ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ LAI( CHỌI x LƯƠNG PHƯỢNG) TẠI TRẠI GÀ
THƯƠNG PHẨM XÃ KHE MO, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa:
Chăn nuôi thú y
Khóa học:
2013 – 2018
THÁI NGU YÊN, 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
TS. Ngô Nhật Thắng
THÁI NGUYÊN, 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời cảm ơn
tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã
truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm
học vừa qua.
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới Giảng viên TS. Ngô Nhật Thắng đã
tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi
Thú y đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực
tập tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa
vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi
sai sót. Em kính mong được ý kiến nhận xét của thầy cô để giúp cho kiến thức
của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc
sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Văn Chương
Vitamin
FCR
Hệ số chuyển hóa thức ăn
4
Nxb
Nhà xuất bản
MS
Mycoplasma synoviae
SS
Sơ sinh
TN
Thí nghiệm
+
G
Gram(+)
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần I. MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề.................................................................................................. 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề .......................................................... 2
1.2.1 Mục đích................................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 3
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................... 3
Phần II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 4
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ..................................................................... 4
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 4
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội .......................................................................... 5
2.1.3. Điều kiện cơ sở vật chất của trại ............................................................. 5
2.1.4. Cơ cấu tổ chức cơ sở thực tập ................................................................. 6
2.2. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước .................................. 6
2.2.1. Cơ sở khoa học....................................................................................... 6
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ...........................................
21
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 27
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................... 27
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................... 27
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................... 27
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi .................................. 27
3.4.1. Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin .............................................
27
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 28
3.4.3. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 28
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 30
chúng ta đã nhập một số giống gà lông màu nổi tiếng như Tam hoàng, Lương
phượng, Sacso, Kabir…hầu hết các giống gà thả vườn nhập nội đều chỉ thích
nghi hoặc thích nghi tốt với việc nuôi nhốt hoặc bán chăn thả, do tập tính lười
vận động, chậm chạp… do đó thịt nhão, chất lượng thịt không cao … không
đáp ứng được thị hiếu người tiêu dung. Bên cạnh đó con giống rất đắt và tốn
kém, đồng thời chúng ta lại không chủ động được con giống, phải phụ thuộc
vào các hãng cung cấp nước ngoài.
Các nhà khoa học nhận thấy, bản thân đàn gà địa phương của nước ta là
đàn gà lông màu, thả vườn, đã đáp ứng được rất nhiều tiêu chí về gà Label
Rouge mà thế giới đang phát triển: lông màu, thích nghi với việc chăn thả,
chất lượng thịt đặc biệt thơm ngon. Một số giống gà như gà Chọi, Đông Tảo,
gà Mía có ngoại hình rất đặc trưng của một giống gà cho thịt. Tuy nhiên,
chúng đều có nhược điểm rất lớn, đó là khả năng tăng trọng thấp, sinh sản
kém… dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, không đáp ứng được nhu cầu phát triển
của nền chăn nuôi trang trại tập trung quy mô lớn - một xu thế chăn nuôi gia
cầm đang phát triển nhanh và chắc chắn sẽ chiếm ưu thế trong tương lai gần,
khi mà nước ta tiến hành thành công sự nghiệp CNH - HĐH. Cả lý thuyết và
thực tiễn trong những năm qua đều chứng tỏ rằng, khi cho lai gà nội, nhất là
2
các giống có tầm vóc cơ thể lớn với gà thả vườn nhập nội thì các nhược điểm
kể trên của cả gà nội và nhập nội đều sẽ được khắc phục cơ bản, và đó cũng là
một một xu hướng lớn trong công tác nghiên cứu tạo ra con giống cho nền
chăn nuôi gà của nước ta hiện nay. Cách làm đó đáp ứng nhu cầu của thị
trường về con giống gà lông màu có chất lượng cao cho các trang trại chăn
nuôi theo phương thức chăn thả quy mô vừa và lớn, giảm sự phụ thuộc vào
việc nhập khẩu con giống từ bên ngoài, tiết kiệm được một phần ngoại tệ
đáng kể, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của người
- Áp dụng được các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho gà Chọi lai gà
Lương Phượng.
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết các phòng trị bệnh cho gà
Chọi lai gà Lương Phượng nuôi tại trại.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài sẽ bổ sung thêm minh chứng thực tiễn cho lý thuyết lai kinh tế
trong chăn nuôi gia cầm: từ nguồn nguyên liệu là giống gà Chọi nhiều ưu
điểm nổi trội, với phương pháp lai đơn giản, bước đầu thử nghiệm tạo ra con
lai với giống gà thả vườn nổi tiếng là gà Lương Phượng.
- Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn bởi, nếu thành công, đề tài sẽ
cung cấp cho thực tiễn một số công thức lai tạo ra con thương phẩm thích hợp
với phương thức chăn thả, ngoại hình và chất lượng sản phẩm phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng của nước ta.
- Khi phát triển công thức lai này vào thực tiễn sản xuất, sẽ thúc đẩy việc
tiêu thụ gà Chọi (để làm vật liệu), như vậy sẽ nâng cao được giá trị của các
con giống quý hiếm này, từ đó sẽ thúc đẩy việc bảo tồn các con giống bản địa
một cách bền vững.
4
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21032’ đến 21051’độ vĩ bắc,
105046’ đến 106004’ độ kinh đông. Phía bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc
Cạn, phía nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía đông
giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái
Nguyên. Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là
sẽ phải điều chỉnh kế hoạch kinh tế xã hội năm 2017. Cụ thể, huyện điều
chỉnh theo nguyên tắc: giảm các chỉ tiêu đã giao ở đầu năm và các thành
phần, cơ cấu chỉ tiêu tính cho địa bàn toàn huyện nằm trên địa bàn 3 đơn vị:
thị trấn Chùa Hang, xã Linh Sơn, xã Huống Thượng. Trong đó, cơ cấu kinh tế
ngành công nghiệp, xây dựng sau khi điều chỉnh sẽ còn 38,8%; ngành dịch vụ
sau điều chỉnh còn 25,7%; ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản sau điều chỉnh
còn 35,5% tăng 16,25%...
2.1.3. Điều kiện cơ sở vật chất của trại
Với sự đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm nâng
cao hiệu quả và giảm công sức lao động trang trại đã có những đầu tư về cơ
sở vật chất như sau:
-Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh.
- Trại gồm có 3 gian trại gà và 3 gian trại lợn được nát nền bê tông và
lợp tấm lợp Fibro xi măng, có 1 gian trại lợn là được lợp mái tôn và có
tấm cách nhiệt.
-Mỗi trại gà đều được lắp đặt quạt trần và 1 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ.
6
- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng
nước giếng khoan.
- Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha.
- Xung quanh trại đều đều có cây xanh che bóng mát và chắn gió.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức cơ sở thực tập
Cơ cấu của trại tổ chức như sau :
2
- Diện tích chuồng trại là 800m (3 chuồng).
- Chuồng gà 3 dãy gồm: 1 dãy có thể nuôi 2000 con gà thịt thương phẩm
- Chỉ tiêu năng suất gà Lương Phượng:
+ Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007) [1],
cho biết: khối lượng gà Lương Phượng đến 12 tuần tuổi là 2,0 - 2,5kg; tiêu
tốn thức ăn/kg khối lượng là 3,0 - 3,2kg. Khối lượng gà vào lúc đẻ: 1,9 2,1kg (gà mái); 2,8 - 3,2kg (gà trống). Sản lượng trứng/10 tháng đẻ là 150 170 quả/mái. Tỷ lệ ấp nở 80 - 85%.
* Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà Chọi
Gà Chọi là một giống gà nội nổi tiếng, được nuôi ở nhiều vùng miền
trên cả nước. Gà Chọi tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ, được tuyển
chọn thông qua các cuộc thi gà truyền thống nên màu sắc lông tương đối
thuần nhất.
Gà trống Chọi có màu lông cơ bản là màu đen, màu trắng, màu xám và
màu tía đỏ…
Gà mái Chọi có ba màu lông cơ bản là đốm den, màu xám và màu nâu.
Gà Chọi trường mình, kết cấu thân hình chắc khoẻ. Gà trống đầu tinh nhanh,
mình hình cốc, cánh hình vỏ trai, đuôi hình nơm, mào đa số mào xuýt, diều
cân ở giữa, bàn chân dài, đùi dài và săn chắc, vòng chân tròn, các ngón tách
rời nhau, móng chân và cựa sắc nhọn.
Gà mái ngực nở, chân cao vừa phải, mào xuýt, kết cấu toàn thân vững
chắc. So với các giống gà nội khác thì gà Chọi trường mình (dài) hơn, tầm
8
vóc to, nhanh nhẹn và hung giữ hơn. Gà Chọi mọc lông chậm nên khả năng
chống rét rất kém, không nên thả gà ra ngoài lúc sáng sớm có sương muối
hoặc nhiệt độ môi trường thấp. Gà Chọi trưởng thành có bộ lông bóng mượt,
tiếng gáy vang, hình dáng cơ thể cân đối và đặc tính rất hăng có tiềm năng
theo hướng gà cảnh và hướng tới nuôi thương phẩm.
Gà có tầm vóc tương đối lớn, thon gọn. Khối lượng gà trưởng thành: con
trống 2,8 – 3,8kg; con mái đạt 2,0 – 3,0kg. Khả năng tăng trọng của gà Chọi
rất chậm, nuôi 12 tuần tuổi mới đạt khối lượng 1,0 - 1,4 kg ở con trống; 0,8 1,2 kg ở con mái, đặc biệt trong thời gian này đàn gà cắn mổ nhau mạnh mẽ
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực. Diều dự trữ và
chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với
một phần tinh bột được thủy phân.
*Tiêu hóa ở dạ dày
Tiêu hóa ở dạ dày tuyến
Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: Màng nhầy, màng cơ,
màng thanh dịch. Màng nhầy rất phát triển. Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và
axit muối. Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 – 4,5.
Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit
clohydric, enzim và musin. Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở
dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric. Các
tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu
musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở
gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên.
Tiêu hóa ở dạ dày cơ
Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất
dày, có màu đỏ sẫm. Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan.
10
Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn
(đắng, chua) thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (thực quản và diều). Nước
qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột. Nếu gia cầm đói, thức ăn
đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều).
Dưới ảnh hưởng của men amilaza của tuyến nước bọt, tinh bột được
đường hóa do quá trình vi sinh vật phân giải ở diều. Thời gian thức ăn ở diều
phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút
còn khối lượng lớn thì vài giờ.
Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở
khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá
ở màng). Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn
được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản
phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế
bào biểu mô. Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai
đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin,
monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu.
Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế. Cũng như ở động vật
có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để
tiêu hoá xơ. Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các
men do vi khuẩn tiết ra. Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như
đà điểu, ngan, ngỗng... thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn.
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ quan hô hấp của gà
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998)[4] cho biết: hệ
hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi,
9 túi khí.
12
- Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ. Ở gà, phía ngoài
hai lỗ mũi có “van mũi hoá sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông
cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước.
- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7.
Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: phần xương và phần sụn. Xoang mũi nằm ở
mỏ trên. Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở
gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi
không khí và tạo nên âm thanh.
- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng
hoá xương. Số vòng khí quản ở gà là 110 - 120 và hầu hết là sụn, còn ở thuỷ
khí. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Gia
cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ. Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm
xuống 30 - 40 %. Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng. Nếu nhiệt độ tăng tới
370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút. Tần số hô hấp ở gà trưởng thành
là 25 - 45 lần/phút. Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút.
Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với
sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính.
Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp.
Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực
thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi. Lúc
hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí. Lúc thở ra
thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ hai, vì
vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép. Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không
khí tuần hoàn hai lần nên lượng oxygen cung cấp vẫn đảm bảo.
Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50%.
Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất
tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100%.
14
Hoạt động của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: khí lưu thông, khí
hít vào thêm, khí thở ra thêm. Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng
hô hấp lớn nhất của gia cầm.
Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi là
3
khí cặn. Hoạt động phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm .
Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô
bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo Oxy Hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu. Lượng O2 tối đa kết hợp với
lượng nước khoảng 50ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày. Khi thời tiết ấm áp,
nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng nước
gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường.
Khoáng chất: là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia cầm,
thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khoáng
chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm.
Các chất khoáng đa lượng: Ca, P: trong cơ thể Ca chiếm 1,3 – 1,8% khối
lượng cơ thể, P chiếm 0,8 – 1% khối lượng cơ thể.
Khoáng vi lượng: các khoáng vi lượng gồm có Cu, Fe, Iodine, Mn,
Zn và Selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm.
Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng
trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mô
thịt…, một số chất khoáng có vai trò trong quá trình tạo các kênh ion như
Na+, K+… một số khác lại có tác dụng trong việc kích thích sự hoạt động của
các enzyme, khoáng chất còn có tác dụng trong việc tham gia hệ thống đệm
trong cơ thể.
2.2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của gà thịt
- Ảnh hưởng của dòng giống
Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng
sinh trưởng khác nhau.
Theo tài liệu của Chambers J. R. (1990) [18], thì nhiều gen ảnh hưởng
đến sự phát triển của gà. Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh
hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ.
16
- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể gà do
yếu tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh
nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm.
Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ
ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến
khả năng sinh trưởng của gia cầm.
Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình
thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt
động của cơ thể. Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau
tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của cơ
thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn.
2.2.1.5. Các bệnh thường gặp trên gà thịt
Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe
của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời.
Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:
Bệnh Bạch lị
- Nguyên nhân:
Do vi khuẩn Gram âm Salmonella gallinarum và Salmonella
pullorum gây ra, chủ yếu thông qua đường tiêu hoá và hô hấp. Gà đã khỏi
bệnh vẫn tiếp tục thải vi khuẩn ra theo phân, đây là nguồn lây lan quan
trọng và nguy hiểm nhất.
- Triệu chứng:
+ Ở gà con: gà bị bệnh nặng từ mới nở đến 2 tuần tuổi, tỷ lệ mắc bệnh
cao nhất vào lúc 24 – 28 giờ sau khi nở. Biểu hiện: Gà yếu, bụng trễ do lòng
đỏ không tiêu, tụ tập thành từng đám, kêu xáo xác, ủ rũ. Lông xù, ỉa chảy,