KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ SẢN PHẨM
AN SINH GIÁO DỤC
I. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1. Sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ (BHNT).
Bảo hiểm là sự chia sẻ rủi ro giữa một số đông với một số ít trong số họ phải
gánh chịu những rủi ro. Có thể nói nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi vào lịch
sử là năm 1583, ở thị trường Luân đôn một nhóm người đã thoả thuận góp tiền và
số tiền này sẽ được trả cho người nào trong số họ bị chết trong 1 năm. Đây cũng là
mầm mống của nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT).
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy
cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Các rủi ro do nhiều nguyên nhân, ví dụ
như:
- Các rủi ro do môi trường thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, hạn hán...
- Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật. Khoa học kỹ
thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản5 xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc
sống con người nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tai nạn ôtô,
hàng không , tai nạn lao động...
- Các rủi ro do môi trường xã hội. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra
rủi ro cho con người, khi xã hội càng phát triển thì con người càng có nguy cơ gặp
nhiều rủi ro như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, lạm phát...
Bất kể là do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người
những khó khăn trong cuộc sống như nguy hại đến bản thân, hao tổn tài chính gia
đình... làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội. Để đối phó với những rủi ro con
người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục những
hậu quả do rủi ro gây ra. Đó là nhóm biện pháp kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro.
+ Nhóm biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi ro,
ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro. Các biện pháp này thường được sử dụng để
ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro. Tuy nhiên là biện pháp này đã
giúp chúng ta ngăn chặn và giảm thiểu rất nhiều rủi ro trong cuộc sống nhưng khi
rủi ro xảy ra chúng ta không ngăn ngừa hết được hậu quả.
vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội văn minh".
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 8 đến 9% và tốc độ tiêu
dùng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thì tiết kiệm trong dân sẽ không ngừng
tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng so với GDP. Đa số với người dân, ngoài khả
năng gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng thì thường rất ít khả năng để đầu tư những
khoản tiền nhàn rỗi. Như vậy cùng với việc tăng nhanh số lượng và tỷ lệ tiết kiệm
trong dân, nhà nước cần phải có giải pháp, chính sách và công cụ để huy động
mạnh nguồn vốn trong dân cho đầu tư phát triển.
BHNT từ khi ra đời và triển khai các nghiệp vụ BHNT hỗn hợp mang tính
chất vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm đã và đang huy động được một lượng vốn không
nhỏ trong dân. Tuy bước đầu, lượng người tham gia bảo hiểm chưa lớn, số hợp
đồng tham gia ở mức trách nhiệm cao cũng chưa nhiều, nhưng đã mở ra thêm cho
người dân một cách thức tiết kiệm mới đồng thời góp phần vào phát triển nguồn
vốn, tăng đầu tư cho đất nước.
2. Vai trò và vị trí của BHNT
2.1. Vai trò của BHNT
Để đánh giá được đầy đủ ý nghĩa và vai trò của BHNT, trước hết chúng ta
cần hiểu rõ khái niệm về BHNT:
Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia
bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ
hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định
trước xảy ra (người được bảo hiềm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định)
còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác,
BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi
thọ con người.
BHNT ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi
quốc qia:
Thứ nhất: BHNT góp phần ổn định tài chính cho người tham gia hoặc
người được hưởng quyền lợi bảo hiểm.
Nhắc đến BHNT là phải nhắc đến vai trò đầu tiên này, rủi ro là cái không thể
BHNT Việt Nam và sự ra đời của Luật Bảo hiểm ngày 7/12/2000. Đây là một
trong các biện pháp của Nhà nước nhằm tạo ra các nguồn vốn dồi dào cho đầu tư
phát triển Đất nước với chủ trương là chủ yếu dựa vào nguồn nội lực và tranh thủ
nguồn ngoại lực, chúng ta có quyền hy vọng thông qua BHNT có thể trong thời
gian tới dần dần sẽ thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư vì lượng tiền này
được dự kiến sẽ lên tới hơn 10 tỷ (được dự trữ dưới dạng ngoại tệ cũng như vàng).
Ngoài ra, khi các công ty BHNT nước ngoài tham gia vào thị trường BH Việt Nam
nguồn vốn do họ đầu tư vào cũng sẽ rất lớn. Thêm vào đó, do đặc điểm của BHNT
là mang tính dài hạn, nguồn vốn huy động được có thể đem đầu tư trong một thời
gian dài đây là đựoc coi là nguồn vốn tuyệt vời nhất cho các dự án kinh tế lớn.
Thứ tư: BHNT tạo ra một số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao
động.
Với dân số gần 80 triệu lại là dân số trẻ, hàng năm riêng số lượng sinh viên
ra trường cũng là cả một thách thức đối với xã hội, việc làm luôn là vấn đề nóng
bỏng khi mà lượng người không có việc làm ngày càng nhiều và trong đó ngoài
những người không có trình độ thì cũng có rất nhiều người có trình độ không được
sử dụng đúng mục đích. Hoạt động BHNT cần một mạng lưới rất lớn các đại lý
khai thác bảo hiểm, đội ngũ nhân viên tin học, tài chính, kế toán, quản lý kinh tế...
Vì vậy, phát triển BHNT đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm bớt số
lượng người thất nghiệp, bớt đi gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Cứ nói riêng ở
công ty BHNT Hà Nội, với số lượng cán bộ khai thác ở mỗi phòng lên đến trên
dưới 50 người, riêng nội thành đã có 16 phòng khai thác, đa số đấy đều là các cán
bộ chuyên nghiệp chưa kể đến các đại lý bán chuyên nghiệp rải rác ở từng quận
huyện, ngoài ra BHNT còn có 60 công ty khác ở khắp các quận huyện trong cả
nước.
Thứ năm: BHNT là biện pháp đầu tư hợp lý cho giáo dục và góp phần tạo
nên một tập quán, một phong cách sống mới.
Đối với những nước đang phát triển, đầu tư cho giáo dục là rất quan trọng và
phải coi là nền tảng của sự phát triển. Tuy nhiên khi chi phí cho giáo dục ngày một
tăng thì nguồn lực của các nước này lại rất hạn hẹp, bên cạnh các biện pháp hỗ trợ
đời khá lâu là BHNT với lịch sử phát triển 400 năm, nó đang ngày càng chứng tỏ
vị thế của mình trong thị trường bảo hiểm nói chung.
2.2.2 BHNT ngày càng lớn mạnh và trở thành một bộ phận quan trọng không thể
thiếu được trên thị trường BH.
Thực tế cho thấy tốc độ phát triển của nghiệp vụ BHNT trên thế giới không
ngừng tăng và chiếm tỉ lệ lớn doanh thu trong tổng doanh thu của các nghiệp vụ
BH. Tuy nhiên tốc độ phát triển của BHNT rất không đồng đều. Nếu như ở châu
Mỹ Latinh phí BH từ hoạt động kinh doanh BHNT rất thấp, chỉ chiếm khoảng
21,4% thì ở châu Âu phí BHNT đạt tỉ lệ cân đối trong khoảng từ 41,8% - 49,3%
còn tỉ lệ phí BHNT ở châu Đại đương chiếm 52,3% trong toàn bộ doanh thu phí
nghiệp vụ BH.
Tóm lại, dù đứng trên giác độ khách quan hay chủ quan chúng ta cũng phải
thừa nhận rằng BHNT vẫn ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của
mình trong thị trường BH nói riêng và trong nền kinh tế của các quốc gia, nền kinh
tế thế giới nói chung.
3. Những đặc điểm cơ bản của BHNT.
3.1 BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro.
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với BH phi
nhân thọ, tham gia BHNT người mua có trách nhiệm nộp phí BH cho người BH
theo định kỳ đồng thời người bảo hiểm cũng có trách nhiệm trả một số tiền lớn
(STBH) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thoả thuận khi có các sự kiện
bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm này trả khi người được bảo hiểm sống đến một
độ tuổi nhất định, hoặc cho người thừa hưởng khi người được bảo hiểm tử vong
trong thời hạn được bảo hiểm. Số tiền này không thể bù đắp về mặt tình cảm
nhưng bù đắp phần nào những tổn thất về mặt tài chính.
Tính tiết kiệm trong bảo hiểm thể hiện ở ngay trong từng cá nhân, gia đình
một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật. Tiết kiệm bằng cách mua bảo
hiểm khác với các loại hình tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm không những
tích luỹ về mặt tài chính mà còn mang tính bảo vệ cho bản thân, khi có rủi ro xảy
ra cho bản thân thì vẫn được đảm bảo về mặt tại chính, dó chính là đặc điểm cơ
BHNT, còn phần chủ yếu là phụ thuộc vào:
+ Độ tuổi của người tham gia bảo hiểm
+ Tuổi thọ bình quân của con người
+ Số tiền bảo hiểm
+ Thời hạn tham gia bảo hiểm
+ Phương thức thanh toán
+ Lãi suất đầu tư
+ Tỉ lệ lạm phát, thiểu phát của đồng tiền
......
Đối với sản phẩm BHNT, để định giá phí BHNT thì phải dựa trên từng vùng
địa lý, từng quốc gia, từng chế độ xã hội, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước
khác nhau là khác nhau. Hơn nữa còn phải nắm vững đặc trưng cơ bản của từng
loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích chiều hướng phát triển chung của
mỗi loại sản phẩm trên thị trường...
3.5 BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định.
Trên thế giới, BHNT đã ra đời hàng trăm năm nay nhưng cũng có những quốc
gia chưa triển khai được BHNT mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của
nó. Nguyên nhân của hiện tượng này được các nhà kinh tế giải thích rằng, cơ sở
chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là phải có những điều kiện kinh tế xã hội
nhất định:
- Những điều kiện về kinh tế
+ Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) phải đạt đến một mức
độ nhất định, thể hiện sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
+ Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân đầu người phải đạt mức trung bình
trở lên.
+ Mức thu nhập của dân cư phải phát triển đến một mức độ nhất định để không
những đảm bảo nhu cầu tối thiểu của con người mà còn đáp ứng được những nhu
cầu cao hơn.
+ Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền phải tương đối ổn định
+ Tỷ giá hối đoái phải ổn định ở mức hợp lý thì người dân mới tin tưởng mà
đầu hoạt động chính thức từ ngày 15/01/1965. Kể từ đó cho tới trước năm 1993, ở
nước ta chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm là Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam
(BAOVIET) trực thuộc Bộ Tài chínhTrong những năm gần đây, Đảng và Nhà
nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới về kinh tế, từng bước đưa nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, tạo ra tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển kinh tế mới, đẩy
mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ : “Khuyến khích
phát triển, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh bảo hiểm cuả các thành phần kinh tế
và mở cửa hợp tác với nước ngoài...”. Đường lối đổi mới kinh tế, xây dựng nền
kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thi trường với định hướng xã hội chủ nghĩa
đã thể hiện trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại, cụ thể là ngày 18/12/1993 Chính
phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ban hành nghị định 100/CP về kinh
doanh bảo hiểm. Đây là văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên đặt nền móng cho
pháp luật về bảo hiểm trong điều kiện kinh tế thị trường. Nghị định này là bước
ngoặt quan trọng tuyên bố chấm dứt sự độc quyền Nhà nước về kinh doanh bảo
hiểm tại Việt Nam. Theo nghị định này các doanh nghiệp bảo hiểm có thể là doanh
nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, Hội bảo hiểm tương hỗ, công ty liên
doanh với nước ngoài, chi nhánh hay công ty 100% vốn nước ngoài. Và có thể nói
đây là thời kỳ bắt đầu của việc “tự do hoá” và mở cửa thị trường Việt Nam.
Với nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của BHNT, trong những
năm qua Chính phủ và Bộ Tài chính rất quan tâm phát triển nghiệp vụ Bảo hiểm.
Với sự ra đời của công ty BHNT chính thức đầu tiên ở Việt Nam năm 1996 đã
khẳng định rõ sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước tầm vĩ mô. Mặc dù chúng ta
mới tiến hành nghiệp vụ BHNT hơn 5 năm, nhưng những gì BVNT Việt Nam đạt
được trong thời gian đó rất đáng ghi nhận. Tạo nên cho người dân Việt Nam một
phong tục sống mới, một hình thức tiết kiệm mới.
Năm 1999 với sự tham gia của một số công ty BHNT có vốn nước ngoài thị
trường BHNT Việt Nam đã trở nên sôi động hơn và phong phú hơn. Giúp cho
người dân có thể lựa chọn cho mình sản phẩm bảo hiểm phù hợp nhất. Cho đến