MỘT SỐ ĐỀ VĂN THAM KHẢO HKI 12 - LỚP 12A TRƯỜNG THPT VĨNH BÌNH BẮC-KIÊN GIANG - Pdf 70

MỘT SỐ ĐỀ VĂN THAM KHẢO
Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
….
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Gợi ý
1. Giới thiệu về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, giới thiệu đoạn trích
- Quang Dũng (1921-1988), quê ở huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Ông làm thơ, viết văn và vẽ tranh. Tiêu
biểu là tập thơ Mây đầu ô (1986).
- Tây Tiến in trong tập Mây đầu ô. Bài thơ ra đời gắn với một chặng đường hoạt động trong quân đội của nhà
thơ.
- Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào bảo vệ
biên giới Việt - Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà
Nội.
- Bài thơ ra đời khi Quang Dũng rời xa đơn vị, nỗi nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội thôi thúc và tạo nguồn cảm
hứng cho nhà thơ.
- Bài thơ gồm bốn đoạn. Đây là đoạn là đoạn thứ ba trong thi phẩm.
2. Cảm nhận đoạn thơ
a) Sơ lược về đoạn thơ
Trên cái nền hùng vĩ và diễm lệ của núi rừng miền Tây (đoạn thơ 1 và 2), tới khổ thơ này chân dung người
lính Tây Tiến được thể hiện qua dòng hồi tưởng và nỗi nhớ của Quang Dũng. Hình ảnh người lính Tây Tiến
được tái hiện với tầm vóc bi tráng khác thường, tầm vóc của những con người "Quyết tử cho Tổ quốc quyết
sinh" song vẫn đậm chất lãng mạn, thơ mộng, hào hoa.
b) Hai câu thơ đầu
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm"
Bệnh sốt rét làm rụng hết tóc và màu da xanh như lá của đoàn binh Tây Tiến là hiện thực khắc nghiệt
được diễn tả bằng phép tạo hình thật dữ dội: vừa tột cùng cơ cực (không mọc tóc) vừa lẫm liệt kiêu hùng (dữ
oai hùm). Hai câu thơ bật lên từ hiện thực trần trụi mà vẫn tạo được vẻ đẹp khác thường của người lính. Cụm từ
"dữ oai hùm" thể hiện cái đẹp của dũng khí, nét oai phong của người chiến binh. Người chiến sĩ Tây Tiến mang
cái oai linh của núi rừng trong dáng vẻ lẫn cốt cách của mình.

một thời: hình ảnh người lính: "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Đề 2: Phân tích hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến.
1. Giới thiệu khái quát:
- Quang Dũng (1921-1988) là nghệ sĩ đa tài nhưng nổi bật là thơ. Tây Tiến là bài thơ nổi bật nhất trong đời
thơ của ông nói về những kỷ niệm với trung đoàn Tây Tiến.
- Trung đoàn Tây tiến thành lập năm 1947, hoạt động ở vùng biên giới Tây Bắc hoang vu, khắc nghiệt. Đơn
vị phần lớn là thanh niên Hà Nội: học sinh, sinh viên, trí thức... Quang Dũng là một thành viên của đoàn quân
ấy.
- Cuối năm 1948, Quang Dũng rời xa Tây Tiến. Cảm xúc về những kỉ niệm dâng trào, ông viết Nhớ Tây
Tiến (in lần đầu năm 1949) sau đổi là Tây Tiến. Bài thơ đặc biệt thành công trong việc khắc hoạ hình tượng
người lính.
2. Hình tượng người lính Tây Tiến:
- Vẻ đẹp hào hùng:
+ Trong cuộc trường chinh gian khổ: người lính ở đây là những trí thức, học sinh, sinh viên xuất thân Hà Nội,
chưa quen với gian lao, lại phải ném vào cuộc hành quân dài ngày, địa hình hiểm trở, khắc nghiệt, phải đối mặt
với cái chết từ nhiều phía.
+ Tư thế hành quân, dáng vẻ dữ dội khác thường của người lính (chú ý một số hình ảnh: gục lên súng mũ bỏ
quên đời, đoàn binh không mọc tóc, xanh màu lá, dữ oai hùm, mắt trừng…)
+ Lí tưởng chiến đấu cao đẹp và tinh thần hi sinh cho Tổ quốc (đi sâu phân tích các hình ảnh: những nấm mồ
viễn xứ, chẳng tiếc đời xanh, chẳng về xuôi, âm thanh trầm hùng của sông Mã đưa tiễn những người con hi sinh
về đất mẹ.
- Vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn:
+ Vẻ đẹp của tình người: gian khổ, ác liệt, hi sinh, người lính ở đây vẫn là những con người mơ mộng, lãng
mạn, quyến luyến tình người (tình cảm với cô gái Mai Châu mùa cơm mới, dáng kiều thơm của cô gái Hà thành,
dáng hình sơn nữ trên con thuyền độc mộc).
+ Cảm xúc về thiên nhiên: tinh tế trong phát hiện và cảm nhận cái đẹp (một nếp nhà sàn thấp thoáng trong
mưa, hồn lau nơi bờ suối, dáng hình sơn nữ buổi hoàng hôn, bông hoa đong đưa trên dòng nước…). Dễ say đắm
trước những vẻ đẹp man sơ và khác lạ (dốc thăm thẳm, cồn mây heo hút, thác gầm thét, cọp trêu người…)
+ Tâm hồn lạc quan, yêu đời, nguyện dấn thân vào cuộc chiến đấu được thể hiện qua quan niệm lãng mạn về
người anh hùng (coi cái chết nhẹ tựa lông hồng) và qua nếp sinh hoạt văn hoá ngay trong những ngày gian khổ,

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người"
Câu hỏi tu từ "mình có nhớ ta" vừa là lời thoại, nhưng đồng thời vừa là cái cầu nối sang câu dưới, là cái cớ để
bày tỏ tấm lòng của mình. Ra về, lòng vẫn nhớ. Nhớ nhất, lưu luyến nhất hoa cùng người. Hoa ở đây là thiên
nhiên; thiên nhiên đẹp, tươi sáng như hoa vậy. Hoà vào thiên nhiên ấy là con người. Hoa cùng người là hai bộ
phận khăng khít không thể tách rời trong bức tranh Việt Bắc.
- Tám câu thơ còn lại tràn ngập ánh sáng, đường nét và màu sắc tươi tắn. Cảnh và người hoà quyện vào nhau.
Trong bốn cặp lục bát, câu sáu dùng cho nhớ cảnh, câu tám nhớ người. Cảnh và người trong mỗi cặp câu lại có
những điểm, sắc thái riêng. Cứ thế đoạn thơ lần lượt gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ, mở ra trước mắt người đọc
những phong cách đa dạng về đường nét, màu sắc, ánh sáng, âm thanh, gợi ở chúng ta những rung động trước
khung cảnh vừa hùng vĩ, vừa mênh mông, man mác.
- Phong cảnh mà tác giả gợi tả ở đây là phong cảnh núi rừng diễn biến qua vẻ đẹp riêng của bốn mùa trong
năm: mùa đông, rừng biếc xanh đột ngột, đây đó bùng lên màu đỏ tươi rói của hoa chuối rừng như những bó
đuốc thắp lên sáng rực. Xuân sang, rừng lại ngập trắng hoa mơ "nở trắng rừng". Cái màu trắng dìu dịu, tinh
khiết phủ lên cả cánh rừng, gợi lên một cảm giác thơ mộng, bâng khuâng. Rồi hè đến, "Ve kêu rừng phách đổ
vàng". Chỉ trong một câu thơ mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo mùa hè - hè
đến - cây phách chuyển màu vàng. Sự đổi thay sinh động ấy làm sống dậy thời gian. Và cảnh rừng đêm thu dưới
ánh trăng hoà bình âm vang tiếng hát. Như vậy có buổi trưa tràn đầy ánh nắng, có ban đêm êm dịu. Mùa nào
cũng đẹp, cũng đáng yêu, mỗi mùa là một bức tranh.
- Một vẻ đẹp nữa trong bộ tranh tứ bình ấy là vẻ đẹp con người. Con người và những hoạt động của con
người là một bộ phận không thể tách rời trong khung cảnh Việt Bắc. Dường như khó có thể hình dung "đèo cao
nắng ánh" lại thiếu hình ảnh người lên núi, mùa xuân lại thiếu cảnh "người đan nón", hè sang lại thiếu cảnh "cô
em gái" đi hái măng. Thiên nhiên và con người đã hoà quyện và tô điểm cho nhau. Và trong nỗi nhớ nhà của
người ra đi, kỷ niệm về những con người Việt Bắc là kỷ biện đậm đà nhất, sâu sắc nhất. Trong nỗi nhớ, con
người lại càng thêm gần gũi, gần với thiên nhiên và gần bên nhau.
- Bao trùm cả đoạn thơ là tình cảm nhớ thương tha thiết, tiếp tục âm hưởng chung của nghệ thuật ca dao.
Những câu thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, câu nọ gợi câu kia, ý nọ gợi tiếp ý kia cứ trào lên dạt dào cảm
xúc qua cách xưng hô "mình - ta" thắm thiết. Nhạc điệu dịu dàng, trầm bổng khiến cả đoạn thơ mang một âm
hưởng bâng khuâng, êm êm như một khúc hát ru - khúc hát ru kỷ niệm. Đặc biệt từ nhớ được lặp lại nhiều lần,
mỗi lần một sắc thái khác nhau và cấp độ tăng lên làm cụ thể hơn tấm lòng lưu luyến của tác giả với chiến khu,
với cảnh và người Việt Bắc. Đoạn thơ được mở đầu bằng câu thơ kiểu dân gian "Ta về, mình có nhớ ta" thì cuối

(Cần so sánh với hình tượng đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi và hình tượng đất nước của Tố Hữu, Chế
Lan Viên… thời chống Mĩ để thấy nét độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm)
b) Trách nhiệm với đất nước (4 dòng thơ còn lại).
- 4 dòng thơ nói về trách nhiệm của thế hệ trẻ với đất nước mà như một lời nhắn nhủ tha thiết, chân thành.
Bởi đất nước được cảm nhận hết sức thiêng liêng mà thật gần gũi: "là máu xương của mình". "Gắn bó", "san
sẻ", "hoá thân"… vừa là trách nhiệm vừa là nghĩa vụ, là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước. Những dòng thơ
hay ở cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
- Sử dụng các từ mệnh lệnh: "phải biết", một loạt từ chỉ hành động liên tiếp nhưng đoạn thơ không phải là
những lời răn dạy, giáo huấn khô khan, khó tiếp nhận. Trái lại vẫn rất thơ và dễ đi vào lòng người.
3. Đánh giá
- Đoạn thơ tập trung được những phẩm chất tiêu biểu của Mặt đường khát vọng : tính chính luận hài hoà với
chất trữ tình, giọng thơ tha thiết, dịu ngọt, ngôn từ hình ảnh đẹp, sáng tạo.
- Viết về đề tài quen thuộc: đất nước nhưng thơ Nguyễn Khoa Điềm và đoạn trích vẫn có vị trí riêng. Những
nhận thức mới mẻ về đất nước, tình cảm xúc động thiêng liêng của đoạn thơ gợi được lòng yêu nước, tinh thần
trách nhiệm với đất nước ở người đọc.
Đề 5: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:
“Cuộc đời tuy dài thế
...
Để ngàn năm còn vỗ”.
1. Sóng là một bài thơ tiêu biểu cho thơ tình yêu của Xuân Quỳnh. Bài thơ có âm hưởng dào dạt như nhịp
những con sóng - thực ra việc diễn tả nhịp điệu bên ngoài (sóng) chỉ là để diễn tả nhịp điệu bên trong của tâm
hồn (những cảm xúc, suy tư trong tình yêu). Nói cách khác, bên cạnh hình tượng sóng, bài thơ còn có một hình
tượng khác, luôn gắn liền với sóng, là "em". Sóng chính là sự hoá thân, là hình ảnh ẩn dụ của tâm hồn người
phụ nữ trong tình yêu. Ngời phụ nữ ấy soi vào sóng để thấy mình rõ hơn, nhờ sóng để biểu hiện những trạng
thái xúc động, những nỗi khao khát của lòng mình, để khẳng định tình yêu.
2. Ngay từ lời mở đầu, Xuân Quỳnh đã dùng hình tượng sóng để biểu hiện khát vọng tình yêu. Tình yêu cũng
như sóng luôn là chuyện của muôn đời. Nhu cầu nhận thức về tình yêu cũng là biểu hiện cụ thể của tình yêu; khi
nào còn mong muốn hiểu biết về tình yêu của mình thì người ta còn yêu nhau. Tình yêu luôn có người bạn đồng
hành là nỗi nhớ, là nỗi lo âu và suy tư - qua đó có thể thấy quan niệm tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh vừa có nét
mới mẻ, hiện đại vừa có cội nguồn sâu xa từ tình cảm truyền thống của dân tộc.

...
Hướng về anh một phương”
Các ý chính:
- Giới thiệu vài nét về tác giả: Xuân Quỳnh (1942-1988), là nữ thi sĩ trởng thành trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước.
- Sóng là bài thơ tình tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh - luôn luôn trăn trở, khát khao được yêu thương, gắn
bó. Bài thơ được rút ra từ tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968).
* Bình giảng
1. Nỗi nhớ được biểu hiện bằng hình tượng "Sóng"
Biện pháp nghệ thuật:
- Dùng từ đối lập: dưới - trên; lòng sâu - mặt nước;
- Dùng điệp từ "con sóng" ba lần;
- Nhân cách hóa: "con sóng nhớ bờ, ngày đêm không ngủ".
Cách diễn đạt trên đây nhằm thể hiện nỗi nhớ dồn lên tầng tầng, lớp lớp như từng đợt sóng. Con sóng nhớ bờ
thao thức, trào dâng tưởng chừng tới tột độ.
Tất cả nhằm thể hiện nỗi nhớ da diết trong tâm hồn người con gái đang yêu. Nỗi nhớ tầng tầng lớp lớp đan
xen nhau, nối tiếp nhau, thôi thúc, giục giã.
2. Nỗi nhớ được biểu hiện trực tiếp
Thường trực, liên tục, cho dù đó là đêm hay ngày:
- "Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
- Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phơng"
Xuân Quỳnh đã tìm được cách nói đạt nhất để biểu hiện nỗi nhớ trong tình yêu: ngủ, thức ("dẫu xuôi",
"dẫu ngược") đều không yên vì nhớ mong, vì đợi, chờ, vì hướng "về anh".
Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh có màu sắc của ca dao:
"Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than"
Đó là trạng thái bồn chồn, xao xuyến, không ổn định, bứt rứt như cắn xé, như giục giã lòng người, đứng ngồi
không yên vì nỗi nhớ thường trực.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status