TỔNG QUAN VỀ SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ - Pdf 71

QUAN VỀ SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ
1.1.1. Quá trình phát triển sở giao dịch hàng hoá
Đối với nhiều người thì nhắc đến sở giao dịch hàng hoá là nhắc đến một hệ thống
thị trường phức tạp với một hệ thống giao dịch phát triển các giao dịch tương lai và quyền
chọn hàng hoá như những sở giao dịch nổi tiếng như sở Thương Mại Chicago (CBOT), sở
giao dịch ngũ cốc Tokyo (Tokyo Grain Exchange), hay là sở giao dịch kim loại Luân Đôn
(London Metal Exchange). Đối với một số người khác thì lại cho rằng sở giao dịch là một
cơ cấu thị trường tiên tiến được sử dụng ở các nước công nghiệp các nước có thu nhập
thấp không thể mơ tới.
Lịch sử về sự phát triển thị trường ở Chicago đã cho thấy rằng, hệ thống thị trường
sẽ dần phát triển cùng với sự phát triển của các thị trường này cũng như khi sự tăng tưởng
kinh tế chứ không phải xuất phát từ một thị trường phức tạp ngay từ đầu. Hay nói khác đi,
sở giao dịch Chicago không bắt đầu từ một thị trường phát triển ngay như ngày hôm nay.
Vào những năm 1840, khi mà việc sản xuất ngũ cốc ngày càng phát triển nhờ sự cải tiến về
công nghệ thì những người nông dân ở phía Tây nước Mĩ thường đến Chicago để bán ngũ
cốc cho các thương gia, rồi sau đó những người này sẽ đưa lượng hàng hoá này đi khắp cả
nước. Dần dần, hoạt động này trở nên sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà kho chứa lúa
mì của nông dân. Khối lượng sản xuất ngày càng lớn trong khi hệ thống vận tải chưa phát
triển phù hợp không thể đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Khi những người
nông dân này đến Chicago họ không hề biết trước giá cả thị trường, hơn nữa ở Chicago lúc
này có rất ít các công cụ để cất trữ hàng hoá và cũng không có một quy trình chuẩn nào để
cân và đánh giá chất lượng ngũ cốc, khiến cho nông dân rơi vào thế bị động và phụ thuộc
vào thương nhân. Thị trường tiêu thụ hỗn loạn, các nhà đầu cơ lợi dụng tình trạng này ép
giá làm giá ngũ cốc giảm mạnh sau vụ thu hoạch rồi sau đó lại tăng lên khi nguồn cung đã
được giải toả. Những hiện tượng mang tính chu kỳ như vậy đã gây nên những thiệt hại
nghiêm trọng cho người sản xuất lương thực, do đó những người nông dân đã tìm cách
tránh rủi ro bằng cách bán ngũ cốc trước khi vận chuyển đến nơi tiêu thụ, kể cả với mức
giá thấp hơn một ít so với giá dự kiến khi ngũ cốc được đưa đến thị trường. Người mua và
người bán lúc này phải thoả thuận với nhau về số lượng ngũ cốc, chất lượng, giá cả, thời
gian, địa điểm giao hàng và nhận tiền. Ban đầu, những hoạt động này diễn ra tự phát và

thập niên sau khi được thành lập, chính phủ Mĩ đã chính thức trao quyền cho CBOT và do
đó uỷ quyền cho CBOT việc đặt ra những tiêu chuẩn về chất lượng của hàng hoá và đảm
nhận việc giám sát thường xuyên vào mặt hàng ngũ cốc được giao dịch trên sở giao dịch,
nhằm bảo đảm sự thống nhất của thị trường. Sự cải tiến này đã giảm những rủi ro và chi
phí liên quan đến việc thoả thuận các hợp đồng kỳ hạn trên cơ sở cá nhân.
Ban đầu hoạt động của các thị trường tương lai không có gì đặc biệt. Lúc đó người
ta gọi những người hoạt động theo kiểu này là những “kẻ đầu cơ liều mạng”. Những người
này thành công trong việc mua vét hàng hay ép giá một mặt hàng nào đó trên thị trường
nhất định. Một biến cố nổi tiếng đã xảy ra đó là: ngày thứ sáu đen tối năm 1869 là ngày giá
vàng bị phá. Việc hai nhà kinh doanh Jay Gould và Jim Fisk mua vét giá vàng đã bị đổ bể
khi tổng thống Grant ra lệnh bán vàng của kho bạc Mỹ. Với ấn tượng là việc mua bán
tương lai hàng hoá mang tính chất đầu cơ tạo nên sự bất ổn định về tài chính và sự biến
động giá giao ngay quá lớn làm cho những nhà lập pháp liên tiếp phản đối và thậm chí họ
còn muốn loại bỏ hình thức giao dịch này trên thị trường. Cuối cùng vào năm 1922 tức là
khoảng 74 năm sau ngày thành lập đầu tiên của sở giao dịch Chicago, chính phủ Mỹ đã
thành lập Grain Futures Administration là một cơ quan giám sát để giám sát sự mở rộng
của hoạt động giao dịch trên sở giao dịch ngũ cốc và năm 1936 ban hành luật về sở giao
dịch hàng hoá. Năm 1968, các luật trên lại được sửa đổi và điều chỉnh với các điều khoản
phù hợp trong việc mua bán tương lai. Năm 1974 ủy ban mua bán tương lai (CFTC) được
thành lập. Vai trò và quyền hạn của CFTC hết sức quan trọng vì đó là tổ chức duy nhất
thay mặt chính quyền quản lý các hoạt động của thị trường tương lai. Tuy sự hình thành và
phát triển của thị trường tương lai đã tiếp thu được tất cả những ưu việt đồng thời cũng
khắc phục được những hạn chế của thị trường kỳ hạn nhưng các sở giao dịch tương lai
hàng hóa không thay thế hoàn toàn thị trường kỳ hạn - tiền thân của giao dịch tương lai, mà
chúng song song tồn tại. Các giao dịch kỳ hạn vẫn tiếp tục tồn tại với tư cách là những hoạt
động giao dịch ngoài sở, lúc này sở giao dịch trong thị trường tương lai đóng vai trò như
người trung gian chắp nối cho các nhu cầu mua và bán trong thị trường kỳ hạn một cách có
tổ chức.
Cùng với làn sóng tự do hoá thương mại trên toàn cầu thì sự hình thành các sở giao
dịch hàng hoá ngày càng nhiều với khối lượng giao dịch ngày càng lớn

dch vi nhng h thng giao dch truyn thng. Thờm vo ú mt nguyờn nhõn na l t
phớa cỏc quy nh ca chớnh ph c bit l nhng quc gia nh Nht Bn v Trung
Quc. Nhng nguyờn nhõn ú ó dn ti mt lot cỏc cuc sỏp nhp: Nht s lng cỏc
cuc sỏp nhp ó lm cho s lng cỏc s giao dch nc ny gim xung hn mt na
t 17 s giao dch nm 1993 xung cũn 8 nm 1997. Anh, Liffe ó sỏp nhp vi S giao
dch hng húa Luõn ụn vo thỏng 9/1996. Ti M, NYMEX sn giao dch tng lai nng
lng ln nht th gii lỳc by gi ó sỏp nhp vi Comex (Comex hin nay ang hot
ng nh l mt cụng ty con ca Nymex), v cỏc thnh viờn ca c NYCE v CSCE ó
u b phiu ng ý sỏp nhp v thnh lp NYBT (Board of Trade of city New York). Xu
hng sỏp nhp cỏc s giao dch hng húa trờn th gii c d oỏn l s tip tc kộo di,
in hỡnh l v sỏp nhp gia hai s giao dch ln nht ca M l CBOT v CME hỡnh
thnh mt s giao dch ln nht th gii.
4

iu ỏng chỳ ý t cỏi nhỡn tng quỏt v s lch s phỏt trin ca s giao dch hng
hoỏ ny chớnh l vic th trng Chicago ó c thnh lp v phỏt trin gii quyt
nhng vn v chi phớ cng nh l ri ro m nụng dõn phi gỏnh chu trờn th trng, v
nhu cu phi sp xp th trng hng hoỏ nụng sn qua nhng ngi tham gia th trng,
qua khụng gian v thi gian. Cng cn phi nhn mnh rng quy nh ca chớnh ph tng
lờn khi th trng phỏt trin l thỳc y s phỏt trin th trng ch khụng phi l kim
soỏt th trng.
1.1.2. c im s giao dch hng húa
Xột v bn cht mt s giao dch hng hoỏ ch n gin l mt ni m ngi mua
v ngi bỏn tp trung trao i theo mt cỏch thc ó c nh trc, vi nhng quy
nh c th v ht sc rừ rng. Vi ngha rng ny, mt s giao dch hng hoỏ l bt c
th trng cú t chc no, giao dch hng hoỏ thc hoc khụng, c tp trung qua mt b
mỏy duy nht, cho phộp s cnh tranh hiu qu nht gia nhng ngi mua v nhng
ngi bỏn. Do ú giao dch qua s giao dch hng húa l mt phng thc giao dch c
4 Xem phụ lục 7: các tập đoàn sở giao dịch thế giới
biệt so với các phương thức giao dịch khác như mua bán trực tiếp, mua bán qua trung gian,

các mức giá kết toán cho mỗi hợp đồng trên cơ sở giá niêm yết trên thị trường vào
cuối phiên giao dịch. Những thành viên mà bị lỗ ở cuối ngày giao dịch sẽ bị yêu cầu
nộp tiền bảo chứng thêm. Các thành viên thanh toán lại chuyển thông báo về số tiền
phải nộp thêm cho khách hàng của mình.
1.1.2.2. Đa số các hợp đồng được thanh lý trước thời hạn
Trong các hợp đồng thông thường, khi các bên muốn thanh lý hợp đồng
trước ngày giao hàng đồng nghĩa với việc thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng hoặc
thoả thuận chuyển nghĩa vụ của mình cho người khác, khi đó các bên sẽ thoát khỏi
sự ràng buộc về nghĩa vụ với nhau. Nhưng trong hợp đồng giao sau được mua bán
tại sở giao dịch hàng hóa thì các bên có thể thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạn
một cách dễ dàng mà không cần phải thông qua một sự thoả thuận nào. Chẳng hạn
như thanh toán hợp đồng tương lai, giao và nhận hàng hữu hình là cách thanh lý
hợp đồng mà không mấy người tham gia thị trường này lựa chọn:
• Giao hàng hữu hình: Kết thúc một vị thế tương lai bằng việc nhận giao hàng
thường là biện pháp ‘nặng nhọc’ để hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng. Việc giao hàng
hữu hình đặt ra những chi phí rõ rệt: chi phí kho hàng, bảo hiểm, xếp tàu, và lệ phí
môi giới. Trên trên thực tế việc giao hàng hữu hình chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
(khoảng 2%) bởi nó đòi hỏi mua hay bán thực sự một thứ hàng, điều mà các nhà
kinh doanh thường không muốn làm trừ khi họ có nhu cầu cụ thể đối với hàng hoá
(với và do đó chỉ những công ty kinh doanh hàng hoá mới ưa chuộng hình thức
này.
• Bù trừ (Offsetting): đây là hình thức thanh toán vị thế phổ biến nhất, người
mua khởi đầu và kết thúc vị thế của mình bằng việc bán một hợp đồng tương lai y
hệt (cùng một loại hàng và cùng tháng giao hàng). Tương tự, người bán khởi đầu
kết thúc vị thế của mình bằng cách mua một hợp đồng y hệt. Sau khi việc mua bán
đó được thực hiện và báo cáo về trung tâm thanh toán thì nghĩa vụ của cả hai bên
được xoá đi trong sổ sách của trung tâm thanh toán và của những người môi giới
ngoài sở (nếu có).
So với việc nhận hoặc giao hàng hữu hình thì việc thanh toán bằng bù trừ tương đối
đơn giản hơn. Nó chỉ đòi hỏi thị trường tương lai đủ cơ động để tạo thuận lợi mua bán

phân biệt đối tượng được giao dịch trong hợp đồng tương lai, ví dụ như: hợp đồng giao sau
cà phê tháng 3 năm 2005 khác với hợp đồng giao sau cà phê tháng 5 năm 2005…
Địa điểm giao hàng do sở giao dịch quy định trong hợp đồng. Như đã trình bày thì
việc mua bán trong các hợp đồng tại sở giao dịch thường là mang tính danh nghĩa và không
gắn với việc chuyển giao hàng hóa thực tế. Nhưng nếu có những thương nhân muốn thực
hiện hợp đồng chuyển giao hàng hóa thực sự khi hợp đồng đáo hạn thì việc giao hàng này
sẽ tiến hành tại các địa điểm do sở giao dịch quy định để tiết kiệm chi phí, tạo thuận lợi
cho cả thương nhân và sở.
Sự tiêu chuẩn hóa các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng giao dịch tại sở giao dịch
hàng hóa là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt sở giao dịch với các phương
thức mua bán hàng hóa khác.
1.1.2.4. Trung tâm thanh toán giám sát việc thực hiện hợp đồng
Trung tâm thanh toán bù trừ đóng một vai trò quan trọng trong các sở giao
dịch tương lai và quyền chọn hàng hoá bởi vì nó kiểm soát rủi ro vỡ nợ của tất cả
các thành viên của các sở giao dịch đó. Người mua và người bán không ràng buộc
trực tiếp với nhau trên cơ sở hợp đồng nhưng đều bị ràng buộc bởi trung tâm thanh
toán này. Để đảm bảo chức năng của mình thì trung tâm thanh toán bù trừ của các
sở giao dịch hàng hóa đều phải thực thi những nhiệm vụ nhất định, bao gồm:
- Thiết lập và thực hiện chức năng của thị trường: nghĩa là thực hiện thiết lập
và quản lý các mức giá cả trên sở giao dịch; ghi nhận các giao dịch; giám sát các
hoạt động tại sàn; nhập và công cố các mức giá trong suốt phiên giao dịch và các
mức giá thực hiện ở cuối ngày giao dịch.
- Giám sát và quản lý các thành viên tham gia thị trường.
- Các hoạt động thanh toán bù trừ: bao gồm những công tác đảm bảo rủi ro tín
dụng; duy trì các tài khoản bảo chứng; thực hiện giao hàng đối với những hợp đồng
không được bù trừ trước hạn.
- Phát triển các loại sản phẩm mới: đưa vào áp dụng những công cụ tài chính
mới nhằm thu hút nhà đầu tư, đưa thêm các công cụ bảo hiểm.
1.1.3. Phân loại sở giao dịch hàng hoá
Hiện nay trên thế giới các sở giao dịch hàng hóa tồn tại dưới nhiều hình thức khác

thành viên, đặc biệt là các thành viên cùng một mối quan tâm mua bán. Tuy nhiên, sự tách
riêng sự quản lý sở giao dịch thành quyền sở hữu và quyền mua bán là một trong những xu
hướng phổ biến trên các sở giao dịch hàng hoá trên thế giới trong 5 năm trở lại đây. Quá
trình này được thúc đẩy do những mối quan tâm đến sự quản lý một cách hiệu quả, cơ chế
tự điều chỉnh, niềm tin của những người tham gia thị trường, và thúc đẩy sự tiếp cận tới
nguồn vốn đầu tư.
1.1.3.2. Căn cứ vào hình thức thị trường
Hầu hết các sở giao dịch hàng hóa trên thế giới đều trải qua hai giai đoạn phát triển
chính. Và các hình thức giao dịch sở giao dịch hàng hóa này được phân chia dựa trên các
hình thức hợp đồng được giao dịch trên các Sở giao dịch tại mỗi giai đoạn phát triển này.
Hình thức thị trường sơ cấp: sở giao dịch hình thành như là một địa điểm tập
trung những người mua và người bán có nhu cầu thực sự tiến hành mua bán và giao
nhận hàng hoá. Do đó những người mua và bán này cũng là những người tham gia
chính trên thị trường, họ là những người sản xuất, chế biến, người tiêu dùng hay là
những người buôn bán hàng hoá hữu hình và họ có nhu cầu thực sự về hàng hóa,
nên thị trường này được gọi là thị trường sơ cấp. Trên thị trường sở giao dịch lúc
này thực hiện các giao dịch các loại hợp đồng sau:
• Hợp đồng giao ngay hàng hoá: Là hợp đồng của những giao dịch trong đó
hàng hoá được giao ngay và trả tiền ngay vào lúc ký kết hợp đồng. Hợp đồng giao
ngay được ký trên cơ sở hợp đồng mẫu của Sở giao dịch giữa người có sẵn hàng
muốn giao ngay với người có nhu cầu gấp, cần được giao ngay.
Vì vậy đây chính là một hợp đồng hiện vật. Giá cả mua bán ở đây là giá giao ngay
(spot price hoặc spot quotation). Giao dịch này hiện chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong các
giao dịch trên sở giao dịch hàng hoá trên thế giới (chỉ khoảng dưới 10%).
• Hợp đồng kỳ hạn (Forward): Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó
người mua và người bán chấp nhận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối
lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá ấn định
vào ngày hôm nay.
Điểm khác biệt giữa một hợp đồng kỳ hạn và giao dịch giao ngay là thời điểm thanh
toán giao dịch. Trong phần lớn các giao dịch giao ngay, hàng hoá được trao đổi và việc

Chúng được gọi chung là các hợp đồng tương lai hàng hoá. Các hợp đồng tương lai dựa
trên cơ sở một công cụ tài chính hay một chỉ số tài chính được gọi là hợp đồng tương lai
tài chính và đang chiếm phần lớn lượng giao dịch trên sở giao dịch hàng hóa
5
.
Bên cạnh những đặc điểm tương tự như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai có
những điểm khác biệt cơ bản như sau:
-Niêm yết trên sở giao dịch: Điểm khác biệt lớn nhất chính là tồn tại một sở giao
dịch có tổ chức với hợp đồng tương lai. Sở giao dịch hợp đồng tương lai cho phép người
giao dịch được mua và bán các hợp đồng tương lai mà không phải xác định phía đối tác
trong một hợp đồng cụ thể.
-Tiêu chuẩn hoá: Không giống như các hợp đồng kỳ hạn, các hợp đồng tương lai
được tiêu chuẩn hoá. Các hợp đồng kỳ hạn có thể được lập ra cho bất kỳ loại hàng hoá nào,
với bất kỳ số lượng và chất lượng như thế nào và với thời hạn thanh toán bất kỳ được hai
bên hợp đồng chấp thuận. Trong khi đó, các hợp đồng tương lai niêm yết tại các sở giao
dịch quy định một số dạng hàng hoá cụ thể, với một số lượng nhất định đáp ứng các yêu
cầu tối thiểu về chất lượng và tại một thời điểm giao hàng xác định.
-Kiểm soát rủi ro thanh toán: sử dụng các hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở
giao dịch thay vì dùng các hợp đồng kỳ hạn, hai bên tham gia vào hợp đồng tương lai sẽ
5 Xem phô lôc 10
Phí quyền chọn
Khoản lỗ tối đa người mua quyền chọn phải chịu
Lợi nhuận tối đa dành cho người bán quyền chọn
kiểm soát được rủi ro thanh toán. Các trung tâm thanh toán bù trừ tại sở sẽ thực hiện chức
năng trung gian trong tất cả các giao dịch đảm bảo khả năng tài chính của các thành viên từ
đó đảm bảo sự an toàn cho toàn bộ thị trường.
-Tính thanh khoản: Sự tồn tại của công ty thanh toán bù trừ và sự thuận lợi của việc
giao dịch qua sở giao dịch khiến cho tính thanh khoản của các hợp đồng tương lai cao hơn
nhiều so với các hợp đồng kỳ hạn.
• Hợp đồng quyền chọn: là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được

sở giao dịch này cần phải có những phòng ban với những nhiệm vụ riêng:
• Phòng đăng ký và lưu giữ các phiếu lệnh, hợp đồng: Các đơn đặt hàng của
người mua hoặc người bán thường là những người sản xuất thông qua các tổ chức
môi giới trung gian được đưa vào phòng này. Phòng này có nhiệm vụ là xác nhận
tính khả thi, hợp pháp của các đơn hàng, sau đó chuyển thành các hợp đồng và
thành các lệnh giao dịch theo mẫu. Khi lệnh được thực hiện tại sàn giao dịch thì tiến
hành quản lý theo dõi các hợp đồng.
• Phòng giao dịch: Các phiếu lệnh sau khi được phòng đăng ký và được xác
nhận là thích hợp sẽ được chuyển thành các lệnh đưa vào giao dịch tại sàn. Phòng
giao dịch có nhiệm vụ tổ chức điều hành các phiên giao dịch đồng thời có nhiệm vụ
quản lý và điều hành hệ thống thiết bị giao dịch, đảm bảo duy trì và xử lý các hiện
tượng bất trắc trong giao dịch.
• Phòng giám sát: thực hiện việc theo dõi và giám sát thường xuyên các hoạt
động giao dịch tại sàn giao dịch. Theo dõi các hành vi của các thành viên giao dịch
(các thương gia hoa hồng). Nếu phát hiện thấy nghi vấn có thể tiếp tục theo dõi điều
tra hoặc tiến hành xử lý.

Trích đoạn Đối với nền kinh tế nói chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status