Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam - Pdf 73

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cho đến nay sở giao dịch hàng hóa (Commodity exchange) đã không còn mới
lạ đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Kể từ lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1848 cho
đến nay, sở giao dịch hàng hóa đã không ngừng phát triển và đóng một vai trò hết sức
quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại và góp phần vào phát triển nền kinh tế nói
chung. Tuy nhiên, ở Việt Nam sở giao dịch hàng hóa vẫn còn là một khái niệm khá
xa lạ với những nhà sản xuất hay các nhà đầu tư. Người ta vẫn mới chỉ biết đến một
loại hình sở giao dịch tương tự sở giao dịch là sở giao dịch chứng khoán mà thôi. Với
thị trường tiềm năng là hơn 80 triệu dân, trong đó phần lớn là ở nông thôn, cộng với
nền kinh tế ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục,
và sự hội nhập ngày càng sâu rộng của thương mại Việt Nam với thế giới, nhu cầu về
sự hình thành sở giao dịch hàng hóa nhằm tăng cường giao dịch hàng là rất lớn. Nh-
ưng tại sao ở Việt Nam vẫn chưa hình thành những sở giao dịch hàng hóa thế mạnh
đặc biệt là các mặt hàng nông sản? Chính vì vậy, câu hỏi đặt ra hiện nay là cần phải
đáp ứng những yếu tố nào để có thể thành lập được sở giao dịch hàng hóa ở Việt
Nam, do đó em đã chọn “Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa
ở Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của khóa luận
Trên cơ sở xây dựng hệ thống cơ sở lý luận chung về sở giao dịch hàng hóa
trên thế giới cũng như việc tìm hiểu những điều kiện cần thiết để hình thành và phát
triển sở giao dịch hàng hóa, khóa luận đã đưa ra nhận xét về khả năng xây dựng sở
giao dịch hàng hóa ở Việt Nam. Đồng thời, trên cơ sở tìm hiểu kinh nghiệm của một
số quốc gia đang phát triển, đề xuất mô hình sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: các điều kiện khách quan và chủ quan để xây dựng sở
giao dịch hàng hóa trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
1
Phạm vi nghiên cứu: tìm hiểu cơ sở lý luận chung sở giao dịch hàng hóa, đánh
giá khả năng thành lập sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam đồng thời đề xuất mô hình
áp dụng cho Việt Nam.

giao dịch kim loại Luân Đôn (London Metal Exchange). Đối với một số người khác
thì lại cho rằng sở giao dịch là một cơ cấu thị trường tiên tiến được sử dụng ở các
nước công nghiệp các nước có thu nhập thấp không thể mơ tới.
Lịch sử về sự phát triển thị trường ở Chicago đã cho thấy rằng, hệ thống thị
trường sẽ dần phát triển cùng với sự phát triển của các thị trường này cũng như khi
sự tăng tưởng kinh tế chứ không phải xuất phát từ một thị trường phức tạp ngay từ
đầu. Hay nói khác đi, sở giao dịch Chicago không bắt đầu từ một thị trường phát triển
ngay như ngày hôm nay. Vào những năm 1840, khi mà việc sản xuất ngũ cốc ngày
càng phát triển nhờ sự cải tiến về công nghệ thì những người nông dân ở phía Tây
nước Mĩ thường đến Chicago để bán ngũ cốc cho các thương gia, rồi sau đó những
người này sẽ đưa lượng hàng hoá này đi khắp cả nước. Dần dần, hoạt động này trở
nên sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân. Khối
lượng sản xuất ngày càng lớn trong khi hệ thống vận tải chưa phát triển phù hợp
không thể đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Khi những người nông dân
này đến Chicago họ không hề biết trước giá cả thị trường, hơn nữa ở Chicago lúc này
có rất ít các công cụ để cất trữ hàng hoá và cũng không có một quy trình chuẩn nào
để cân và đánh giá chất lượng ngũ cốc, khiến cho nông dân rơi vào thế bị động và
phụ thuộc vào thương nhân. Thị trường tiêu thụ hỗn loạn, các nhà đầu cơ lợi dụng
tình trạng này ép giá làm giá ngũ cốc giảm mạnh sau vụ thu hoạch rồi sau đó lại tăng
lên khi nguồn cung đã được giải toả. Những hiện tượng mang tính chu kỳ như vậy đã
gây nên những thiệt hại nghiêm trọng cho người sản xuất lương thực, do đó những
3
người nông dân đã tìm cách tránh rủi ro bằng cách bán ngũ cốc trước khi vận chuyển
đến nơi tiêu thụ, kể cả với mức giá thấp hơn một ít so với giá dự kiến khi ngũ cốc
được đưa đến thị trường. Người mua và người bán lúc này phải thoả thuận với nhau
về số lượng ngũ cốc, chất lượng, giá cả, thời gian, địa điểm giao hàng và nhận tiền.
Ban đầu, những hoạt động này diễn ra tự phát và đơn lẻ nhưng dần dần do tính ưu
việt của nó trong việc tiêu thụ cũng như lưu thông hàng hoá nó lại trở nên ngày càng
phổ biến. Do vậy, một thị trường mới dần được hình thành, một thị trường mà ở đó
người mua và người bán gặp nhau để thoả thuận, cam kết với nhau về việc mua bán,

được thành lập, chính phủ Mĩ đã chính thức trao quyền cho CBOT và do đó uỷ quyền
cho CBOT việc đặt ra những tiêu chuẩn về chất lượng của hàng hoá và đảm nhận
việc giám sát thường xuyên vào mặt hàng ngũ cốc được giao dịch trên sở giao dịch,
nhằm bảo đảm sự thống nhất của thị trường. Sự cải tiến này đã giảm những rủi ro và
chi phí liên quan đến việc thoả thuận các hợp đồng kỳ hạn trên cơ sở cá nhân.
Ban đầu hoạt động của các thị trường tương lai không có gì đặc biệt. Lúc đó
người ta gọi những người hoạt động theo kiểu này là những “kẻ đầu cơ liều mạng”.
Những người này thành công trong việc mua vét hàng hay ép giá một mặt hàng nào
đó trên thị trường nhất định. Một biến cố nổi tiếng đã xảy ra đó là: ngày thứ sáu đen
tối năm 1869 là ngày giá vàng bị phá. Việc hai nhà kinh doanh Jay Gould và Jim Fisk
mua vét giá vàng đã bị đổ bể khi tổng thống Grant ra lệnh bán vàng của kho bạc Mỹ.
Với ấn tượng là việc mua bán tương lai hàng hoá mang tính chất đầu cơ tạo nên sự
bất ổn định về tài chính và sự biến động giá giao ngay quá lớn làm cho những nhà lập
pháp liên tiếp phản đối và thậm chí họ còn muốn loại bỏ hình thức giao dịch này trên
thị trường. Cuối cùng vào năm 1922 tức là khoảng 74 năm sau ngày thành lập đầu
tiên của sở giao dịch Chicago, chính phủ Mỹ đã thành lập Grain Futures
Administration là một cơ quan giám sát để giám sát sự mở rộng của hoạt động giao
dịch trên sở giao dịch ngũ cốc và năm 1936 ban hành luật về sở giao dịch hàng hoá.
Năm 1968, các luật trên lại được sửa đổi và điều chỉnh với các điều khoản phù hợp
trong việc mua bán tương lai. Năm 1974 ủy ban mua bán tương lai (CFTC) được
thành lập. Vai trò và quyền hạn của CFTC hết sức quan trọng vì đó là tổ chức duy
nhất thay mặt chính quyền quản lý các hoạt động của thị trường tương lai. Tuy sự
hình thành và phát triển của thị trường tương lai đã tiếp thu được tất cả những ưu việt
5
đồng thời cũng khắc phục được những hạn chế của thị trường kỳ hạn nhưng các sở
giao dịch tương lai hàng hóa không thay thế hoàn toàn thị trường kỳ hạn - tiền thân
của giao dịch tương lai, mà chúng song song tồn tại. Các giao dịch kỳ hạn vẫn tiếp
tục tồn tại với tư cách là những hoạt động giao dịch ngoài sở, lúc này sở giao dịch
trong thị trường tương lai đóng vai trò như người trung gian chắp nối cho các nhu cầu
mua và bán trong thị trường kỳ hạn một cách có tổ chức.

Xem phô lôc 3 vµ phô lôc 4
3
Xem phô lôc 10 vµ phô lôc 11
6
giao dch. Nhng nm 90 ca th k 20 thm chớ cũn chng kin nhiu v sỏp nhp
hn na. Mt trong nhng nguyờn nhõn ca xu hng ny chớnh l tớnh cnh tranh
ngy cng tng ca cỏc giao dch hp ng tng lai: mi e da t h thng giao
dch in t i vi nhng s giao dch vi nhng h thng giao dch truyn thng.
Thờm vo ú mt nguyờn nhõn na l t phớa cỏc quy nh ca chớnh ph c bit l
nhng quc gia nh Nht Bn v Trung Quc. Nhng nguyờn nhõn ú ó dn ti
mt lot cỏc cuc sỏp nhp: Nht s lng cỏc cuc sỏp nhp ó lm cho s lng
cỏc s giao dch nc ny gim xung hn mt na t 17 s giao dch nm 1993
xung cũn 8 nm 1997. Anh, Liffe ó sỏp nhp vi S giao dch hng húa Luõn
ụn vo thỏng 9/1996. Ti M, NYMEX sn giao dch tng lai nng lng ln nht
th gii lỳc by gi ó sỏp nhp vi Comex (Comex hin nay ang hot ng nh l
mt cụng ty con ca Nymex), v cỏc thnh viờn ca c NYCE v CSCE ó u b
phiu ng ý sỏp nhp v thnh lp NYBT (Board of Trade of city New York). Xu
hng sỏp nhp cỏc s giao dch hng húa trờn th gii c d oỏn l s tip tc
kộo di, in hỡnh l v sỏp nhp gia hai s giao dch ln nht ca M l CBOT v
CME hỡnh thnh mt s giao dch ln nht th gii.
4

iu ỏng chỳ ý t cỏi nhỡn tng quỏt v s lch s phỏt trin ca s giao dch
hng hoỏ ny chớnh l vic th trng Chicago ó c thnh lp v phỏt trin gii
quyt nhng vn v chi phớ cng nh l ri ro m nụng dõn phi gỏnh chu trờn th
trng, v nhu cu phi sp xp th trng hng hoỏ nụng sn qua nhng ngi tham
gia th trng, qua khụng gian v thi gian. Cng cn phi nhn mnh rng quy nh
ca chớnh ph tng lờn khi th trng phỏt trin l thỳc y s phỏt trin th trng
ch khụng phi l kim soỏt th trng.
1.1.2. c im s giao dch hng húa

ban đầu cao hơn vì các FCM này thường yêu cầu khách hàng phải nộp khoản tiền lớn
hơn vì mục tiêu kinh doanh của họ.
• Tiền bảo chứng duy trì (Maintenance Margin): Khi tiền bảo chứng đạt mức
duy trì tối thiểu, nhà đầu tư cần phải nộp tiền để đảm bảo đưa mức tiền bảo chứng trở
lại tiền bảo chứng ban đầu (Initial margin). Đây là khoản tiền tối thiểu mỗi hợp đồng
mà khách hàng phải ký quỹ mãi mãi. Khoản bảo chứng này thường thấp hơn khoản
tiền bảo chứng ban đầu, nó thường bằng 75% khoản tiền bảo chứng ban đầu.
8
• Tiền bảo chứng biến đổi (Variation Margin hay Margin Call): Những khoản lỗ
và lãi của những khách hàng của các thành viên được kết toán thông qua trung tâm
thanh toán bù trừ. Cuối mỗi ngày giao dịch, trung tâm thanh toán lại xác định các
mức giá kết toán cho mỗi hợp đồng trên cơ sở giá niêm yết trên thị trường vào cuối
phiên giao dịch. Những thành viên mà bị lỗ ở cuối ngày giao dịch sẽ bị yêu cầu nộp
tiền bảo chứng thêm. Các thành viên thanh toán lại chuyển thông báo về số tiền phải
nộp thêm cho khách hàng của mình.
1.1.2.2. Đa số các hợp đồng được thanh lý trước thời hạn
Trong các hợp đồng thông thường, khi các bên muốn thanh lý hợp đồng trước
ngày giao hàng đồng nghĩa với việc thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng hoặc thoả
thuận chuyển nghĩa vụ của mình cho người khác, khi đó các bên sẽ thoát khỏi sự ràng
buộc về nghĩa vụ với nhau. Nhưng trong hợp đồng giao sau được mua bán tại sở giao
dịch hàng hóa thì các bên có thể thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạn một cách dễ
dàng mà không cần phải thông qua một sự thoả thuận nào. Chẳng hạn như thanh toán
hợp đồng tương lai, giao và nhận hàng hữu hình là cách thanh lý hợp đồng mà không
mấy người tham gia thị trường này lựa chọn:
• Giao hàng hữu hình: Kết thúc một vị thế tương lai bằng việc nhận giao hàng
thường là biện pháp ‘nặng nhọc’ để hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng. Việc giao hàng
hữu hình đặt ra những chi phí rõ rệt: chi phí kho hàng, bảo hiểm, xếp tàu, và lệ phí
môi giới. Trên trên thực tế việc giao hàng hữu hình chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
(khoảng 2%) bởi nó đòi hỏi mua hay bán thực sự một thứ hàng, điều mà các nhà kinh
doanh thường không muốn làm trừ khi họ có nhu cầu cụ thể đối với hàng hoá (với và

công việc cơ bản có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các sở giao dịch.
Quy mô hợp đồng là độ lớn giá trị tài sản được giao dịch trong một hợp đồng.
Độ lớn mỗi hợp đồng tương lai về mỗi loại hàng hóa đều được thống nhất và hầu như
được thống nhất trên toàn thế giới giúp cho việc mua bán giữa các sở giao dịch hàng
hóa trên thế giới thông qua hệ thống kết nối mạng toàn cầu lại càng dễ dàng hơn.
Việc quy định độ lớn mỗi hợp đồng sao cho không quá lớn để những nhà bảo hộ nhỏ
cũng có khả năng tham gia và không quá nhỏ để đảm bảo giá trị được bảo hiểm hoặc
đầu cơ sẽ bù đắp được chi phí huê hồng hay các chi phí cố định khác.
10
Thời điểm giao hàng (thời điểm đáo hạn hợp đồng) thường được xác định là
tháng giao hàng trong năm. Trong tháng giao hàng đó, ngày giao hàng được quy định
cụ thể tuỳ vào loại hàng hóa và thị trường. Thời điểm giao hàng còn là điều kiện xác
định để nhằm phân biệt đối tượng được giao dịch trong hợp đồng tương lai, ví dụ
như: hợp đồng giao sau cà phê tháng 3 năm 2005 khác với hợp đồng giao sau cà phê
tháng 5 năm 2005…
Địa điểm giao hàng do sở giao dịch quy định trong hợp đồng. Như đã trình
bày thì việc mua bán trong các hợp đồng tại sở giao dịch thường là mang tính danh
nghĩa và không gắn với việc chuyển giao hàng hóa thực tế. Nhưng nếu có những
thương nhân muốn thực hiện hợp đồng chuyển giao hàng hóa thực sự khi hợp đồng
đáo hạn thì việc giao hàng này sẽ tiến hành tại các địa điểm do sở giao dịch quy định
để tiết kiệm chi phí, tạo thuận lợi cho cả thương nhân và sở.
Sự tiêu chuẩn hóa các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng giao dịch tại sở giao
dịch hàng hóa là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt sở giao dịch với các
phương thức mua bán hàng hóa khác.
1.1.2.4. Trung tâm thanh toán giám sát việc thực hiện hợp đồng
Trung tâm thanh toán bù trừ đóng một vai trò quan trọng trong các sở giao
dịch tương lai và quyền chọn hàng hoá bởi vì nó kiểm soát rủi ro vỡ nợ của tất cả các
thành viên của các sở giao dịch đó. Người mua và người bán không ràng buộc trực
tiếp với nhau trên cơ sở hợp đồng nhưng đều bị ràng buộc bởi trung tâm thanh toán
này. Để đảm bảo chức năng của mình thì trung tâm thanh toán bù trừ của các sở giao

Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chỉ những sở giao dịch mới thành lập
mới sử dụng hình thức sở hữu này, ngay cả những sở giao dịch hàng hóa lớn thì mô
hình sở hữu này cũng vẫn được ưa chuộng và được áp dụng. Sở giao dịch ngũ cốc
Tokyo (Tokyo Grain exchange – TGE) là một ví dụ cho mô hình này được thành lập
dưới sự quản lý của bộ Nông, Lâm, Nghư nghiệp. Là một tổ chức thành viên, hội
đồng thành viên là cơ quan cao nhất của sở giao dịch. Các hoạt động hàng ngày của
sở giao dịch đều dưới sự quản lý của ban giám đốc, đứng đầu là chủ tịch, tất cả đều
được các thành viên của hội đồng thành viên bầu.
• Hình thức công ty cổ phần (for-profit organization): Các sở giao dịch tiến
hành cổ phần hoá (demutualize) đây là sự chuyển đổi sở giao dịch hàng hoá từ hình
12
thức sở hữu thành viên phi lợi nhuận sang hình thức công ty cổ phần. Các thành viên
nắm giữ cổ phần.
Rất nhiều sở giao dịch hàng hoá được hình thành như là tổ chức nhằm phục vụ
cho lợi ích cho thành viên của mình nên thường có cấu trúc như là các công ty sở hữu
bởi các thành viên, đặc biệt là các thành viên cùng một mối quan tâm mua bán. Tuy
nhiên, sự tách riêng sự quản lý sở giao dịch thành quyền sở hữu và quyền mua bán là
một trong những xu hướng phổ biến trên các sở giao dịch hàng hoá trên thế giới trong
5 năm trở lại đây. Quá trình này được thúc đẩy do những mối quan tâm đến sự quản
lý một cách hiệu quả, cơ chế tự điều chỉnh, niềm tin của những người tham gia thị
trường, và thúc đẩy sự tiếp cận tới nguồn vốn đầu tư.
1.1.3.2. Căn cứ vào hình thức thị trường
Hầu hết các sở giao dịch hàng hóa trên thế giới đều trải qua hai giai đoạn phát
triển chính. Và các hình thức giao dịch sở giao dịch hàng hóa này được phân chia dựa
trên các hình thức hợp đồng được giao dịch trên các Sở giao dịch tại mỗi giai đoạn
phát triển này.
Hình thức thị trường sơ cấp: sở giao dịch hình thành như là một địa điểm
tập trung những người mua và người bán có nhu cầu thực sự tiến hành mua bán và
giao nhận hàng hoá. Do đó những người mua và bán này cũng là những người tham
gia chính trên thị trường, họ là những người sản xuất, chế biến, người tiêu dùng hay

thực hiện hợp đồng mà thôi. Ngoài ra, vì giá cả đặt ra mang tính chất cá nhân và chủ
quan nên có thể không chính xác.
Hình thức thị trường thứ cấp: giá cả xác định bởi các giao dịch trên sở giao
dịch hàng hoá trở thành mức giá tham khảo trên thị trường cho những nhà kinh doanh
rủi ro về giá trên thị trường. Với hình thức thị trường này thì khối lượng giao dịch
không đơn thuần phản ánh khối lượng giao nhận hàng hoá, mua bán thực nữa mà chủ
yếu phản ánh những giao dịch liên quan đến rủi ro giá cả trên thị trường hàng hoá.
Nhờ có những giao dịch này mà khối lượng giao dịch trên các sở giao dịch hàng hoá
được nhân lên rất lớn từ khối lượng hàng hoá mua bán thực. Những giao dịch đó bao
gồm giao dịch những loại hợp đồng sau:
14
• Hợp đồng tương lai hàng hoá (futures): Hợp đồng tương lai là một thoả thuận
đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua hoặc bán một hàng hoá nào đó tại một thời hạn
xác định trong tương lai theo một mức giá đã định trước. Chức năng kinh tế cơ bản
của các thị trường hợp đồng tương lai là tạo điều kiện cho những người tham gia thị
trường có thể phòng ngừa rủi ro và những biến động giá bất lợi.
Hợp đồng tương lai là những sản phẩm do các sở giao dịch tạo ra. Trước năm
1972, chỉ có các hợp đồng tương lai liên quan tới những nông sản truyền thống như
ngũ cốc hay gia súc, thực phẩm nhập khẩu (cà phê, ca cao và đường) hay kim loại
được giao dịch. Chúng được gọi chung là các hợp đồng tương lai hàng hoá. Các hợp
đồng tương lai dựa trên cơ sở một công cụ tài chính hay một chỉ số tài chính được gọi
là hợp đồng tương lai tài chính và đang chiếm phần lớn lượng giao dịch trên sở giao
dịch hàng hóa
5
.
Bên cạnh những đặc điểm tương tự như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai
có những điểm khác biệt cơ bản như sau:
-Niêm yết trên sở giao dịch: Điểm khác biệt lớn nhất chính là tồn tại một sở
giao dịch có tổ chức với hợp đồng tương lai. Sở giao dịch hợp đồng tương lai cho
phép người giao dịch được mua và bán các hợp đồng tương lai mà không phải xác

Mục đích của tất cả các sở giao dịch hàng hoá là phát triển lên hình thức thị
trường thứ cấp, khi đó giá của nó trở thành mức giá tham khảo đáng tin cậy cho loại
hình hàng hoá mà nó đang giao dịch. Điều này có nghĩa rằng mức giá được phản ánh
từ các giao dịch được xem như một chỉ số tốt nhất phản ánh mức giá của các hàng
hoá cơ sở và được những người tham gia thị trường tin tưởng. Để làm được điều đó
các sở giao dịch hàng hóa cần xây dựng cho mình một hệ thống quy định đúng đắn
để điều chỉnh hoạt động của mình.
1.1.4. Tổ chức hoạt động sở giao dịch hàng hoá
1.1.4.1. Tổ chức sở giao dịch hàng hóa
Phí quyền chọn
Khoản lỗ tối đa người mua quyền chọn phải chịu
Lợi nhuận tối đa dành cho người bán quyền chọn
16
Sở giao dịch tồn tại dưới hai hình thức chính dưới hình thức các công ty lợi
nhuận hoặc phi lợi nhuận. Và giống như tất cả các công ty khác một sở giao dịch đều
có cổ đông (nếu là hình thức công ty cổ phần), ban giám đốc, các phòng ban chức
năng riêng.
Ban giám đốc: Ban giám đốc tùy theo hình thức sở hữu mà có thể là các thành
viên hoặc là những người được hội đồng thành viên chỉ định. Ban giám đốc sở giao
dịch hàng hóa có quyền ban hành các quy tắc, quy định, thông báo hoặc ra lệnh về
các vấn đề liên quan đến các hoạt động của sở giao dịch hàng hóa. Vì thế các thành
viên ban giám đốc phải là những người có kiến thức và năng lực về các lĩnh vực kinh
tế tài chính cũng như quản lý. Tuy nhiên, quyền quyết định cuối cùng vẫn nằm trong
tay các hội đồng thành viên.
Các phòng ban chức năng: Để thực hiện tốt chức năng của một sở giao dịch,
thì các sở giao dịch này cần phải có những phòng ban với những nhiệm vụ riêng:
• Phòng đăng ký và lưu giữ các phiếu lệnh, hợp đồng: Các đơn đặt hàng của
người mua hoặc người bán thường là những người sản xuất thông qua các tổ chức
môi giới trung gian được đưa vào phòng này. Phòng này có nhiệm vụ là xác nhận
tính khả thi, hợp pháp của các đơn hàng, sau đó chuyển thành các hợp đồng và thành

cho công ty môi giới bất chấp vụ làm ăn đó thành công hay thất bại. Những người
muốn tham gia giao dịch thường phải giao dịch thông qua những tổ chức môi giới
này rồi sau đó lệnh mới được chuyển cho các thành viên tại sàn. (Hình 1.2)
Hình 1.2: Tổ chức hoạt động cơ bản của sở giao hàng hóa
Nguồn: Futures Markets _ Darell Duffie
1.1.4.3. Các thành viên sở giao dịch hàng hóa
Thành viên sở giao dịch
Thành viên
thanh toán
Thành viên
giao dịch
Exchange
Corporation
Công ty
môi giới
Khách hàng
công ty môi giới
Trung tâm thanh toán
18
Quyền hội viên chỉ giới hạn vào một số lượng chỗ quy định. Trên thế giới ở
các sở giao dịch khác nhau thì có thể có những tên gọi khác nhau đối với các thành
viên của mình, nhưng xét về bản chất thì có hai loại thành viên chính sau:
Các thành viên giao dịch (Exchange member): Các thành viên này thường có
mặt tại các điểm sàn giao dịch của các loại hợp đồng khác nhau. Tuy nhiên để thực
hiện được giao dịch họ phải đăng ký các giao dịch của mình với các thành viên thanh
toán mà mình đã có thoả thuận về việc thanh toán bù trừ hợp đồng giao dịch.
Một đặc điểm quan trọng của một thị trường tương lai hiệu quả đó là khả năng
thanh khoản (liquidity) của nó, đó là khả năng thu hút được khối lượng giao dịch lớn
cho phép khách hàng tham gia vào thị trường này có được vị thế mà họ mong muốn.
Có hai loại thành viên giao dịch, cả hai thành viên này đều góp phần vào việc tạo tính

bin ng ging nh giỏ cỏc loi hng hoỏ c kinh doanh trờn th trng, v do ú
nú cng l mt cụng c giao dch hu hiu em li li ớch cho nhng nh u t. Vớ
d nh s giao dch hng hoỏ COMEX chuyờn giao dch mt hng kim loi quý
nh vng, bc v bch kim, giỏ ch ca s giao dch ny ch trong vũng hai nm ó
tng gp 4 ln v khỏ tng quan vi bin ng giỏ vng.
6
Do vy, giỏ ch ngi
õy c xem nh l mt cụng c u t hp dn.
1.1.4.4. Sn giao dch hng húa (Trading floor)
6
Xem phụ lục 5: Giá chỗ và giá vàng ở COMEX
Khi lng giao dch
bỡnh quõn
Khon phớ tit kim c
Thuờ ch (phớ thuờ $103/thỏng) S hu ch
5 $59 $164
15 $327 $492
25 $595 $820
35 $863 $1,148
45 $1,131 $1,476
50 $1,265 $1,640
75 $1,935 $2,460
100 $2,605 $3,280
150 $3,945 $4,920
200 $5,285 $6,560
20
Sàn giao dịch là nơi các lệnh giao dịch được công bố tự do và thực hiện khớp
lệnh, xác nhận giao dịch. Bản chất của sàn giao dịch cũng giống như không gian mở
của một khu chợ nơi mà các thương nhân có thể tham gia một cách chủ động hơn vào
các giao dịch; đồng thời có thể tìm kiếm thông tin và nghe ngóng từ động thái của

Nhìn chung, nếu sản xuất tập trung ở một địa điểm thì sở giao dịch mới được
thành lập thì hệ thống đấu giá công khai phù hợp hơn. Nếu như đã có sẵn cơ sở vật
chất thì việc trang bị một sàn đấu giá công khai rẻ hơn và rủi ro hệ thống bị lỗi là
thấp và điều quan trọng là những thành viên giao dịch trên sàn giao dịch thì thích
hình thức này hơn bởi vì họ muốn thu nhặt thông tin và tiếp xúc trực tiếp với các
công ty bởi vì ở hình thức này người mua và người bán đều phải có mặt. Tuy nhiên,
nếu như giao dịch hữu hình đã phát triển và được tổ chức tốt và những nhà đầu tư
tiềm năng lại ở rải rác khắp nơi thì một hệ thống thích hợp hơn. Một hệ thống giao
dịch điện tử có thể phải mất những chi phí ban đầu lớn, nhưng khi đã được lắp đặt thì
việc thêm những sản phẩm mới là dễ dàng và rẻ hơn. Chính vì vậy tuỳ từng điều kiện
mà mà sở giao dịch nên cân nhắc nên sử dụng hệ thống giao dịch nào cho phù hợp
nhất và đem lại hiệu quả cao nhất.
1.1.4.5. Trung tâm thanh toán (Clearing house)
Người bảo lãnh cuối cùng về trách nhiệm giao hàng của người bán và quyền
được nhận hàng của người mua đối với hàng hoá cơ sở. Có nhiều cách để có một
trung tâm thanh toán bù trừ, trong đó:
- Trung tâm thanh toán bù trừ là một phòng ban của sở giao dịch hàng hoá: Sự
đảm bảo về tài chính của những trung tâm này sẽ đảm bảo thông qua sự đảm bảo về
tài chính của các thành viên thanh toán của sở giao dịch và những khoản vốn thu
được sẽ được tích luỹ như là một khoản đảm bảo cố định. Hệ thống này có một lợi
thế là tất cả những khoản thu nhập từ các hoạt động thanh toán là khoản thu nhập của
sở giao dịch. Tuy nhiên, chỉ khi các thành viên thanh toán là những công ty lớn và uy
tín (như sở giao dịch hàng hoá ở Singapore với những công ty lớn đạt chuẩn 3A),
hoặc một quỹ bảo hiểm tín dụng lớn đã được tích luỹ trong nhiều năm (ví dụ như ở
CBOT) thì hệ thống này mới tạo ra một biện pháp bảo vệ an toàn.
- Thành lập trung tâm thanh toán độc lập ở ngoài sở giao dịch: Các thành viên
của các trung tâm này chủ yếu là các ngân hàng, họ thực hiện các chức năng thanh
22
toán bù trừ và đảm bảo về độ an toàn tài chính của thị trường để thu phí. Hình thức
này có lợi ích chính là sự tham gia của những tổ chức có vốn lớn với những xếp hạng

hình thành, giao dịch mở sẽ:
- Tăng nếu cả hai bên giao dịch để tăng vị thế đang có của mình.
- Không đổi nếu một bên tăng và bên khác lại giảm vị thế của mình cùng tỷ lệ.
- Giảm nếu cả hai bên muốn giảm vị thế đang có của mình.
Hình 1.3: Giao dịch mở trên sở giao dịch hàng hóa
Khối lượng giao dịch: là tổng số hợp đồng giao dịch một loại hàng hoá nhất
định. Nó được tính bằng số lượng hợp đồng chứ không phải là giá trị thực của hàng
hoá cơ sở đem giao dịch.
Cũng giống như giao dịch mở, khối lượng giao dịch cũng là một chỉ số đo về
lượng cung, cầu và biến động thị trường. Tuy nhiên, khối lượng giao dịch không giúp
xác định hành vi của các nhà đầu tư như chỉ số về khối lượng giao dịch mở và do đó
không dự đoán được xu hướng về giá cả dựa trên khối lượng giao dịch được.
1.2.1.2. Mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá tương lai
Mặc dù giá giao ngay không dao động hoàn toàn giống nhau nhưng chúng có
xu hướng dao động tương tự như nhau. Bởi vì các hợp đồng tương lai hoàn toàn có
thể kết thúc với việc giao hàng vào ngày đáo hạn, do đó mức giá trong hợp đồng này
phụ thuộc khá nhiều vào giá thị trường giao ngay.
Số giao
dịch mở
thực tế
Giao dịch mở có thể được tính tổng
hoặc thực tế. Giao dịch mở thực tế là
tổng của tất cả các vị thế được đưa đến
thanh toán qua thành viên thanh toán.
Tổng giao dịch mở là số vị thế mở của
tất cả những người tham gia thị trường.
Tổng giao dịch mở bao giờ cũng lớn
hơn giao dịch mở thực tế vì các vị thế
của các khách hàng khác nhau của một
thành viên thanh toán không bù trừ cho

đáo hạn của hợp đồng tương lai, thì chi phí bảo quản càng ít, vì càng gần tới tháng
giao hàng thì những kỳ vọng của thị trường được phản ánh trong giá tương lai lại
càng giống với những kỳ vọng trên thị trường giao ngay.
Chênh lệch giá (the basis): Thuật ngữ “chênh lệch” là để chỉ sự khác biệt
giữa giá giao ngay và giá tương lai của cùng một loại hàng. Chênh lệch biến đổi theo
thời gian: tăng nếu giá tương lai giảm còn giá giao ngay lại tăng, và ngược lại.
Hình 1.4 : Chênh lệch giá trên các thị trường (Basis)
1.2.1.3. Những hoạt động trên thị trường tương lai
Tự bảo hiểm (Hedging): Hoạt động tự bảo hiểm được thực hiện thông qua
việc đảm nhận một vị thế trên thị trường tương lai gần như tương đương về giá trị
nhưng ngược về cam kết ở thị trường giao ngay. Tự bảo hiểm thông thường hoàn
toàn độc lập với bất cứ một đánh giá nào đưa ra liên quan đến các mức giá tương lai.
Nghiệp vụ này thường được những người tham gia thị trường như nông dân, công ty
chế biến hay nhà xuất khẩu…những người không muốn tốn tiền và thời gian nghiên
cứu về thị trường tương lai hoặc là những nhà đầu tư không chắc chắn rằng liệu
Tháng ba
Tháng hai
Tháng một
Giá giao ngay
Chênh lệch
Giá tương lai giao vào tháng 3
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status