
cacbosipeptidaza, amilaza, mantaza, invertaza và lipaza.
Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác
động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein
phức tạp ra các axit amin. Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được
tripsin hoạt hố cũng có tính chất này.
Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các
monosacarit như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành
glyserin và axit béo.


11

Các q trình tiêu hố và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực. Sự
phân giải các chất dinh dưỡng khơng chỉ có trong khoang ruột (tiêu hố ở
khoang), mà cả ở trên bề mặt các lơng mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hố
ở màng). Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn
được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản
phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế
bào biểu mơ. Trên các nhung mao có các men tiêu hố, tại đây diễn ra giai
đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin,

màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngồi.
- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí
quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế
quản. Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở
phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp. Phổi của gia cầm màu đỏ tươi,
cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi.
Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ
nhất đến mép trước của thận. Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể
trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và lồi. Chức năng chính của phổi là làm
nhiệm vụ trao đổi khí.
- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí. Các túi khí là sự mở
rộng và tiếp dài của phế quản. Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4
đơi xếp đối xứng, cịn 1 túi khí đơn. Các đơi túi khí xếp đối xứng là đơi túi khí
xương địn, đơi túi khí ngực trước, đơi túi khí ngực sau, đơi túi khí bụng. Túi
khí đơn là túi khí cổ. Các túi khí thực ra khơng phải là xoang tận cùng của phế
quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ.
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) [5], Giáo trình
chăn ni gia cầm, trường ĐHNL Thái Ngun: tần số hơ hấp dao động trong
khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của


13

gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần khơng
khí. Trong điều kiện ni dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Gia
cầm càng lớn thì tần số hơ hấp càng nhỏ. Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm
xuống 30 - 40 %. Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng. Nếu nhiệt độ tăng tới
370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút. Tần số hô hấp ở gà trưởng thành
là 25 - 45 lần/phút. Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút.
Cơ chế hơ hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với

rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các q
trình sản xuất. Đối với gà ni lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao hơn gà
đẻ.
Protein: trong nuôi dưỡng gia cầm là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng
có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sức sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Người ta cho rằng 20 - 25 % sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi
dinh dưỡng protein. Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để
hỗ trợ tăng trưởng nhanh. Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp
50 – 55 lần trong 6 tuần sau khi nở. Một phần lớn của việc tăng trọng này là
tăng trưởng các mơ có nhiều protein.
Nước: chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ
thể sống nào kể cả gia cầm. Nước không những là chất dẫn giúp con vật hấp
thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các
tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần
một lượng nước khoảng 50 ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày. Khi thời tiết
ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng
nước gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường.
Khống chất: là phần vơ cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia
cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên
khoáng chất có một vai trị vơ cùng quan trọng đối với gia cầm.


15

Các chất khoáng đa lượng: Ca, P: trong cơ thể Ca chiếm 1,3 – 1,8%
khối lượng cơ thể, P chiếm 0,8 – 1% khối lượng cơ thể.
Khoáng vi lượng: các khống vi lượng gồm có Cu, Fe, Iodine, Mn, Zn
và Selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm.
Trong cơ thể vật ni và con người khống chất có vai trị quan trọng
trong q trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mơ

sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn
theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng
lượng. Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hồn hảo trên cơ sở tính tốn nhu
cầu của gia cầm.
- Ảnh hưởng của môi trường
Điều kiện mơi trường có ảnh hưởng lớn đến q trình sinh trưởng của
gia cầm. Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia
cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không
thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng
đến sức khỏe gia cầm.
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại
kinh tế lớn khi chăn nuôi gà Broiler theo hướng cơng nghiệp ở vùng khí hậu
nhiệt đới.
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất
nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm.
Ngồi ra trong chăn ni cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ
ẩm, độ thơng thống, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến
khả năng sinh trưởng của gia cầm.
Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là q trình
thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hồn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt
động của cơ thể. Hai q trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau
tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của cơ
thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn.


17

2.2.1.5. Các bệnh thường gặp trên gà thịt
Trong thời gian ni dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe
của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời.

+ Dùng nofacolipha vào nước hoặc trộn vào thức ăn, vitamin B –
complex: 1g/1 lít nước, vitamin C: 1g/1 lít nước. Dùng liên tục 3 – 5 ngày.
+ Hoặc dùng thuốc colistin: liều 1g/2 lít nước cho gà uống liên tục
trong 4 – 5 ngày.
 Bệnh CRD
- Nguyên nhân:
Do Mycoplasma gallisepticum gây ra.
Gà 2 – 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác,
thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm khơng khí cao.
- Triệu chứng:
+ Thời gian ủ bệnh từ 6 – 21 ngày.
+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy
nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn
duy trì ở mức độ thấp.
+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 – 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các
loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli). Vì vậy
trên gà thịt cịn gọi là thể kết hợp E. coli - CRD (C - CRD) với các triệu chứng:
âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc.
- Phịng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thơng
thống, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và ni dưỡng tốt, cho
uống thuốc để phịng bệnh.
- Điều trị:
+ CRD-Stop: liều 1 g/lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.
+ Tiamulin: liều 1 g/4 lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.


19

+ Gia cầm và thủy cầm: liều 1 g/ 2 – 4 lít nước uống.
 Bệnh Cầu trùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status