LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY TÀI TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM - Pdf 71

LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY TÀI TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM
1.1. GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM, SỰ CẦN THIẾT CỦA CHƯƠNG TRÌNH
CHO VAY TÀI TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM (CVTTGQVL)
1.1.1. Lý luận chung về lao động, việc làm và thất nghiệp
Từ xa xưa, loài người đã tách khỏi thế giới loài vật khi biết tìm lửa để sưởi ấm
và nấu chín thức ăn, biết nuôi trồng để có thức ăn dự trữ,... Và cho tới tận bây giờ
lao động vẫn là ... và nghĩa vụ của mỗi con người ở độ tuổi lao động bởi lao động
giúp con người tồn tại và phát triển.
Lịch sử loài người đã ghi nhận tính xã hội hoá cao của lao động kéo theo đó là
tính xã hội hoá cao của việc làm. Do đó, phải có sự nhận thức đúng đắn về vấn đề
việc làm.
Trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về việc làm.
- Theo tiến sĩ Sonhin và PTS.G.Rin Xốp (người Nga) thì: "Việc làm là sự
tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong
khu vực xã hội hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh
tế phụ của các nông trang viên".
- Hay theo Ghi-Hân-Tô ở Viện phát triển Hải ngoại Luân Đôn định nghĩa:
"Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là
tất cả những gì quan hệ cách kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và
các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế".
Hai quan điểm trên ngoài tính tích cực đã bộc lộ sự bất hợp lý. Quan điểm thứ
nhất công nhận học tập cũng là lao động nhưng những người lao động lại không
tạo ra được thu nhập để nuôi sống được bản thân thì chưa được gọi là lao động.
Còn quan điểm 2 lại làm mọi người lẫn lộn giữa việc làm hợp pháp và không hợp
E
U N N
Dân số trong tuổi lao động qui định
- Chủ động tìm việc- Sẵn sàng tìm việcKhông chủ động tìm việc
Muốn làm việc Không muốn làm việc
Không có việc làmCó việc làm

làm nhưng chưa tìm được việc làm.
Người cần giải quyết việc làm là người có sức lao động, có ... làm việc, có
khả năng lao động nhưng không có việc làm, không có vốn đầu tư để tạo việc làm.
Ta có thể thấy rõ khái niệm thất nghiệp trong sơ đồ các luồng lưu thông của
thị trường lao động sau:
Theo sơ đồ trên thì một người có thể được coi là người có việc, thất nghiệp
hoặc không thuộc lực lượng lao động. Cần phải phân định rõ ranh giới giữa những
khái niệm đó để thực hiện chương trình CVTTGQVL một cách có hiệu quả.
Với mục đích phân tích sâu sắc hơn thực trạng thất nghiệp, từ đó tìm ra
phương hướng giải quyết giảm thất nghiệp, tăng việc làm ta cần hiểu rõ nguồn gốc
của thất nghiệp. Muốn vậy ta nghiên cứu 4 loại thất nghiệp:
+ Thất nghiệm tạm thời: Là loại thất nghiệp nảy sinh khi người lao động luôn
không hài lòng với công việc mình đang làm mà muốn tìm kiếm một công việc
hoặc nơi làm việc khác hơn.
+ Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi cơ cấu sản xuất có sự thay đổi, sự mất cân
đối cung cầu giữa các loại lao động, khả năng điều chỉnh cung của thị trường lao
động không theo kịp nhu cầu. Loại thất nghiệp này trở nên trầm trọng khi nó biến
động mạnh và kéo dài.
+ Thất nghiệp thiếu cầu: (Thất nghiệp kiểu Keynes): Do sự suy giảm của tổng
cầu kéo theo mức cầu chung về lao động giảm xuống, tiền lương và giá cả chưa
điều chỉnh kịp để phục hồi mức hữu nghiệp toàn phần, khoảng cách giữa đường
cầu lao động mới và đường cầu lao động cũ là thất nghiệp thiếu cầu. Nó gắn liền
với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của
loại thất nghiệp này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan khắp mọi nơi, mọi
ngành.
+ Thất nghiệp lý thuyết cổ điển: Loại thất nghiệp này xảy ra khi có sự tác động
của yếu tố ngoài thị trường (ví dụ: ... khoán chi, tinh giảm biên chế), làm cho thị
trường lao động không cân bằng. Khi tiền lương tối thiểu qui định cao hơn mức
cân bằng của thị trường lao động, khoảng cách từ đường cầu lao động tới đường
cung lao động là thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển.

% so với tổng số 49,56 49,59 49,62 49,65 49,69
+ Nữ 20.808 21.413,27 22.036,12 22.677,1 23.332
% so với tổng số 50,44 50,41 50,38 50,35 50,31
- Chia theo thành thị, nông thôn
+ Thành thị 9.282 9.812,93 10.374,24 10.967,65 11.545
% so với tổng số 22,5 23,1 23,74 24,35 25
+ Nông thôn 31.971 32.665,3 33.365,6 34.071,23 34.781,53
% so với tổng số 67,75 76,9 76,28 75,65 75
Từ biểu sau ta có thể rút ra kết luận: Nước ta dân số thuộc loại đông (trên 80
triệu người). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn cao. Mỗi năm gia tăng khoảng 1,4 triệu
người, chủ yếu ở nông thôn. Tính đến năm 2000 có khoảng trên 40 triệu người
trong lực lượng lao động, số lao động mới tăng thêm khoảng trên 4 triệu người do
phần lớn lực lượng lao động ở Việt Nam là lao động trẻ. Mặc dù số lượng lao động
của Việt Nam khá lớn nhưng nguồn lao động này chưa được sử dụng có hiệu quả.
Thất nghiệp ở nước ta nghiêm trọng về mức độ và phức tạp ở biểu hiện. Theo kết
quả điều tra lao động và việc làm cả nước của Bộ Lao động thương binh & xã hội
ngày 1/7/1998, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị trong cả nước có xu hướng
tăng lên qua các năm 1996, 1997 và 1998 (năm 1998 là 6,85% so với 6,01% năm
1997 và 5,88% năm 1996). Trong số 61 tỉnh, thành phố, 4 tỉnh có tỷ lệ thất nghiệp
ở mức báo động trên 8% là Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình và Hà Tây. Tính trong 4
năm (1997-2000) trong cả nước có khoảng 8 triệu người cần GQVL.
Hai là, chất lượng lao động thấp, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý.
Hiện trạng nước ta vẫn tồn tại là thất nghiệp không phải do thiếu công việc
mà là do chất lượng nguồn lao động nước ta quá thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu
của công việc. Vì vậy, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có ý nghĩa vô cùng
quan trọng để GQVL hiện nay.
Về trình độ học vấn: Theo kết quả điều tra của Bộ LĐTB & XH toàn quốc có
khoảng 32,06% lực lượng lao động tốt nghiệp cấp II; 13,4% tốt nghiệp cấp III và
còn 26,7% chưa tốt nghiệp cấp I và chưa biết chữ. Ở nông thôn tỷ lệ trên còn thấp
hơn khoảng 29,2%.

Như vậy, họ sẽ lấy mất phần công việc của những người đang trong lực lượng
lao động. Do vậy, Nhà nước không những tạo cơ hội tìm việc cho người đến tuổi
lao động mà còn phải GQVL cho cả những người ngoài độ tuổi lao động.
Thứ hai: tác động của vấn đề cải cách các doanh nghiệp Nhà nước. Thực hiện
giảm biên chế, tổ chức lại cơ cấu lao động và tiền vốn, thực hiện "khoán chi" làm
tăng thất nghiệp. Năm 1990 toàn quốc có 12.000 DNNN mà đến 1999 còn 5.750
DNNN. Tương ứng số công nhân viên chức giảm xuống còn khoảng 3 triệu người.
Nếu hệ số giảm biên chế là 0,2 (sau khi đã trừ số về hưu trước hạn) thì giai đoạn
2000-2015 cần phải sắp xếp việc làm cho khoảng 60 vạn lao động. Có nghĩa bình
quân mỗi năm phải sắp xếp việc làm cho hơn 4 vạn người của các ngành công hữu
đã giảm. Đây là vấn đề gây sức ép vô cùng lớn đến vấn đề GQVL.
Ngoài ra trong tương lai sự phát triển của khoa học công nghệ sẽ dẫn đến tình
trạng máy móc làm việc thay con người. Lượng lao động thừa ra cũng sẽ gây 1 ảnh
hưởng không nhỏ tới việc GQVL.
Nhân tố không thể thiếu tác động tới lao động và việc làm chính là mặt trái
của cơ chế thị trường. Trong môi trường cạnh tranh sẽ có 2 loại doanh nghiệp: loại
doanh nghiệp không thể đứng vững sẽ bị phá sản, giải thể dẫn tới tình trạng toàn
bộ lao động bị đẩy ra ngoài xã hội trở thành gánh nặng thất nghiệp. Còn loại doanh
nghiệp có thể chiến thắng trong cạnh tranh sẽ tìm mọi cách nâng cao năng suất lao
động bằng cách sàng lọc tinh giảm lao động. Điều đó đồng nghĩa với việc 1 bộ
phận lao động yếu kém và thừa của những doanh nghiệp đó sẽ trở thành thất
nghiệp.
Và nhân tố cuối cùng không thể bỏ qua là sự mai một của các làng nghề
truyền thống và quá trình đô thị hoá tác động không ít tới tình trạng thất nghiệp ở
Việt Nam. Do đó ngoài vụ mùa nông dân vẫn chơi dài và tình trạng thiếu đất trồng
trọt trong khi đời sống vô cùng thiếu thốn. Đây cũng là nguyên nhân có sự di dân
tự do từ nông thôn ra thành thị. Nhà nước cần sớm có biện pháp bảo tồn và khôi
phục những ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống để tạo cho những người thất
nghiệp tạm thời ở nông thôn 1 lối thoát về vấn đề việc làm
* Tác động của thế giới:

doanh giữa vừa và nhỏ phát triển. Thực tế ở các nước chứng minh rằng sản xuất
kinh doanh vừa và nhỏ vừa có khả năng giải quyết việc làm tốt mà không đòi hỏi
lượng vốn đầu tư lớn. Đó là loại hình hoạt động rất đa dạng, linh hoạt thích nghi
cao, con đường phát triển là từ thấp đến cao phù hợp với khả năng tích luỹ và huy
động vốn trong dân. Khi nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, khu vực Nhà
nước đang sắp xếp lại lao động thì ... là loại hình khá hiệu quả để thu hút lao động.
CVTTGQVL theo dự án nhỏ còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Đây là 1 trong
những mục tiêu chiến lược ở công cuộc cải cách và đổi mới của Đảng và Nhà nước
ta.
- Trên giác độ tài chính:
Ý nghĩa to lớn nhất của việc tạo lập quĩ CVTTGQVL là khơi dậy được các
nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, khuyến khích dân tự đầu tư vào sản xuất kinh
doanh và thu hút nước ngoài. Thực tế đã chứng minh nếu ngân sách Nhà nước đầu
tư 1 thì dân đầu tư gấp 2-3 lần.
Hơn nữa, trên giác độ quản lý tiền tệ, nhờ có dự án nhỏ mà đã thúc đẩy tiền
nhàn rỗi trong dân đang nằm dưới dạng cất trữ chuyển thành tiền trong lưu thông,
đầu tư vào sản xuất làm cho công tác quản lý tiền tệ của Nhà nước được tốt hơn.
- Xét trên giác độ bồi dưỡng và phát triển nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
thì CVTTGQVL là 1 phương pháp khá tốt vì nó khai thác được tiềm năng sẵn có từ
mỗi địa phương vì có dự án được thẩm định chắc chắn. Mặt khác ngân sách Nhà
nước có hạn nên cho vay có hoàn trả là phương pháp tốt hơn là cấp phát không
hoàn trả.
Tóm lại, xét trên mọi giác độ thì CVTTGQVL là hết sức quan trọng, cần thiết
và cấp thiết trong sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
1.2. QUĨ QUỐC GIA HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ QUĨ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM ĐỊA PHƯƠNG
1.2.1. Chủ trương, phương hướng, biện pháp của chương trình CVGQVL
Chương trình CVQGVL là 1 chương trình lớn và lâu dài của đất nước ta nó
thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc tạo điều kiện về vốn để

Thêm nữa phải duy trì đảm bảo việc làm cho người lao động, chống sa thải
công nhân hàng loạt. Từng bước xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp.
Phương hướng cuối cùng là tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để
GQVL cho người thấp nghiệp, người thiếu việc làm và những đối tượng yếu thế
trong thị trường lao động.
3. Biện pháp: Để thực hiện chủ trương và phương hướng trên, Đảng và Nhà
nước đã xác định biện pháp cho quá trình GQVL như sau:
- Lập quĩ quốc gia về GQVL từ các nguồn: trích một tỷ lệ nhất định trong
ngân sách Nhà nước; 1 phần từ nguồn thu do đưa lao động đi làm việc ở nước
ngoài, từ sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế hoặc Chính phủ cho GQVL.
Quĩ sẽ có được sử dụng để: cho vay với lãi suất nâng đỡ hoặc bảo tồn giá trị
cho vay đối với hộ tư nhân, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp tạo được chỗ làm
việc mới hoặc thu hút thêm lao động, trợ giúp cho các chương trình, dự án tạo việc
làm; các trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm, trung tâm áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ sử dụng nhiều lao động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status