MỘT SỐ LÍ LUẬN VỀ SẢN PHẨM VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP - Pdf 71

: MỘT SỐ LÍ LUẬN VỀ SẢN PHẨM VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP.
1.1 SẢN PHẨM HÀNG HOÁ VÀ THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP.
1.1.1 Quan niệm về sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế thị trường.
Theo quan niệm kinh tế chính trị Mac_Lenin, hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua mua bán. Vì
vậy, không phải bất kỳ vật phẩm nào cũng là hàng hoá.
Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị (giá trị trao đổi).
_ Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu
nào đó của con ngươì. Giá trị tri sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá
qui định. Vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị hàng hoá có đặc điểm : là giá trị sử
dụng không phải cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội. Giá trị sử
dụng đến tay người tiêu dùng phải thông qua mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử
dụng là vật mang giá trị trao đổi.
_ Giá trị hàng hoá : Để hiểu được giá trị hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị
trao đổi biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị khác nhau.
Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau nhưng lại được trao đổi với nhau theo một tỷ lệ
nhất định nào đó, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí lao
động của con người. Lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá,
là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là
biểu hiện của giá trị.
Trong nền kinh tế thị trường một doanh nghiệp sản xuất ra một vật phẩm của mình
(đúng với các tiêu chuẩn về kỹ thuật đối với vật phẩm đó) và có thể trao đổi trên thị truờng
thì vật phẩm đó được gọi là hàng hoá và nó có đầy đủ hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử
dụng.
1.1.2 Thị trường sản phẩm hàng hoá và cơ chế hoạt động của thị trường sản phẩm.

1.1.2.1 Thị trường và các chức năng cơ bản của thị trường.
Có nhiều quan niệm khác nhau về thị trường, tuỳ vào cách nhìn nhận ở các góc độ
khác nhau về thị trường. Theo C_Mac: khái niệm thị trường không tách rời với khái niệm

với nhau, nếu thị trường người bán là mạnh thì sẽ xuất hiện độc quyền bán.
_ Thị truờng người mua: trong thị truờng này vai trò quyết định thuộc về người
mua, nếu thị trường người mua có sức mạnh thì dẫn đến độc quyền mua.
* Căn cứ vào qui mô thị trường:
_ Thị trường trong nước: chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia.
_ Thị trường khu vực và thế giới: Diễn ra trong phạm vi khu vực và trên toàn thế
giới, đây là thị trường lớn nhất, ngày nay trong xu hướng quốc tế hoá được mở rộng, các
doanh nghiệp kinh doanh phải chú ý đến tiềm năng to lớn của thị truờng này.
* Căn cứ vào tính chất cạnh tranh, chia thị trường thành:
_ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: thị trường này có đặc điểm là các chủ thể kinh
tế không có một chút nào về sức mạnh thị trường, họ phải bán với giá cả thị trường mà
không được tự ý thay đổi giá, nếu giá chỉ tăng một chút thôi thì cầu đến với sản phẩm đó
sẽ bằng không. Ví dụ như thị trường trứng gà, trứng vịt..........
_ Thị trường cạnh tranh độc quyền: thị trường này bao gồm một số hữu hạn các
chủ thể kinh tế, có thể chi phối cả thị trường (độc quyền theo nhóm). Ví dụ thị truờng dầu
gội đầu, kem đánh răng...
Thị trường cạnh tranh độc quyền này cũng có thể dẫn tới độc quyền tập đoàn(xuất
hiện khi một đơn vị cạnh tranh có khả năng thao túng tất cả các đơn vị khác) có sức mạnh
chi phối toàn bộ cả thị trường.
Thị trường có các chức năng sau:
_ Chức năng thừa nhận: chức năng này đảm bảo cho hàng hoá được thị truờng chấp
nhận. Sản xuất hàng hoá là việc riêng của từng người có tính chất độc lập tương đối với
người sản xuất khác. những vấn đề mấu chốt là hàng hoá của họ có đáp ứng nhu cầu xã hội
về chất lượng, hình thức, qui cách so với thị hiếu người tiêu dùng không? Chi phí để sản
xuất hàng hoá có được xã hội chấp nhận không? Chỉ có trên thị trường và thông qua thị
trường các vấn đề trên mới được khẳng định.
_ Chức năng cung cấp thông tin: chức năng này đảm bảo cho người sản xuất và
người tiêu dùng hiểu rõ những biến động về nhu cầu xã hội: số lượng, giá cả, cơ cấu và xu
hướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hoá, dịch vụ. Giúp người sản xuất điều chỉnh sản
xuất cho phù hợp nhu cầu thị hiếu ... của người tiêu dùng.

_ Phân hoá những người sản xuất hàng hóa: Trên đây là các tác dụng tích cực của
qui luật giá trị, bên cạnh đó tác dụng tiêu cực của qui luật này là phân hoá những người sản
xuất hàng hoá thành giàu, nghèo khác nhau.
Xuất phát từ yêu cầu của qui luật giá trị, một số người sản xuất trong điều kiện thuận
lợi về trình độ, kiến thức, trang bị kỹ thuật, vốn... sẽ phát tài và trở thành giàu có. Ngược
lại, những người không có các điều kiện trên hoặc gặp rủi ro sẽ dẫn tới mất vốn, phá sản.
*Qui luật cạnh tranh:
Cạnh tranh là ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các đơn vị sản xuất với nhau,
giữa người sản xuất với người tiêu dùng hàng hoá, dich vụ nhằm giành giật những điều
kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hoá để thu nhiều lợi ích nhất cho mình.
Trên tinh thần đó, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải sản xuất ra hàng
hoá với chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, giá rẻ hơn các đơn vị sản xuất kinh doanh
khác mới mong chiếm lĩnh được thị trường. Qui luật cạnh tranh buộc các doanh nghiệp khi
bước vào sản xuất kinh doanh phải nghiên cứu thị trường, thị hiếu, sở thích người tiêu
dùng. Do đó cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản
xuất như ở trên đã trình bày mà còn làm cho sản xuất gắn với tiêu dùng, phục vụ nhu cầu
xã hội ngày càng tốt hơn.
*Qui luật cung cầu:
Qui luật này phản ánh mối quan hệ giữa cung cầu trên thị trường:
_ Cầu được hiểu ở đây không phải là nhu cầu bất kỳ mà là nhu cầu có khả năng thanh toán.
Như vậy qui mô của cầu phụ thuộc chủ yếu vào tổng số tiền xã hội dùng để mua tư liệu sản
xuất và tư liệu tiêu dùng, dịch vụ trong từng thời kỳ nhất định.
_ Cung là tổng số hàng hoá có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho thị
trường.
Qui luật cung cầu hoạt động khách quan, độc lập với ý thức con người, biểu hiện sự hoạt
động của nó thông qua sự vận động lên xuống của giá cả xung quanh giá trị trên thị trường.
Giá(P) cung
P
*
E

một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả hoạt động tiêu thụ ở các doanh nghiệp.
_ Số lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất
định: Chỉ tiêu này phản ánh qui mô sản xuất của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng lớn là dấu
hiệu cho ta biết thị phần của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên.
_ Chỉ tiêu về doanh thu:
Doanh thu = sản lượng * giá bán.
DT = Q * P
Doanh thu tiêu thụ = sản lượng tiêu thụ * giá bán.
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hiệu quả trong công tác tiêu thụ sản phẩm, chỉ tiêu này càng
lớn chứng tỏ công tác tiêu thụ sản phẩm có nhiều biến chuyển tốt đẹp, cần giữ vững và
phát huy hơn nữa.
_ Chỉ tiêu về thuế nộp ngân sách nhà nước:
Chỉ tiêu này cho biết, phần thuế tính theo doanh thu phải nộp ngân sách nhà nước.
Cũng tương tự chỉ tiêu doanh thu nó phản ánh kết quả trong công tác tiêu thụ sản phẩm.
1.2.2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều
nhân tố khác nhau. ở đây em xin tổng hợp các nhân tố đó thành hai nhóm cơ bản đó là:
1.2.2.1 Nhóm các nhân tố khách quan.
Nhóm các nhân tố này có thể bao gồm các nhân tố như sau:
- Các chính sách kinh tế của nhà nước, pháp luật và các qui định của nhà nước.Nhân
tố này rất quan trọng khi doanh nghiệp quyết định loại hình kinh donh và sản phẩm của
mình phải căn cứ vào hành lang pháp lý của nhà nước,xem xét loại hàng hoá mà mình định
sản xuất được nhà nước khuyến khích tạo điều kiện hay cấm.
- Thu nhập và thị hiếu người tiêu dùng.
Thu nhập đân cư là một điều kiện quan trọng,nếu thu nhập thấp đời sống khó khăn
thì đừng nói gì đến loại hàng hoá cao cấp họ chỉ quan tâm đến đời sống hằng ngày
thôi.Nhưng khi thu nhập cao thì thị hiếu lại là điều quan trọng,khi đân chúng ưa chuộng
một mẫu sản phẩm nào đó thì dù có đắt họ cũng mua,còn nếu không thì cho không cũng
không đáng giá.

Chất lượng là vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp, cạnh tranh về chất lượng là
một trong những hình thức cạnh tranh “đẹp” vì nó thoả mãn tốt hơn nhu cầu của người
tiêu dùng và xã hội.
Doanh nghiệp muốn nâng cao uy tín, vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường thì
phải nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Giá cả sản phẩm: Giá cả sản phẩm là một thông số phần nào nói lên được chất
lượng sản phẩm, giá cả còn là một vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo qui luật cung
cầu khi giá cả tăng lên thì cầu giảm xuống nhưng đối với một doanh nghiệp thích ứng linh
hoạt với sự thay đổi của thị trường thì không nhất thiết phải như vậy. Với một số mặt hàng
xa xỉ thì khi tăng giá lên thì có thể cầu lại tăng lên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status